Xem Nhiều 1/2023 #️ Kinh Nghiệm Dạy Học Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3 # Top 6 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 1/2023 # Kinh Nghiệm Dạy Học Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3 # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kinh Nghiệm Dạy Học Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3 mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

A. đặt vấn đề

I. Lời mở đầu:

Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới đó, đòi hỏi phải có những lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm… Từ nhu cầu này mà mục tiêu giáo dục cũng đã được điều chỉnh, đó là: giáo dục nhằm đào tạo ra những con người phát triển toàn diện. Từ đó dẫn đến việc đổi mới về nội dung phương pháp dạy học là tất yếu.Trong hệ thống giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn hệ thống giáo dục quốc dân.Chất lương giáo dục là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục, vì vậy việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học là một vấn đề quan trọng mang tính quyết định đối với chất lượng dạy và học.Trong thực tế, những năm gần đây dạy toán trong nhà trường tiểu học đã có những bước cố gắng cải tiến, phương pháp, nội dung và hình thức nhằm nâng cao chất lượng môn học. Việc đưa ra các phương pháp dạng giải toán có văn, các bài toán điểm hình… được đặc biệt quan tâm, nhất là ở lớp 1, 2 và lớp 3 chương trình mới.Chúng ta đều biết giải toán có văn là một trong những mạch kiến thức cơ bản trong môn toán ở tiểu học. Nó có vai trò rất lớn đối với học sinh. Giải toán có văn không chỉ giúp học sinh có điều kiện thâm nhập vào cuộc sống thực tế mà còn giup học sinh thực hành vận dụng các kiến thức đã học, rèn luyện khả năng diễn đạt ngôn ngữ (thông qua việc trình bày lời giải một cách rõ ràng, chính xác và khoa học). Thông qua giải các bài toán có lời văn học sinh được giáo dục nhiều mặt trong đó có ý thức đạo đức xã hội.Xuất phát từ những lý do trên nên qua thực tiễn, tôi thấy việc đổi mới phương pháp dạy học môn toán, đặc biệt là dạng giải toán có lời văn là một vấn đề quan trọng. Bản thân tôi là một giáo viên tiểu học, tôi nhận thấy muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và dạy tốt chương trình môn toán lớp 3 (chương trình phải năng động, sáng tạo để vận dụng linh hoạt những hình thức tổ chức dạy sao cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Chính vì vậy tôi chọn đề tài:p dụng phương pháp tích cực để giải toán đơn có lời văn cho học sinh lớp 3″ với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học góp phần nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học hiện nay.

II. Thực trạng dạy toán ở lớp 3 hiện nay1) Phương pháp dạy học của giáo viên:Qua thời gian công tác giảng dạy,

Kinh Nghiệm Dạy Học Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 1 Và Lớp 2

Dạy học giải toán có lời văn có vai trò rất quan trọng trong dạy học môn toán ở tiểu học. Qua giải toán có lời văn giúp học sinh luyện tập, củng cố vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học. Tập dượt vận dụng kiến thức, và kĩ năng thực hành vào thực tiễn.Phát triển năng lực tư duy: rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận,khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán tìm tòi.Qua giải toán học sinh rèn luyện những đức tính và phong cách làm việc của người lao động mới như: ý chí khắc phục khó khăn, thói quen xét đoán có căn cứ, tính cẩn thận, cụ thể chu đáo, làm việc có kế hoạch và khả năng suy nghĩ độc lập, linh hoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy móc ,rập khuôn, xây dựng lòng ham thích tìm tòi sáng tạo ở nhiều mức độ khác nhau.

Trong dạy học giải toán ở tiểu học, các yêu cầu cơ bản được sắp xếp có chủ định trong từng lớp, tạo thành một hệ thống các yêu cầu từ thấp đến cao, từ lớp 1 đến lớp 5 trong sự kết hợp chặt chẽ với lí thuyết trong chương trình và SGK. Việc giải các bài toán đơn thực chất là giải hệ thống các bài toán hợp. Vì vậy việc dạy kĩ các bài toán đơn ở lớp 1, lớp 2 là một công việc chuẩn bị tốt cho việc giải các bài toán hợp ở các lớp 3,4,5.

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Kinh nghiệm Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 và lớp 2 đặng thị Hà -Phó hiệu trưởng Trường tiểu học xuân tân a Kinh nghiệm dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 và lớp 2 Phần i: Đặt vấn đề Dạy học giải toán có lời văn có vai trò rất quan trọng trong dạy học môn toán ở tiểu học. Qua giải toán có lời văn giúp học sinh luyện tập, củng cố vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học. Tập dượt vận dụng kiến thức, và kĩ năng thực hành vào thực tiễn.Phát triển năng lực tư duy: rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận,khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán tìm tòi.Qua giải toán học sinh rèn luyện những đức tính và phong cách làm việc của người lao động mới như: ý chí khắc phục khó khăn, thói quen xét đoán có căn cứ, tính cẩn thận, cụ thể chu đáo, làm việc có kế hoạch và khả năng suy nghĩ độc lập, linh hoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy móc ,rập khuôn, xây dựng lòng ham thích tìm tòi sáng tạo ở nhiều mức độ khác nhau. Trong dạy học giải toán ở tiểu học, các yêu cầu cơ bản được sắp xếp có chủ định trong từng lớp, tạo thành một hệ thống các yêu cầu từ thấp đến cao, từ lớp 1 đến lớp 5 trong sự kết hợp chặt chẽ với lí thuyết trong chương trình và SGK. Việc giải các bài toán đơn thực chất là giải hệ thống các bài toán hợp. Vì vậy việc dạy kĩ các bài toán đơn ở lớp 1, lớp 2 là một công việc chuẩn bị tốt cho việc giải các bài toán hợp ở các lớp 3,4,5. Trong quá trình giảng dạy và chỉ đạo dạy học toán có lời văn lớp 1 lớp 2 chúng tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm để dạy tốt nội dung này . Tôi xin được trao đổi những kinh nghiệm này với các bạn đồng nghiệp. phần II: Kinh nghiệm dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 và lớp 2 I. dạy học giải toán có lời văn lớp 1 1.Dạy các bài trong giai đoạn 1:Chuẩn bị về bài toán có lời văn và giải bài toán có lời văn. 1.1.Mức độ 1:Làm quen với bài toán qua hình vẽ. Tổng số bài tập là 31 bài với 51 tình huống. Khi hướng dẫn học sinh làm các bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh theo các bước sau: - Quan sát tranh. - Phân tích nội dung tranh. - Nêu "tình huống". - Chọn phép tính thích hợp. - Viết phép tính vào 5 ô vuông Ví dụ: Bài 3 ( trang 51) - Quan sát tranh: GV: Các em hãy quan sát bức tranh. HS: quan sát tranh - Phân tích nội dung tranh: GV:Trên cành có mấy con chim? HS: Trên cành có 3 con chim GV: Có mấy con chim bay đến? HS: Có 1 con chim bay đến. GV: Có tất cả bao nhiêu con chim? HS: Có tất cả 4 con chim. - Nêu " tình huống": GV:Các em hãy nêu "tình huống"? HS: Trên cành có 3 con chim, có 1 con chim bay đến. Có tất cả 4 con chim. - Chọn phép tính thích hợp: GV: Em hãy chọn phép tính thích hợp. HS: 3 + 1 = 4 - Viết phép tính vào 5 ô vuông. GV: Các em hãy viết phép tính vào 5 ô vuông. HS: Viết phép tính vào 5 ô vuông. Khi học sinh đã quen với dạng bài tập này thì giảm dần sự can thiệp của giáo viên trong quá trình làm bài của học sinh. Cần lưu ý bước nêu bài toán nên tạo điều kiện cho nhiều học sinh được trình bày.Bước điền kết quả vào 5 ô vuông cần được hướng dẫn tỉ mỉ ngay từ những bài đầu . Với yêu cầu tăng dần ở những bài học sau và để bồi dưỡng những học sinh giỏi toán có thể yêu cầu học sinh có nhiều cách nêu bài toán từ một hình vẽ. Ví dụ: Bài tập 4, trang 59 (phần b), Có thể diễn đạt theo các cách: Có 1 bức tranh đã tô màu, 4 bức tranh chưa tô màu. Tất cả có 5 bức tranh: 1 + 4 = 5 Có 4 bức tranh chưa tô màu, 1 bức tranh đã tô màu. Tất cả có 5 bức tranh: 4 + 1 = 5 Có 5 bức tranh, 1 bức tranh đã tô màu. Còn 4 bức tranh chưa tô màu: 5 -1 = 4 Có 5 bức tranh, 4 bức tranh chưa tô màu. Đã tô màu 1 bức tranh : 5 - 4 = 1 ở đây nội dung kiến thức không tăng, nhưng yêu cầu cao hơn khi học sinh đã quen dần với giải toán. Đối với loại bài tập này, học sinh ít nhất phải viết được phép tính đầu tiên, với các phép tính sau GV yêu cầu phù hợp với mỗi đối tượng học sinh trong lớp. Giáo viên có thể động viên các em tập diễn đạt và trình bày miệng, ghi đúng phép tính . Tư duy toán học được hình thành trên cơ sở tư duy ngôn ngữ của học sinh. Khi dạy bài này cần hướng dẫn học sinh diễn đạt, trình bày; động viên các em viết được nhiều phép tính, để tăng cường khả năng diễn đạt của học sinh. 1.2.Mức độ 2:Làm quen với bài toán qua tóm tắt bằng lời. Tổng số bài tập 7 bài tập với 10 tóm tắt. Học sinh đã làm quen với bài toán qua tóm tắt bằng lời, để từng bước làm qen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần thoát li khỏi những hình ảnh trực quan, từng bước tiếp cận với đề toán. Khi hướng dẫn học sinh làm các bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh theo các bước sau: - Đọc hiểu tóm tắt. - Nêu đề bài. - Chọn phép tính thích hợp. - Trình bày lời giải. - Viết phép tính vào 5 ô vuông. Ví dụ: Bài 3 phần b ( trang 90) Có : 7 lá cờ Bớt đi: 2 lá cờ Còn : ... lá cờ? Giáo viên hướng dẫn giải như sau: - Đọc hiểu tóm tắt. GV: Các em hãy đọc tóm tắt. HS: Đọc hiểu tóm tắt ( đọc thầm) -Nêu đề bài toán: GV: Dựa vào tóm tắt em hãy nêu đề bài toán? HS: Có 7 lá cờ, bớt đi 2 lá cờ .Hỏi còn lại bao nhiêu lá cờ. - Chọn phép tính thích hợp. GV: Muốn biết còn lại bao nhiêu lá cờ em làm phép tính gì? HS: Phép tính trừ: 7 -2 = 5 - Nêu bài giải: GV: Vậy còn lại bao nhiêu lá cờ? HS: Số lá cờ còn lại là: 7 - 2 = 5 lá cờ - Viết phép tính vào 5 ô vuông. GV: Các em hãy viết phép tính vào 5 ô vuông. HS: Viết phép tính vào 5 ô vuông. Cũng như khi dạy các bài ở mức độ 1khi dạy các bài ở mức độ 2 cần: +Tạo điều kiện cho nhiều học sinh được trình bày đề bài và bài giải. +Với yêu cầu tăng dần ở những bài học sau và để bồi dưỡng những học sinh giỏi toán có thể yêu cầu học sinh có nhiều cách nêu bài toán từ một tóm tắt. 2.Giai đoạn 2:Chính thức học giải bài toán có lời văn. Tổng số 37 bài tập Nội dung này bắt đầu học từ học kì II của lớp 1, học sinh được biết thế nào là một bài toán có lời văn( cấu tạo bài toán gồm hai phần: giả thiết bài toán cho gì? và kết luận bài toán hỏi gì?) Từ đó, học sinh biết cách giải và trình bày bài giải bài toán ( Gồm có: Câu lời giải, phép tính giải, và đáp số) Hs biết cách giải bài toán đơn về "thêm", "bớt" một số đơn vị. Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi học sinh đã thành thạo giải bài toán có lời văn bằng phép tính cộng. Vì vậy khi dạy giáo viên chỉ hướng dẫn cách làm tương tự, thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán. Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 chủ yếu là dạy phương pháp giải toán. Để giúp các em biết cách giải toán, tôi giúp học sinh cần phải nắm được 2 vấn đề then chốt : + Làm cho các em nắm được các bước cần thiết của quá trình giải toán và rèn kỹ năng thực hiện các bước đó 1 cách thành thạo . + Làm cho các em nắm được và có kỹ năng vận dụng các phương pháp chung cũng như các cách giải thích hợp với từng dạng toán. Để giải một bài toán có văn tôi hướng dẫn các em thực hiện theo 4 bước: 1.Bước 1 : Tìm hiểu kĩ bài toán. Mỗi bài toán gồm hai phần: giả thiết bài toán cho gì? và kết luận bài toán hỏi gì?. Hiểu rõ đầu bài là chỉ ra và phân biệt được rành mạch 2 phần từng bước thấy được chức năng của từng phần. Vì vậy để kiểm tra việc đọc và hiểu đầu bài toán trong từng bài cụ thể, đầu tiên tôi yêu cầu các em nhắc lại nội dung ban đầu bài ( không đọc thuộc lòng) bằng lời của mình .Sau đó tôi đặt câu hỏi để học khai thác nội dung bài toán:bài toán cho gì? yêu cầu tìm gì? rồi yêu cầu học sinh gạch chân những nội dung quan trọng: Ví dụ : Bài 3 ( trang 131): An có 30 cái kẹo, chị cho thêm An 10 cái nữa. Hỏi An có tất cả bao nhiêu cái kẹo? Đến đây học sinh đã hiểu được: Cái đã biết : - Có 30 cái kẹo - Thêm 10 cái Cái phải tìm : Có tất cả......cái kẹo? 2.Bước 2: Tóm tắt bài toán: Chú ý rằng tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán , nhưng phần tóm tắt cần được luyện kĩ để học sinh nắm được dữ kiện của bài toán đầy đủ , chính xác ( cái đã biết, cái phải tìm ). Nhiều học sinh không xác định được những từ ngữ trọng tâm, nên khi tóm tắt gần như viết lại đầu bài. Vì vậy, việc xác định những từ ngữ trọng tâm trong bước tìm hiểu đầu bài rất quan trọng, giúp các em có được tóm tắt ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu. Ví dụ : Bài 3 ( trang 131): An có 30 cái kẹo, chị cho thêm An 10 cái nữa. Hỏi An có tất cả bao nhiêu cái kẹo? Tóm tắt Có : 30 cái kẹo Thêm : 10 cái Có tất cả......cái kẹo? 3.Bước 3: Lập kế hoạch giải và trình bày bài giải. 3.1.Chọn phép tính giải: Để chọn đúng phép tính giải trong quá trình tìm hiểu đầu bài,tóm tắt tôi giúp các em tìm ra và ghi nhớ các từ " chìa khoá" trong từng dạng toán đó, bài toán đó.Từ "chìa khóa" trong các dạng toán,bài toán có lời văn ở lớp 1 đó là: "thêm"; "bớt"; "có tất cả"; "cả hai"; "bán"; "mua" "bay đi" ;"bay đến" ; Trên cơ sở các từ "chìa khóa" các em sẽ chọn được phép tính thích hợp. Ví dụ : Bài 3 ( trang 131): An có 30 cái kẹo, chị cho thêm An 10 cái nữa. Hỏi An có tất cả bao nhiêu cái kẹo? Tóm tắt Có : 30 cái kẹo Thêm : 10 cái Có tất cả......cái kẹo? Có 30 cái kẹo "thêm" 10 cái nghĩa là cộng vào.( Từ "chìa khóa"là "thêm" ) 3.2. Chọn câu lời giải Đây là thao tác gắn kết phép tính và lời văn một thao tác quan trọng đối với giải toán có lời văn, cũng như sự phát triển tư duy của các em. Đôí với các học sinh khi đã hiểu được mục đích ý nghĩa của phép tính giải thì việc lựa chọn câu lời giải khá dễ dàng.Nhưng bên cạnh đó vẫn còn có học sinh lúng túng trong việc lựa chọn câu lời giải,với những học sinh này lí do vì các em chưa hiểu mục đích ý nghĩa của phép tính, tôi giúp các em hiểu rõ vấn đề này bằng cách hỏi các em: "Phép tính em vừa làm là để tìm gì?" hoặc đề nghị các em nhắc lại yêu cầu của bài tập (nhắc lại câu hỏi). Lưu ý: Giáo viên không áp đặt cho tất cả các học sinh phải nêu câu lời giải như nhau, giáo viên kiên trì nghe học sinh trình bày câu lời giải theo ý mình. Ví dụ: Bài 3 ( trang 131): An có 30 cái kẹo, chị cho thêm An 10 cái nữa. Hỏi An có tất cả bao nhiêu cái kẹo? Câu lời giải có thể là: "Có tất cả" ; "Số kẹo của An có tất cả là"; " Tất cả số kẹo của An là" 3.3.Trình bày bài giải. Trước khi học sinh trình bày bài giải tôi yêu cầu học sinh nhắc lại trình tự bài giải, đó là: + Câu lời giải + Phép tính + Đáp số Lưu ý: Quy ước viết đơn vị của phép tính trong bài giải học sinh cần phải nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải. Tên đơn vị của phép tính cho vào trong ngoặc đơn, tên đơn vị của đáp số thì không có ngoặc đơn. 4.Bước 4: Kiểm tra bài giải và đánh giá cách giải : Việc kiểm tra bài giải và cách giải là yêu cầu không thể thiếu được khi giải bài toán. Vì qua quan sát hầu như các em thường coi rằng bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số. Vì vậy khi giải xong các bài toán trên tôi đều hướng dẫn các em cách kiểm tra kết quả bài giải của mình. - Đọc lại lời giải - Kiểm tra phép tính và từ "chìa khóa". - Kiểm tra câu lời giải và phép tính. *ở lớp 1, học sinh chỉ giải các bài toán về thêm, bớt với một phép tính cộng hoặc trừ, mọi học sinh bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hưỡng dẫn cụ thể theo các bước trên. Để học sinh hiểu vấn đề sâu sắc hơn, chắc chắn hơn, tư duy và ngôn ngữ của học sinh phát triển hơn, giáo viên cho học sinh tập ra đề toán phù hợp với một phép tính để các em tập tư duy ngược, tập phát triển ngôn ngữ, tập ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn. Ví dụ với phép tính 8 -3 = 5. Có thể có các bài toán sau. Bài toán 1: Nam có 8 cái kẹo, nam cho bạn 3 cái .Hỏi nam còn mấy cái kẹo? Bài toán 2: Một sợi dây dài 8cm, đã cắt đi 3cm. Hỏi sợi dây còn lại dài bao nhiêu xăng-ti-met? Bài toán 3: Nhà Nam có 8 con gà, mẹ Nam bán đi 3 con. Hỏi nhà Nam còn mấy con gà? Bài toán 4: Đàn vịt có 8 con, 3 con ở dưới ao.Hỏi trên bờ có mấy con vịt? Phát triển các bài toán cơ bản thành các bài toán nâng cao để dạy cho học sinh. Ví dụ : Từ bài toán cơ bản An có 30 cái kẹo, chị cho thêm An 10 cái nữa. Hỏi An có tất cả bao nhiêu cái kẹo. Phát triển các bài toán cơ bản thành các bài toán nâng cao như sau: Bài toán 1: An có một số kẹo, An cho chị 10 cái, An còn 20 cái. Hỏi lúc đầu An có bao nhiêu cái kẹo. Bài toán 1: Nếu chị cho An 10 cái kẹo nữa thì An có tất cả 40 cái kẹo.Hỏi lúc đầu An có bao nhiêu cái kẹo. Qua ví dụ trên ta thấy từ một bài toán cơ bản ta chỉ cần thay đổi một số từ ngữ, số liệu thì mối quan hệ giữa "cái đã cho" và "cái phải tìm" đã thay đổi. Vì thế cách giải cũng sẽ khác đi. HS khá, giỏi được làm những bài tập như vậy trong một tiết học thì chắc chắn sẽ rất hứng thú và say mê.Từ đó giúp học sinh khắc sâu được kiến thức cơ bản của bài toán và rèn luyện được kĩ năng phân tích nhận dạng vấn đề cho HS khi gặp sự lắt léo khác nhau trong các bài toán. II. Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 2 Nội dung dạy học giải toán có lời văn lớp 2 gồm: Rèn phương pháp giải bài toán và khả năng diễn đạt ( phân tích đề bài, giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề bằng nói và viết). Toán 2 không dạy bài toán khó mang tính đánh đố học sinh, nhưng nội dung các bài toán phong phú, gần gũi với thực tiên xung quanh các em, bài toán thường đặt ra dưới dạng giải quyết một tình huống có trong thực tiễn. Dạy trình bày bài giải của bài toán có lời văn gồm câu lời giải kèm theo phép tính trung gian và đáp số. Như vậy khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 2 giống với cách hướng dẫn giải toán có lời văn ở lớp 1. Một số điều cần lưu ý khi dạy học giải toán có lời văn ở lớp 2. Giáo viên tiếp tục quan tâm tới việc hướng dẫn học sinh phương pháp giải toán và tạo điều kiện nhiều hơn để học sinh trình bày ý kiến của mình. Học lên lớp 2 học sinh có kĩ năng giải các bài toán có lời văn, vốn sống vốn kinh nghiệm của học sinh cũng nhiều hơn vì vậy khi hướng dẫn học sinh, cần tạo điều kiện cho các em phát huy, rèn luyện những khả năng đó. Giúp học sinh nhận ra những dấu hiệu của từng dạng toán. Ví dụ. Dạng toán "nhiều hơn" dấu hiệu để nhận ra đó là các từ " chìa khóa" như : "hơn"; "cao hơn"; "dài hơn"; "nặng hơn"... Dạng toán " ít hơn" dấu hiệu để nhận ra đó là các từ " chìa khóa" như : "ít hơn"; "thấp hơn"; "kém "; "nhẹ hơn"... Học sinh phải hiểu bản chất của phép nhân phép chia ,để vận dụng vào giải toán. Dạy tốt cách tính chu vi hình tam giác, chu vi hình tứ giác để học sinh vận dụng trong các bài toán có nội dung hình học. Củng cố, khắc sâu kiến thức về giải toán cho học sinh, tránh hiện tượng học sinh làm bài một cách máy móc theo mẫu (thấy "nhiều hơn" thì làm phép cộng, "ít hơn" thì làm phép trừ...), giáo viên yêu cầu học sinh tự ra đề toán từ một phép tính và giáo viên phát triển các bài toán cơ bản thành các bài toán nâng cao. Ví dụ: *Tự ra đề toán từ phép tính: 17 + 5 Bài toán 1: Hoa có 17 nhãn vở, Lan có nhiều hơn Hoa 5 nhãn vở. Hởi Lan có bao nhiêu nhãn vở? Bài toán 2: Sợi dây thứ nhất dài 17cm, sợi dây thứ hai dài hơn sợi dây thứ nhất 5cm. Hỏi sợi dây thứ hai dài bao nhiêu xăng-ti-met? *Phát triển các bài toán cơ bản thành các bài toán nâng cao. Từ hai bài toán trên có thể phát triển thành các bài toán nâng cao như sau: Bài toán 1: Hoa có một số nhãn vở. Nếu Hoa cho lan 5 nhãn vở , thì Hoa còn lại 17 nhãn vở. Hỏi Hoa có bao nhiêu nhãn vở? Bài toán 2: Hoa có 17 nhãn vở, Hoa có ít hơn Lan 5 nhãn vở. Hỏi lan có bao nhiêu nhãn vở? Phần III: Kết luận Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1, lớp 2 chủ yếu là dạy phương pháp giải. Vì vậy trong quá trình dạy học giải toán có lời văn, giáo viên phải quan tâm hướng dẫn học sinh một cách tỉ mỉ, cẩn thận các bước cần thiết của quá trình giải bài toán để học sinh nắm chắc các bước của quá trình giải và rèn kỹ năng thực hiện các bước đó 1 cách thành thạo . Tạo điều kiện để học sinh trình bày ý kiến của mình trong từng bước giải. Khuyến khích học sinh tự đặt đề toán từ một phép tính để các em tập tư duy ngược, tập phát triển ngôn ngữ, tập ứng dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn. Đưa thêm các bài toán có lời văn nâng cao phát triển từ những bài toán cơ bản cho học sinh khá giỏi làm để khắc sâu kiến thức cơ bản của bài toán và rèn luyện được kĩ năng phân tích nhận dạng vấn đề cho HS khi gặp sự lắt léo khác nhau trong các bài toán. Xuân Tân , ngày 10 tháng 5 năm 2010 Người viết Đặng Thị Hà

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 1

*Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán.

-Giáo viên cho học sinh xem tranh ( nếu có ) rồi đọc bài toán và trả lời câu hỏi của bài toán.

*Hướng dẫn học sinh tìm lời giải của bài toán.

* Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải.

-Viết câu lời giải. ( Dựa vào câu hỏi của bài toán)

-Viết phép tính. (Tên đơn vị viết vào dấu ngoặc đơn)

*Hướng dẫn học sinh kiểm tra kết quả của bài toán qua tranh vẽ, hoặc mẫu vật thật. Liên hệ với thực tế cuộc sống. Sau đó viết phép tính và kết quả đúng.

Giáo viên chỉ vào từng phần của bài giải nhấn mạnh các bước khi giải bài toán:

PHÒNG GD&ĐT TÂN HỒNG TRƯỜNG TH NGUYỄN HUỆ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 1 Phần I Khái quát về bản thân 1- Họ tên : Nguyễn Thị Lý , năm sinh : 1970 ,Giới tính : Nữ 2- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Nguyễn Huệ, huyện Tân Hồng. 3. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: ĐHGDTH 4- Chức vụ: giáo viên 5. Nhiệm vụ được giao: dạy lớp Phần II Nội dung sáng kiến, giải pháp 1. Thực trạng tình hình tập thể, cá nhân trước khi đăng ký sáng kiến, giải pháp. 1.1. Thực trạng tình hình đơn vị Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp 1. HS rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 25% số HS biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi Cô hỏi lại lại không biết để trả lời . Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. GV phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này. 1.2. Thực trạng của bản thân Đầu năm học 2015 - 2016 Tôi được BGH phân công tôi dạy lớp 1A2 có tổng số 30 học sinh. Trong đó có 18 học sinh nữ và 14 hs nam . Gia đình các em đều làm nghề nông nghiệp , sự quan tâm kèm cặp còn hạn chế. Nhiều em hoàn cảnh gia đình khó khăn, một số em bố mẹ đi làm ăn xa phải ở với ông bà nên việc học tập của các em thực sự chưa được quan tâm. Tuy điều kiện như vậy song bản thân Cô giáo chủ nhiệm cùng tập thể lớp 1A2 luôn nỗ lực rèn luyện và phấn đấu đạt nhiều thành tích trong các phong trào thi đua của nhà trường. Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa đối chiếu với việc giảng dạy ở trên lớp, kết hợp trao đổi với đồng nghiệp lâu năm chúng tôi rút ra nhận định chung như sau: Với dạng toán: "Giải toán có lời văn lớp1" khi dạy giáo viên và học sinh còn có một số tồn tại : Giáo viên chưa yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán, xem bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì? Học sinh còn hổng kiến thức, giải toán có lời văn còn lơ mơ . Học sinh chưa biết điền phần bài toán cho biết vào tóm tắt của bài toán. Đặc biệt nhiều em chưa biết viết câu lời giải khi giải bài toán. Trước thực trạng đó, tôi tiến hành khảo sát môn toán dạng bài : "Giải toán có lời văn lớp1" LỚP 1A2 SĨ SỐ HS HOÀN THÀNH CHƯA HOÀN THÀNH 32 14 18 2. Nội dung sáng kiến và giải pháp thực hiện - Đối với học sinh lớp 1 việc giải toán gồm; - Giới thiệu bài toán đơn - Giải bài toán đơn về phép cộng, phép trừ.Chủ yếu là bài toán thêm, bớt một số đơn vị. - Mới làm quen với môn toán, với các phép tính cộng, trừ lại tiếp xúc với việc giải toán có lời văn, không khỏi có những bỡ ngỡ với học sinh. - Để giúp học sinh dần dần phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới giúp học sinh yêu thích say mê giải toán. Chúng tôi đã lựa chọn được một số biện pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh. Điều chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện bài toán mà thiết lập các phép tính số học tương ứng, phù hợp. Để tiến hành được điều đó việc dạy toán diễn ra theo 3 mức độ: -Mức độ thứ nhất : Hoạt động chuẩn bị của giáo viên. -Mức độ thứ hai : Hoạt động làm quen với việc giải toán. -Mức độ ba : Hoạt động hình thành kĩ năng giải toán. Để học sinh nắm vững được các bước của quá trình giải toán. chúng tôi đã tiến hành như sau : *Hoạt động của giáo viên. Trước mỗi giờ toán, chúng tôi thường nghiên cứu kĩ bài dạy. Tìm xem đồ dùng nào phù hợp với bài dạy như : Nhóm đồ vật, mẫu hình, tranh vẽ. Mỗi học sinh có một bộ đồ dùng học toán theo yêu cầu của giáo viên, học sinh được rèn luyện các thao tác trên các nhóm đồ vật hoặc mẫu hình *Hoạt động làm quen với việc giải toán tiến hành theo 4 bước. *Tìm hiểu nội dung bài toán. - Bàì toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? - Thực hiện các bước giải bài toán. - Kiểm tra cách giải bài toán. *Tìm hiểu nội dung bài toán: *Tìm tòi cách giải toán: Hoạt động tìm tòi cách giải bài toán gắn liền với việc phân tích các giữ liệu, điều kiện và câu hỏi của bài toán, nhằm xác định mối quan hệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp. A. Bài toán đơn "về thêm" *Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán. -Giáo viên cho học sinh xem tranh ( nếu có ) rồi đọc bài toán và trả lời câu hỏi của bài toán. *Hướng dẫn học sinh tìm lời giải của bài toán. * Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải.. -Viết câu lời giải. ( Dựa vào câu hỏi của bài toán) -Viết phép tính. (Tên đơn vị viết vào dấu ngoặc đơn) - Viết đáp số. *Hướng dẫn học sinh kiểm tra kết quả của bài toán qua tranh vẽ, hoặc mẫu vật thật. Liên hệ với thực tế cuộc sống. Sau đó viết phép tính và kết quả đúng. Giáo viên chỉ vào từng phần của bài giải nhấn mạnh các bước khi giải bài toán: -Khi giải bài toán tiến hành theo 3 bước ; Bước 1: Viết câu lời giải ( dựa vào câu hỏi của bài toán. ) Bước 2: Viết phép tính. (Tên đơn vị cho vào dấu ngoặc đơn ) Bước 3: Viết đáp số. Giáo viên cho vài học sinh nhắc lại để khắc sâu nội dung bài.Giáo viên nhấn mạnh: Đây là bài toán thuộc dạng toán đơn về " thêm" ta thực hiện bằng phép tính cộng. Bài toán đơn "Về bớt" Bài toán mẫu. Lan gấp được 14 cái thuyền, Lan cho bạn 4 cái thuyền . Hỏi Lan còn lại mấy bao nhiêu cái thuyền ? Tóm tắt : Có ......... cái thuyên Bài giải Cho bạn : ...............cái thuyền Còn lại : ..................Cái thuyền ? ............................................. ............................................ ............................................ Các bước tiến hành tương tự như bài toán đơn về thêm. Các em đã nắm được các bước giải bài toán . Học sinh khá giỏi đã giải được thành thạo bài toán đơn về thêm. Vì vậy khi giải bài toán đơn "về bớt" giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán, hiểu nội dung bài toán và nắm được các bước giải của bài toán. * Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán . - Giáo viên cho học sinh xem tranh ( nếu có) rồi đọc bài toán và trả lời câu hỏi của bài toán: *Hướng dẫn học sinh tìm cách giải của bài toán. * Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải: Khuyến khích học sinh tìm nhiều câu lời giải khác nhau. Lựa chọn câu lời giải phù hợp nhất. - Viết câu lời giải. ( Dựa vào câu hỏi của bài toán) - Viết phép tính. (Tên đơn vị viết vào dấu ngoặc đơn) - Viết đáp số. *Hướng dẫn học sinh kiểm tra kết quả của bài toán qua tranh vẽ, hoặc mẫu vật thật. Sau đó viết phép tính và kết quả đúng. Ví dụ : Bài toán "về bớt" Cho biết tất cả Bớt đi một phần thường dùng các từ : cho đi, bán đi, bay đi, cắt đi, trong đó có, đã tô màu... Để tìm phần còn lại: lấy số tất cả trừ đi số bớt đi *Hướng dẫn học sinh kiểm tra kết quả của bài toán; Giáo viên cho học sinh quan sát tranh vẽ (hoặc vật thật) nếu có để kiểm tra kết quả. Việc kiểm tra này nhằm xem cách giải đúng hay sai chỗ nào để sửa chữa, sau đó ghi cách giải đúng, ghi đáp số. -Cuối cùng giáo viên phải yêu cầu học sinh nêu được : Khi giải bài toán tiến hành theo 3 bước ; Bước 1 : Viết câu lời giải ( Dựa vào câu hỏi của bài toán. ) Bước 2 : Viết phép tính. (Tên đơn vị cho vào dấu ngoặc đơn ) Bước 3 : Viết đáp số. Giáo viên cho vài học sinh nhắc lại nhằm khắc sâu nội dung bài. Để học sinh nắm chắc các bước giải của bài toán và giải thành thạo dạng toán này, giáo viên cho học sinh thực hành một số bài luyện tập để củng cố. -Học sinh biết giải bài toán theo các bước và trình bày bài giải có khoa học. Phần III Khả năng, phạm vi áp dụng và lợi ích, hiệu quả 1.. Khả năng và phạm vi áp dụng sáng kiến, giải pháp: -Tôi đã áp dụng dạy cho lớp mình đạt hiệu quả cao, và tiết tiết hội giảng chuyên đề về chuyện môn cho dồng nghiệm dự dánh giá góp ý đạt cao . Nên tôi nhân rộng mô hình này ra toàn khối lớp một ở trường TH Nguyễn Huệ. -Mong được các bạn đồng nghiệp tham khảo thực hiện . 2.Hiệu quả đề tài: Những lợi ích, hiệu quả mang lại khi triển khai áp dụng sáng kiến, giải pháp mới: *Khảo sát cuối học kì 2 năm học 2015- 2016 lớp 1A2: kết quả đạt được như sau : Lớp Sĩ Số Hoàn thành Chưa hoàn thành SL % SL % 1A2 32 32 100 0 0 Từ bảng tổng hợp trên ta thấy chất lượng học sinh khá giỏi cuối học kì 2 cao hơn hẳn so với giữa học kì 2. . Học sinh khá giỏi tăng lên . Học sinh trung bình giảm không có học sinh yếu . Hầu hết các em nhìn vào bài toán nêu được tóm tắt, nhìn vào tóm tắt hiểu nội dung bài toán. Biết trình bày bài giải, các em tư duy được nhiều câu lời giải khác nhau. Các em nắm chắc được kiến thức cơ bản của từng dạng toán . Đặc biệt nắm được các bước khi giải toán. -Dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng. động viên khuyến khích học sinh tìm được nhiều lời giải ngắn gọn, sáng tạo. -Giáo viên thường xuyên trao đổi đồng nghiệp tìm ra phương pháp tối ưu nhất. Giáo viên luôn sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, -Phối kết hợp với gia đình, nhà trường để học sinh có phương pháp học tốt nhất. Đạt được kết quả cao nhất. Phần IV Kết luận và kiến nghị Kết luận: Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Người đăng ký Nguyễn Thị Lý PHÒNG GD&ĐT TÂN HỒNG TRƯỜNG TH NGUYỄN HUỆ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐĂNG KÝ THI ĐUA NĂM HỌC 2016-2017 I. Khái quát về bản thân 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lý , sinh năm: 1970 2. Đơn vị công tác: Trường TH Nguyễn Huệ 3. Chức vụ: giáo viên 4. Nhiệm vụ được phân công : Dạy lớp 1 II. Nội dung đăng ký thi đua: Hưởng ứng phong trào thi đua do Ủy ban nhân dân huyện, đơn vị phát động, tôi xin đăng ký thi đua thực hiện hòan thành tốt các nội dung sau: 1/ Nâng cao nhận thức, hiểu biết sâu sắc chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chương trình hành động của đảng bộ. Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW. Luôn tự giác, đồng lòng quyết tâm thực hiện một cách hiệu quả. 2/ Thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; sáng tạo, đổi mới trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Tham mưu, đề xuất các giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả, hoàn thành xuất sắt nhiệm vụ năm học 2016 - 2017. 3/ Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt kỷ cương, nề nếp, kỷ luật lao động, nội quy, quy chế của nhà trường; Không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm, tận tâm với nghề, yêu thương học sinh, xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, tác phong mẫu mựccủa người giáo viên . 4/ Thường xuyên, tích cực trong học tập, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; nâng cao trong chuẩn nghề nghiệp,về trình độ đào tạo, ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và công tác,hoàn thành nhiệm vụ được giao. 5/ Đoàn kết, hỗ trợ đồng nghiệp trong công tác,cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ vụ được giao . III. Đăng ký hình thức thi đua: Tôi xin đăng ký hình thức thi đua Năm học 2016-2017 là: Lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua cơ sở. Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Người đăng ký Nguyễn Thị Lý

Dạy Học Về Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 3

MỤC LỤC TrangA. PHẦN MỞ ĐẦU : 2 I. Lời nói đầu. 2 II. Ý nghĩa và tác dụng của đề tài. 2 III. Lý do chọn đề tài. 4 IV. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. 5 V. Phương pháp nghiên cứu. 5 VI. Cấu trúc đề tài. 6B. PHẦN NỘI DUNG : 8 I. Hệ thống và phân loại các kiểu dạng toán có lời văn trong khung chương trình SGK lớp 3. 8Chương trình toán lớp 3. 8Nội dung và kiến thức về bài toán có lời văn lớp 3. 82.1) Nội dung. 82.2) Mức yêu cầu. 92.3) Cấu trúc. 17 II. Dạy học về giải toán có lời văn lớp 3. 17Phương pháp chung để giải toán có lời văn thông qua 4 bước. 171.1) Dạy học giải toán đơn ở lớp 3. 171.2) Một số vấn đề giải toán hợp ở lớp 3. 20 2) Yêu cầu học sinh. 23 2.1) Đọc kĩ đề toán. 23 2.2) Tóm tắt đề toán. 23 2.3) Phân tích đề toán để tìm cách giải. 23 2.4) Thực hiện chính xác các phép tính và hình thành cách giải. 23 3) Yêu cầu giáo viên. 23 3.1) Gợi ý để HS tự làm. 23 3.2) Các hoạt động để hướng dẫn HS. 23 III. Những nguyên nhân và biện pháp khắc phục. 50Nguyên nhân từ phía HS. 50Nguyên nhân từ phía GV. 51Biện pháp khắc phục hoặc hạn chế bớt những sai sót của HS khi học giải toán có lời văn ở lớp 3. 50C. PHẦN KẾT LUẬN. 53 I. Kết luận đề tài. 53 II. Đề xuất kiến nghị. 54D. TÀI LIỆU THAM KHẢO. 55

PHẦN MỞ ĐẦUI. LỜI NÓI ĐẦU : Tiểu học là bậc học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu rất cơ bản và thiết yếu nhằm đào tạo con người XHCN toàn diện có lòng yêu nước, có tri thức, có nhân cách, năng động, sáng tạo để phục vụ cho công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước trong thời kỳ CN hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế thế giới hiện nay. Đồng thời, nó cũng đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Việc đổi mới SGK và đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa, lấy HS làm trung tâm nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đưa giáo dục nước nhà phát triển kịp với đà phát triển của nền khoa học tiên tiến hiện đại. Toán học là một trong những môn học quan trọng nhất vì nó xâm nhập vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống chúng ta. Chương trình toán học ở lớp Ba bao gồm các nội dung : số học, đại lượng và đo đại lượng, các yếu tố hình học, các yếu tố thống kê, giải toán có lời văn. Trong 5 mạch kiến thức đó, giải toán có lời văn là nội dung rất quan trọng đối với HS tiểu học. Nó giúp HS phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo, biết suy luận lôgich, phân tích vấn đề, giải quyết vấn đề một cách thấu đáo; làm cơ sở cho sự phát triển năng lực trí tuệ ở các lớp học trên tiếp theo. Nó giúp HS củng cố lí thuyết, vận dụng lí thuyết vào thực tế cuộc sống, vận dụng công thức toán vào bài tập thực hành. Nó cũng giúp cho HS học tập các môn học khác tốt hơn. Với đề tài nghiên cứu này sẽ giúp tôi nắm được toàn bộ nội dung cấu trúc cũng như phương pháp giải toán có lời văn ở lớp Ba. Qua đó, tôi sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc dạy học về giải toán có lời văn, nhằm giúp HS tiếp thu tốt về phương pháp giải toán có lời văn để các em học tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn trong học tập. GV sẽ tìm ra những khó khăn, vướng mắc khi các em giải toán và biện pháp khắc phục để giúp HS có những kinh nghiệm quí báu để giải toán có lời văn ở lớp Ba được

Bạn đang xem bài viết Kinh Nghiệm Dạy Học Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3 trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!