Xem Nhiều 2/2023 #️ Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 # Top 5 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 2/2023 # Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN TOÁN

––

Đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS Dương Hữu Tòng

Lâm Thị Mĩ Kim Ngành: Sư phạm Tiểu học Khóa: 37 MSSV: 1110305

Cần Thơ, tháng 04 năm 2015

z

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN TOÁN

––

Đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS Dương Hữu Tòng

Lâm Thị Mĩ Kim Ngành: Sư phạm Tiểu học Khóa: 37 MSSV: 1110305

Cần Thơ, tháng 04 năm 2015

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, rèn luyện tại Trường Đại học Cần Thơ, dưới sự hướng dẫn và giảng dạy của các Thầy Cô cùng với sự giúp đỡ của các bạn, em đã học hỏi và tích lũy được nhiều vốn kiến thức quý báu. Vốn kiến thức này đã giúp em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn. Và chắc chắn rằng, đó cũng sẽ là một hành trang vững chắc để em có thể trở thành một người giáo viên tốt. Hoàn thành Luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ, đã truyền thụ cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Dương Hữu Tòng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ để em có thể hoàn thành Luận văn này. Cuối cùng, em xin cảm ơn các Thầy Cô trường Tiểu học Ngô Quyền đã luôn tạo điều kiện giúp em tiến hành Thực nghiệm để hoàn tất quá trình nghiên cứu.

Em xin chân thành cảm ơn. Kính chúc quý Thầy Cô và các bạn thật nhiều sức khỏe và thành công trong công việc !

Cần Thơ, tháng 4 năm 2015 Người viết

Lâm Thị Mĩ Kim

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Phạm vi và đối tượng của nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu 5. Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu 6. Tính sáng tạo về khoa học và thực tiễn của vấn đề 7. Cấu trúc luận văn 8. Một số từ ngữ được viết tắt trong Luận văn

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2 1. Một số đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học 1.1.

Những thay đổi của trẻ khi bắt đầu đi học

1.2.

Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học

1.3.

Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học

1.3.1

Tính cách của học sinh Tiểu học

1.3.2 Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học 1.3.3 Đặc điểm đời sống tình cảm 2. Khái quát chương trình toán Tiểu học 2.1 Sự giống nhau và khác nhau giữa 2 giai đoạn dạy học toán ở Tiểu học 2.1.1

Sự giống nhau giữa 2 giai đoạn các lớp 1,2,3 và giai đoạn các lớp

4,5 của dạy Toán ở Tiểu học

2.1.2. Sự khác nhau giữa hai giai đoạn các lớp 1,2,3 và giai đoạn các lớp 4,5 của dạy học toán ở tiểu học. 2.2. Trình độ chuẩn của học sinh về giải toán có lời văn ở các lớp bậc tiểu học. 3. Một số phương pháp dạy học được sử dụng. 3.1. Phương pháp giảng giải 3.2. Phương pháp đàm thoại 3.3. Phương pháp trực quan 3.4. Phương pháp thực hành luyện tập 4. Dạy học giải toán có lời văn ở Tiểu học 4.1 Ý nghĩa của việc dạy học giải toán có lời văn ở Tiểu học 4.2 Cấu trúc của một bài toán có lời văn 4.2.1 Các thành phần của một bài toán có lời văn 4.2.2 Cấu trúc của bài toán 4. 3 Các bước cơ bản để giải một bài toán có lời văn 4.3.1 Bước 1: Đọc kĩ đề bài 4.3.2 Bước 2: Tóm tắt đề toán 4.3.3 Bước 3: Phân tích bài toán để lập kế hoạch giải 4.3.4 Bước 4: Thực hiện phép tính theo trình tự đã thiết lập và viết bài giải. 4.3.5 Bước 5: Kiểm tra bài giải và đánh giá kết quả 4.4 Các dạng toán có lời văn ở tiểu học 4.4.1 Dạng bài toán đơn 4.4.1.1 Phân loại

4.4.1.2 Cách dạy học giải toán đơn 4.4.2 Dạng bài toán hợp 4.4.2.1 Phân loại 4.4.2.2 Cách dạy học giải toán hợp 4.4.3 Dạng toán điển hình 4.4.3.1 Phân loại 4.4.3.2 Cách dạy học giải toán điển hình 4.5 Một số phương pháp giải toán 4.5.1 Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng 4.5.2 Phương pháp rút về đơn vị – Phương pháp tỉ số 4.5.3 Phương pháp chia tỉ lệ 4.5.4 Phương pháp giả thuyết tạm 4.5.5 Phương pháp tính ngược từ cuối 4.5.6 Phương pháp thay thế 4.6 Phương pháp suy luận thường dùng trong giải toán có lời văn ở tiểu học 4.6.1 Phương pháp phân tích (Phân tích đi lên) 4.6.2 Phương pháp tổng hợp (Phân tích đi xuống) 4.7 Phương pháp tóm tắt một bài toán 4.7.1 Phương pháp tóm tắt dùng sơ đồ đoạn thẳng 4.7.2 Phương pháp dùng sơ đồ khối 4.7.3 Phương pháp tóm tắt dùng ngôn ngữ ngắn gọn 4.7.4 Phương pháp tóm tắt dùng hình tượng trưng 4.7.5 Phương pháp tóm tắt dùng công thức bằng lời 4.7.6 Phương pháp tóm tắt bằng lưu đồ 4.7.7 Ví dụ 4.8 Quy định cách trình bày bài giải toán ở tiểu học 4.8.1 Cách ghi các phép tính giải 4.8.2 Cách ghi câu lời giải 4.8.3 Cách ghi trình bày bài giải

CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 1. Mô tả thực nghiệm 1.1 Mục đích thực nghiệm 1.2 Nội dung thực nghiệm 1.3 Đối tượng thực nghiệm

1.4 Thời gian thực nghiệm 1.5 Hình thức thực nghiệm 2. Tổ chức thực nghiệm 2.1 Tiến hành thực nghiệm 2.1.1 Tường thuật các tiết dạy thực nghiệm 2.1.2 Tổ chức kiểm tra 3. Kết luận 4. Giáo án đề nghị

KẾT LUẬN PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy môn toán nói riêng là một yêu cầu cần thiết trong tình hình hiện nay. Trong các môn học ở bậc tiểu học, môn toán chiếm thời lượng lớn trong các môn học (sau môn Tiếng Việt). Việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nói chung và dạy học toán nói riêng là việc làm cần thiết và cấp bách theo hướng phát triển tính tích cực của học sinh. Trong quá trình làm gia sư dạy toán lớp 2, em đã quan sát và nhận thấy các kiến thức số học, đại lượng, đo đại lượng và các yếu tố hình học tương đối gần gũi với học sinh nên các em ít gặp khó khăn. Nhưng khi làm quen với dạng toán có lời văn, học sinh thường lúng túng, không biết cách tóm tắt đề toán hoặc tóm tắt sai do không biết bài toán đã cho biết gì và yêu cầu gì, hướng giải quyết bài toán ra sao ?… Ngoài ra các em còn gặp khó khăn trong việc diễn đạt bằng lời và trình bày bài giải khi viết. Sự đổi mới một cách toàn diện cả về nội dung chương trình lẫn phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải có cách nhìn đúng về dạy học toán. Qua đó giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động học tập. Nhưng trong quá trình giảng dạy còn nhiều giáo viên lạm dụng phương pháp giảng giải trong dạy học toán, chưa phát huy được hết vai trò của học sinh trong quá trình học tập, chưa tập cho học sinh có thói quen suy nghĩ, tìm hiểu nội dung bài để học sinh tiếp thu kiến thức. Từ thực tế đó càng làm cho học sinh khó tiếp nhận các bài toán có lời văn, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức của học sinh một cách thụ động, không có hứng thú tham gia giải các bài toán có lời văn, dẫn đến kết quả học tập ở dạng toán náy chưa cao. Do đó, là người giáo viên tương lai em rất quan tâm về vấn đề này và em quyết định chọn đề tài ” Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 ” với mong muốn góp phần vào việc hình thành kĩ năng giải toán có lời văn và lòng say mê học toán cho các em. Đồng thời phát triển tư

duy và nâng cao hiệu quả học tập của học sinh, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học.

2. Mục đích nghiên cứu – Tìm hiểu những khó khăn, sai sót của học sinh trong việc giải toán có lời văn. Phân tích nguyên nhân sai sót và đề ra biện pháp khắc phục. – Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh khi giải toán có lời văn trong chương trình toán lớp 2. – Thông qua đề tài giúp học sinh ham học toán từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ học toán đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục. – Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của bản thân. 3. Phạm vi và đối tượng của nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu: Các hoạt động giảng dạy và học tập với nội dung là giải toán có lời văn trong chương trình toán lớp 2 ở trường Tiểu học. – Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 2 trong quá trình học tập cách giải các bài toán có lời văn. 4. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp nghiên cứu lý luận. – Phương pháp quan sát. – Phương pháp điều tra, giáo dục. – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. – Phương pháp thực nghiệm sư phạm. 5. Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu Giúp học sinh nắm vững cách giải các bài toán có lời văn trong chương trình toán 2. Cụ thể là: – Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn về cộng, trừ, trong đó có bài toán về “nhiều hơn”, “ít hơn” một số đơn vị ; các bài toán đơn về nhân, chia (phép tính trong bảng nhân, chia phạm vi 5). – Nội dung dạy học “Giải toán có lời văn” ở lớp 2 được tăng cường học phương pháp dạy toán (cách tìm hiểu đề bài, cách giải quyết vấn đề, và cách

trình bày bài giải…). Ngoài ra học sinh còn được phát triển khả năng diễn đạt (diễn đạt bằng lời nói và viết các câu lời giải, hoặc trình bày một vấn đề…). – Nội dung dạy học “Giải toán có lời văn” được cấu trúc hợp lí, xen kẽ các mạch kiến thức khác, làm nổi bật mạch kiến thức số học. – Nội dung các bài toán có lời văn phong phú, đa dạng hơn và gần với thực tế đời sống xung quanh các em; Có các bài toán khi giải quyết cần đến kĩ năng đo đại lượng “cân, đo, đong, đếm” với các đơn vị mét, xăng-ti-mét, ki-lô-mét, ki-lô-gam, lít…thường gặp trong đời sống sinh hoạt hằng ngày… – Cách trình bày một bài giải toán được hoàn chỉnh hơn. – Tích cực hóa vấn đề sử dụng phương pháp dạy học. – Điều tra thực trạng việc học tập của học sinh. – Vận dụng vào thực tiễn dạy học: Giải toán có lời văn ở lớp 2 bao gồm: + Bài toán về nhiều hơn. + Bài toán về ít hơn. + Các bài toán vận dụng trực tiếp ý nghĩa của các phép tính (được tích hợp trong các mạch kiến thức khác). 6. Tính sáng tạo về khoa học và thực tiễn của vấn đề – Qua đề tài giúp các em học sinh nắm vững kiến thức khi giải các bài toán có lời văn. – Giúp giáo viên có thêm một vài kinh nghiệm và dạy tốt các bài toán có lời văn trong chương trình toán 2. 7. Cấu trúc luận văn Mở đầu Nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. Chương 2: Thực trạng tình hình của vấn đề rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. Chương 3: Những biện pháp rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 8. Một số từ ngữ được viết tắt trong Luận văn

STT

Viết tắt

Viết nguyên văn

1

GV

Giáo viên

2

HS

Học sinh

3

SGK

Sách giáo khoa

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2 1. Một số đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học 1.4.

Những thay đổi của trẻ khi bắt đầu đi học

Trước khi bước vào trường phổ thông, trẻ đang phát triển để hoàn thiện các cấu trúc tâm lí của con người, bởi hoạt động chủ đạo là vui chơi mà chưa thể hiện được bất kì trẻ đang tiến vào bước ngoặc mới với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo . Hoạt động vui chơi giữ vai trò chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới giữ vị trí chủ đạo khi trẻ bắt đầu đến trường. Bước vào trường phổ thông là một bước ngoặc trong đời sống của trẻ. Đó là sự chuyển qua lối sống mới với những điều kiện hoạt động mới, chuyển qua những quan hệ với người lớn và bạn bè cùng tuổi. Khi đến trường trẻ là một học sinh đang thực hiện nghĩa vụ xã hội trao cho bằng hoạt động học tập nghiêm túc. Hoạt động tập làm thay đổi một cách cơ bản những động cơ của hoạt động trẻ, nó mở ra những nguồn phát triển mới của sức mạnh nhận thức và đạo đức của trẻ. Hoạt động học phải được xem là đối tượng để lĩnh hội sau đó, để trở thành phương tiện tiếp thu trí thức, kinh nghiệm khoa học. Hoạt động học bắt đầu nảy sinh ở lớp 1 và lớp 2, hình thành ở lớp 3 và dần định hình ở lớp 5. 1.5.

Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể ít đi sâu vào chi tiết và mang tính chất không chủ định . Khả năng phân tích một cách có tổ chức và khi tri giác ở học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học còn yếu, các em thường thâu tóm sự vật

về toàn bộ, về đại thể để tri giác. Ví dụ : Các em khó phân biệt hình 5 cạnh với hình 6 cạnh. Tuy vậy ta cũng không nên nghĩ rằng các em chưa có khả năng phân tích để tách các dấu hiệu các chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó. Tri giác không chủ định vẫn chiếm ưu thế ở học sinh Tiểu học. Các em chưa tri giác đúng đơn vị, độ dài và còn nhìu khó khăn khi tri giác khoảng cách( học sinh chưa ước lượng đúng độ dài m và Km). Tri giác thời gian phát triể n chậm so với tri giác không gian. Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế so với chú ý có chủ định. Những kích thích có cường độ mạnh vẫn là một trong những mục tiêu thu hút sức chú ý của trẻ. Trí nhớ của các em còn mang tính trực quan-hình tượng và được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ logic. Học sinh đầu cấp thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần. Ở học sinh Tiểu học việc ghi nhớ các tài liệu trực quan hình tượng có hiểu quả nhất. Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức, dựa vào đặc điểm bên ngoài. Nhờ vào hoạt động học tập, tư duy mang dần tính khái quát.Hoạt động mang tính tổng hợp còn sơ đẳng, việc học Tiếng Việt và Toán giúp các em biết phân tích và tổng hợp. Trẻ thường gặp khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ nhân quả. Tưởng tượng còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng thì đơn giản hay thay đổi. Tưởng tượng tái tạo từng bước hoàn thiện. 1.3

Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học

1.3.2

Tính cách của học sinh Tiểu học

Nét tính cách của học sinh Tiểu học mới hình thành chưa ổn định. Hành vi của trẻ mang tính xung động cao và ý chí còn thấp. Tính cách điển hình của trẻ là hồn nhiên và cả tin, trẻ thích bắt chước hành vi của những người xung quanh hay trên phim ảnh. Học sinh Tiểu học ở Việt Nam có thái độ và thói quen tốt với lao động.

1.3.2 Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học đã phát triển khá rõ nét từ nhu cầu tìm hiểu những sự vật hiện tượng riêng lẻ( lớp 1 và lớp 2), đến nhu cầu phát hiện những nguyên nhân, quy luật về các mối liên hệ, quan hệ ( lớp 3,4,5). Nhu cầu đọc sách phát triển cùng với việc phát triển kỉ xảo đọc. Cần phải hình thành nhu cầu nhận thức cho trẻ ngay từ sớm. 2.1.2 Đặc điểm đời sống tình cảm Đối tượng gây xúc cảm, tình cảm của các em gắn liền với trực quan, hình ảnh cụ thể. Học sinh Tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình. Tình cảm của học sinh Tiểu học còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc. Sự chuyển hóa xúc cảm nhanh. Việc hiểu đặc điểm tâm lí học sinh giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học. Nếu chúng ta tác động vào đối tượng mà không hiểu tâm lí của chúng thì cũng như đập búa vào một thanh sắt nguội. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần phải dựa vào những đặc điểm tâm lí đối tượng để lựa chọn và xây dựng những phương pháp dạy học mới mang lại hiệu quả như mong muốn. 2. 2.1.

Khái quát chương trình toán Tiểu học Sự giống nhau và khác nhau giữa 2 giai đoạn dạy học toán ở Tiểu học

giáo dục khác ( như những hiểu biết về tự nhiên và xã hội, giáo dục môi trường, giáo dục về an toàn giao thông…) được sự tích hợp với các nội dung của môn Toán theo các định hướng học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Ở cả 2 giai đoạn, học sinh đêu được chuẩn bị phương pháp tự học Toán dựa vào hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Với sự trợ giúp của các đồ dùng học toán, của Sách giáo khoa…học sinh tự tập dợt, tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức mới, kết hợp học các nhân với học hợp tác trong nhóm, trong lớp, thực hiện học gắn với thực hành, vận dụng một cách linh hoạt dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên. Với cách chuẩn bị phương pháp tự học toán như trên, học sinh không chỉ biết cách tự học mà còn phát triển ngôn ngữ (nói, viết) để diễn đạt chuẩn xác, ngắn gọn và đầy đủ các thông tin để giao tiếp khi cần thiết; không chỉ bước đầu phát triển các năng lực tư duy( phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khói quát hóa đúng mức) mà còn từng bước hình thành tư duy phê phán, biết lựa chọn và tìm cách giải quyết hợp lí vấn để đã phát hiện được. Thời lượng dạy học Toán trong mỗi tiết, mỗi tuần lễ, mỗi năm học từ lớp 2 đến lớp 5 đều giống nhau(mỗi tiết học có thể kéo dai từ 35 đến 40 phút; mỗi tuần lễ có 5 tiết học Toán; mỗi năm có 175 tiết học Toán) riêng ở lớp 1, mỗi tuần lễ chỉ có 4 tiết học Toán Trong Sách giáo khoa toán từ lớp 1 đến lớp 5 thường có các dạng sau : tiết dạy học bài mới, tiết luyện tập chung, tiết thực hành, tiết ôn tập. Riêng tiết kiểm tra định kì chỉ giới thiệu trong sách giáo viên để giáo viên tham khảo. 2.1.2. Sự khác nhau giữa hai giai đoạn các lớp 1,2,3 và giai đoạn các lớp 4,5 của dạy học toán ở tiểu học. Giai đoạn các lớp 1,2,3 có các đặc điểm là: Việc dạy học cá kiến thức và kĩ năng cơ bản của môn Toán thường gắn với các sự vật, hiện tượng cụ thể, với sự trợ giúp đúng mức của các đồ dùng học tập, các vật thực, các mô hình trực quan, tranh ảnh,…học sinh chỉ nhận biết “cái toàn thể”, “cái riêng lẻ” chứ chưa nhận ra được các mối quan hệ, các tính chất quan trọng của sự vật, hiện tượng. Hầu hết các

kiến thức và kĩ năng được sắp xếp theo kiểu “đồng tâm mở rộng”, từ đơn giản và cụ thể đến phức tạp hơn, khái quát hơn và trừu tượng hơn. Giai đoạn các lớp 4,5 có các đặc điểm là: Việc dạy môn Toán vẫn tập trung vào các kiến thức và kĩ năng cơ bản nhưng ở mức sâu hơn, trừu tượng , khái quát hơn và tường minh hơn các lớp 1,2,3. Nhiều kiến thức có thể coi là trừu tượng, khái quát đối với các học sinh lớp 1,2,3 thì đến lớp 4,5 lại trở nên cụ thể, trực quan và thường được dùng làm chổ dựa để học các lớp 4,5 đã được nâng lên một bậc so với các lớp 1,2,3. Từ đầu lớp 4, học sinh có thể nhận biết và vận dụng một số tính chất của số, phép tính, hình học ở dạng khái quát và tường minh hơn so với lớp 3. Trong mỗi giai đoạn (nêu trên) đều có khoảng thời gian chuyển tiếp. Chẳng hạn, ở giai đoạn các lớp 1,2,3 thì khoảng thời gian đầu lớp 1 có sự chuyển tiếp từ giai đoạn xem vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ (ở các lớp mẫu giáo) sang giai đoạn xem học tập là hoạt động chủ đạo của trẻ, đến cuối lớp 3 lại có thời gian chuyển tiếp từ giai đoạn học tập cơ bản sang giai đoạn học tập sâu. Với vấn đề trên đòi hỏi giáo viên dạy Toán phải có phương pháp dạy và cách tổ chức dạy học phù hợp với năng lực của từng đối tượng học sinh. 2.2. Trình độ chuẩn của học sinh về giải toán có lời văn ở các lớp bậc tiểu học. * Lớp 1: – Nhận biết bước đầu về cấu tạo của bài toán có lời văn. – Biết giải các bài toán về thêm, bớt (giải bằng một phép cộng hoặc một phép trừ) và trình bày bài giải gồm: câu lời giải, phép tính, đáp số. * Lớp 2: – Biết giải và trình bày bài giải một số bài toán đơn (có một bước tính) về cộng, trừ trong đó có các bài toán về “nhiều hơn”, “ít hơn” một số đơn vị. – Biết giải và trình bày bài giải một số bài toán đơn về nhân, chia; Chủ yếu là các bài toán tìm tích của hai số trong phạm vi các bảng nhân 2,3,4,5 và các bài

Tóm lại, giải toán có lời văn từ lớp 1 đến lớp 5 được nâng cao dần từ đơn giản đến phức tạp và mỗi lớp có đặc điểm riêng. Lớp sau luôn có sự kế thừa, bổ sung và phát triển hơn các lớp trước. Chính điều đó đã tạo nên một mạch kiến thức xuyên suốt trong chương trình giải toán có lời văn ở tiểu học, nó thể hiện tính đồng tâm của chương trình toán ở tiểu học. 3. Một số phương pháp dạy học được sử dụng. 3.1. Phương pháp giảng giải Khái niệm: phương pháp giảng giải (hay thuyết trình) là phương pháp giảng dạy trong đó giáo viên dùng lời nói sinh động và chính xác để đưa ra vấn đề vừa giải thích nội dung vấn đề cho học sinh tìm hiểu và tiếp thu dễ dàng. Ưu điểm : Tiết kiệm thời gian, giáo viên có thể dễ tiến hành. Trong một thời gian ngắn có thể truyền thụ kiến thức cho học sinh. Nhược điểm : Thuyết trình bằng lời nói quá lâu khiến cho học sinh dễ thụ động, mệt mỏi. Nhất là đối với các em học sinh nhỏ. 3.2. Phương pháp đàm thoại Khái niệm: Phương pháp đàm thoại (hay hỏi đáp) là phương pháp giảng dạy trong đó giáo viên nêu vấn đề, đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, trên cơ sở ấy giáo viên giúp học sinh rút ra kết luận. Ưu điểm: Phát huy được tính tích cực của học sinh, làm cho lớp thêm sinh động. Rèn luyện được năng lực tư duy, khả năng diễn đạt. Nhược điểm: Tốn nhiều thời gian. 3.3. Phương pháp trực quan Khái niệm: Phương pháp trực quan lá phương pháp giảng dạy dựa trên cơ sở những hình ảnh cụ thể: Hình vẽ, đồ vật và hình ảnh thực tế xung quanh để hình thành kiến thức cho học sinh.

Ưu điểm: Bổ sung vốn hiểu biết cho học sinh, cung cấp chỗ dựa cho hoạt động tư duy; giúp học sinh dễ chú ý để từ đó các em có thể nắm các tri thức trừu tượng một cách vững chắc. Đồng thời giúp học sinh phát triển khả năng tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng của các em. Nhược điểm: Không nên lạm dụng trực quan vì việc đó chẳng những làm tốn nhiều thời gian mà còn hạn chế khả năng hình thành các biểu tượng của các em. 3.4. Phương pháp thực hành luyện tập Khái niệm: Phương pháp thực hành luyện tập là phương pháp dạy học thông qua các hoạt động thực hành luyện tập của học sinh để giúp các em nắm vững các kiến thức và hình thành kĩ năng mới. Ưu điểm: Phát huy được tốt nhất tính độc lập của học sinh. Do đó đây là phương tiện tốt nhất để thực hiện nguyên lí giáo dục. Nhược điểm: Tốn nhiều thời gian. 4. Dạy học giải toán có lời văn ở Tiểu học Phần lớn nội dung trong SGK là dành cho các bài toán, vì các khái niệm và các quy tắc nói chung đều được giảng dạy thông qua các ví dụ bằng số và giải các bài toán. Kết quả học tập của môn Toán cũng được đánh giá thông qua kỹ năng tính toán vá giải các bài Toán. Do đó, trong môn Toán ở Tiểu học, việc dạy học giải toán có một vị trí quan trọng. 4.1 Ý nghĩa của việc dạy học giải toán có lời văn ở Tiểu học Trong môn toán ở tiểu học, các bài toán có lời văn có ý nghĩa rất quan trọng. – Việc giải toán giúp học sinh hình thành, củng cố, vận dụng kiến thức, kỹ năng các mảng kiến thức của toán học. – Giải toán từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năng suy luận; rèn luyện cho học sinh thói quen làm việc có kế hoạch và khoa học; óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo; khả năng trình bày và diễn đạt ý kiến của bản

Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4

Ngày viết : 5 – 12 – 2012

Ngày trình bày : 7 – 12 – 2012

Người viết : Dương Quang Bình

Trong chương trình môn toán ở lớp 4, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng. Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học như : các số tự nhiên, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học… đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải toán, rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới. Có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt còn thiếu sót.

Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học chung và lớp 4 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh.

Qua thực tế dạy học, tôi xin trình bày một số biện pháp giải toán có lời văn mà tôi đã từng sử dụng :

1. Khảo sát phân loại chất lượng học sinh đầu năm:

Qua khảo sát chất lượng đầu năm, phân loại được các đối tượng học sinh trong lớp : Giỏi- Khá- TB- Yếu để từ đó lựa chọn biện pháp phụ đạo thích hợp.

2. Nắm chắc nội dung chương trình môn toán lớp 4:

Môn Toán lớp 4 được Bộ GD & ĐT ban hành và quy định để thực hiện trong cả nước, mỗi tuần 5 tiết x 35 tuần = 175 tiết . Chương trình giải toán có lời văn ở lớp 4 được chú trọng vào các dạng sau:

+ Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số

+ Tìm số trung bình cộng.

+ Tìm 2 số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của 2 số đó.

+ Giải bài toán về đại lương tỉ lệ.

Các dạng toán được bố trí đan xen với các bài toán về số học, GV phải nắm chắc chương trình để nghiên cứu SGK, SGV, tài liệu tham khảo nhằm xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp với đối tượng HS để lên lớp đạt được kết quả cao.

3. Nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp:

Đây là biện pháp trọng tâm, để HS nắm chắc cách giải toán có lời văn, người GV cần hướng dẫn HS nắm được các bước chung trước khi làm bài.

+ Đọc kĩ đề toán để xác định yêu cầu của đề (những điều đã cho và những cái phải tìm)

+ Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ, ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn.

+ Phân tích đề toán để tìm cách giải.

+ Giải bài toán và thử lại.

Ví dụ 1 : (Bài toán về Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.)

Tổng của hai số là 70. Hiệu của hai số là 10. Tìm hai số đó.

Với bài toán trên tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài và giải bài toán như sau :

+ Bước 1 : Yêu cầu HS đọc kĩ đề bài, xác định được tổng và hiệu của 2 số sau đó tìm số bé, số lớn.

+ Bước 2: HS trao đổi theo nhóm đôi để tự tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:

Tóm tắt : Số lớn :

10 70

Số bé :

Bước 3 : Trình bày bài giải :

Tìm số bé :

(70 – 10) : 2 = 30

Tìm số lớn :

70 – 30 = 40 (hoặc 30 + 10 = 40)

Đáp số : Số bé : 30

Số lớn : 40

(Tìm tổng của hai số : 30 + 40 = 70 ; Hiệu của hai số : 40 – 30 = 10)

Ví dụ 2 : ( Bài toán về Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.)

Hiệu của 2 số là 85. Tỉ số của 2 số đó là 3/8. Tìm 2 số đó?

Với bài toán trên tôi hướng dẫn HS giải theo các bước sau:

+ Bước 1: Yêu cầu HS đọc kĩ đề bài, xác định được tổng và tỉ số của 2 số. Tự dự kiến cách tóm tắt bài toán theo dữ liệu của đề bài.

+ Bước 2: HS trao đổi theo nhóm đôi để tự tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau :

Số bé :

85

Số lớn :

+ Bước 3 : Dựa vào sơ đồ để phân tích bài toán, tìm phương án giải.

GV hướng dẫn HS phân tích bài toán theo các câu hỏi sau:

– Nhìn vào sơ đồ em thấy : Giá trị của số bé gồm mấy phần ? Giá trị của số lớn gồm mấy phần như thế ?

– Hiệu của 2 số là bao nhiêu ?

– Muốn tìm giá trị một phần em làm thế nào ?

– Khi tìm được giá trị 1 phần, ta cần tìm những gì tiếp theo?

+ Bước 4 : Giải bài toán và thử lại kết quả.

Hiệu số phần bằng nhau là : 8 – 3 = 5 ( Phần )

Giá trị một phần là : 85 : 5 = 17

Số bé là : 17 x 3 = 51

Số lớn là : 51 + 85 = 136

Đáp số : Số bé: 51

Số lớn: 136

Thử lại : Tính hiệu của 2 số : 136 – 51 = 85 (Đúng theo dữ liệu đầu bài )

4. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS:

GV làm tốt công tác kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ về kết quả học tập của HS để nắm bắt kịp thời việc vận dụng, rèn kỹ năng giải toán có lời văn của HS cả lớp, từ đó phân loại HS theo các trình độ để tự điều chỉnh về mục tiêu đối với từng bài dạy cụ thể cho phù hợp với các nhóm đối tượng HS của lớp. Bên cạnh công tác kiểm tra, đánh giá HS, còn giúp cho GV tự điều chỉnh về hình thức tổ chức dạy học, điều chỉnh về phương pháp dạy học sao cho kết quả các tiết dạy đạt được mục tiêu đã đề ra. GV luôn quan tâm, giúp đỡ những em HS có kết quả học tập môn toán nói chung và giải toán có lời văn đạt kết quả chưa cao để các em có hướng vươn lên.

5. Tự tin và quyết tâm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học:

Để phát huy tính tích cực, chủ động, say mê học tập môn Toán nói chung và giải bài toán có lời văn nói riêng cho các em học sinh, giáo viên phải tự tin và quyết tâm trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Phải kết hợp nhuần nhuyễn và linh hoạt các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại như : Phương pháp thuyết trình, giảng giải và minh họa, gợi mở vấn đáp, trực quan, thực hành luyện tập. Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.

6. Tổ chức các trò chơi toán học :

Tổ chức cho HS tham gia các trò chơi học tập kết hợp trong các tiết dạy. GV phải xác định rõ kiến thức và kĩ năng của trò chơi. Chuẩn bị chu đáo, hướng dẫn rõ ràng cách chơi, luật chơi, thực hiện đúng lúc với các trò chơi hợp lý, cân đối với các hoạt động của tiết dạy. Tổ chức các trò chơi trong toán học như : Tiếp sức, ai đúng ai nhanh,…

Thông qua việc tổ chức thành công các trò chơi, GV đã tạo không khí thoải mái, nhẹ nhàng, kích thích các hoạt động học tập của HS. Củng cố chắc chắn các kiến thức, kĩ năng cần đạt trong tiết dạy cho HS.

Nam Phước, ngày 5 tháng 12 năm 2012

Người viết

Dương Quang Bình

Dương Quang Bình @ 14:58 06/12/2012 Số lượt xem: 622

Các Biện Pháp Rèn Kĩ Năng “Giải Toán Có Lời Văn” Lớp 1

LỚP 1

a) Biện pháp thứ nhất: Đọc và tìm hiểu đề toánMuốn học sinh hiểu và có thể giải được bài toán thì điều quan trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu được nội dung bài toán. Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khoá quan trọng như ” thêm, và , tất cả, … ” hoặc “bớt, bay đi, ăn mất, còn lại , …” (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ). Để học sinh dễ hiểu đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài. Một số giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ, hoặc gạch chân các từ chưa sát với nội dung cần tóm tắt. Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho dễ nhìn.

Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại ” Bài toán cho gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách tốt nhất để giúp học sinh ngầm phân tích đề toán.Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi.

– Em thấy dưới ao có mấy con vịt? (Dưới ao có 5 con vịt)- Trên bờ có mấy con vịt? ( Trên bờ có 3 con vịt)- Đàn vịt có tất cả mấy con? (Có tất cả 8 con)Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, …) lên bảng từ để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán.

Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phép tính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ tuần 23, 24. Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) trẻ đọc và giải được bài toán là đạt yêu cầu.

b) Biện pháp thứ 2: Tìm đường lối giải bài toán.Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm.Ví dụ 2: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 3 con gà.Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?- Bài toán cho gì? (Nhà An có 5 con gà)- Còn cho gì nữa? (Mẹ mua thêm 3 con gà)- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)Giáo viên nêu tiếp: “Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em làm tínhgì? (tính cộng) Mấy cộng mấy? (5 + 3) ; 5 + 3 bằng mấy? (5 + 3 = 8); hoặc: “Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em tính thế nào? (5 + 3 = 8); hoặc: “Nhà An có tất cả mấy con gà ?” (8) Em tính thế nào để được 8 ? (5 + 3 = 8).Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp “8 này là 8 con gà”, nên ta viết “con gà” vào trong dấu ngoặc đơn: 5 + 3 = 8 (con gà).

Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp số. Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được làm quen với cách giải loại toán này nên các em rất lúng túng.Có thể dùng một trong các cách sau:

Cách 1:Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối (mấy con gà ?)để có câu lời giải:”Nhà An có tất cả:” hoặc thêm từ “là” để có câu lời giải:Nhà An có tất cả là:

Cách 2: Đưa từ “con gà” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và thêm từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có: “Số con gà nhà An có tất cả là:” Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt, coi đó là “từ khoá” của câu lời giải rồi thêm thắt chút ít.

Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt: “Có tất cả: … con gà ?”. Học sinh viết câu lời giải: “Nhà An có tất cả:”Cách 4: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?” để học sinh trả lời miệng: “Nhà An có tất cả 8 con gà” rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải (gồm câu lời giải và phép tính):Nhà An có tất cả:5 + 3 = 8 (con gà)Cách 5: Sau khi học sinh tính xong: 5 + 3 = 8 (con gà), giáo viên chỉ vào 8 và hỏi: “8 con gà ở đây là số gà của nhà ai?” (là số gà nhà An có tất cả). Từ câu trả lời của học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số gà nhà An có tất cả là” v.v…Ở đây giáo viên cần tạo điều kiện cho các em tự nêu nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó bàn bạc để chọn câu thích hợp nhất. Không nên bắt buộc học sinh nhất nhất phải viết theo một kiểu.

c)Biện pháp thứ 3: Trình bày bài giảiCó thể coi việc trình bày bài giải là trình bày một sản phẩm của tư duy. Thực tế hiện nay các em học sinh lớp 1 trình bày bài giải còn rất hạn chế, kể cả học sinh khá giỏi. Cần rèn cho học sinh nề nếp và thói quen trình bày bài giải một cách chính xác, khoa học, sạch đẹp dù trong giấy nháp, bảng lớp, bảng con hay vở, giấy kiểm tra.Trước khi trình bày bài giải giáo viên cho học sinh nhắc lại bằng câu hỏi:Muốn trình bày bài giải qua mấy bước?( Qua 3 bước) Đó là những bước nào?

+ Bước 1: Viết lời giải.

+ Bước 2: Viết phép tính.

+ Bước 3: Viết đáp số.Từ đó học sinh trình bày bài giải một bài toán có lời văn như sau:Bài giảiNhà An có tất cả là: 5 + 3 = 8 ( con gà ) Đáp số : 8 con gà Nếu lời giải ghi: “Số gà nhà An là:” thì phép tính có thể ghi: “5 + 3 = 8 (con)”. (Lời giải đã có sẵn danh từ “gà”).Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao từ “con gà” lại được đặt trong dấu ngoặc đơn? Đúng ra thì 5 + 3 chỉ bằng 8 thôi (5 + 3= 8) chứ 5 + 3 không thể bằng 8 con gà được. Do đó, nếu viết:”5 + 3 = 8 con gà”là sai. Nói cách khác, nếu vẫn muốn được kết quả là 8 con gà thì ta phải viết như sau mới đúng:

“5 con gà + 3 con gà = 8 con gà”. Song cách viết phép tính với các đơn vị đầy đủ như vậy khá phiền phức và dài dòng, gây khó khăn và tốn nhiều thời gian đối với học sinh lớp 1. Ngoài ra học sinh cũng hay viết thiếu và sai như sau: 5 con gà + 3= 8 con gà

5 + 3 con gà = 8 con gà

5 con gà + 3 con gà = 8 con gàVề mặt toán học thì ta phải dừng lại ở 8, nghĩa là chỉ được viết 5 + 3 = 8 thôi.Song vì các đơn vị cũng đóng vai trò rất quan trọng trong các phép tính giải nên vẫn phải tìm cách để đưa chúng vào phép tính. Do đó, ta mới ghi thêm đơn vị “con gà” ở trong dấu ngoặc đơn để chú thích cho số 8 đó. Có thể hiểu rằng chữ “con gà” viết trong dấu ngoặc đơn ở đây chỉ có một sự ràng buộc về mặt ngữ nghĩa với số 8, chứ không có sự ràng buộc chặt chẽ về toán học với số 8. Như vậy cách viết 5 + 3 = 8 (con gà) là một cách viết phù hợp.

d) Biện pháp thứ 4: Kiểm tra lại bài giảiHọc sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp Một thường có thói quen khi làm bài xong không hay xem, kiểm tra lại bài đã làm. Giáo viên cần giúp học sinh xây dựng thói quen học tập này.Cần kiểm tra về lời giải, về phép tính, về đáp số hoặc tìm cách giải hoặc câu trả lời khác.

đ.Biện pháp thứ 5: Khắc sâu loại “Bài toán có lời văn”Ngoài việc dạy cho học sinh hiểu và giải tốt “Bài toán có lời văn” giáo viên cần giúp các em hiểu chắc, hiểu sâu loại toán này. Ở mỗi bài, mỗi tiết về “Giải toán có lời văn” giáo viên cần phát huy tư duy, trí tuệ, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh bằng việc hướng cho học sinh tự tóm tắt đề toán, tự đặt đề toán theo dữ kiện đã cho, tự đặt đề toán theo tóm tắt cho trước, giải toán từ tóm tắt, nhìn tranh vẽ, sơ đồ viết tiếp nội dung đề toán vào chỗ chấm (…), đặt câu hỏi cho bài toán. Ví dụ 1: Nhìn tranh vẽ, viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán, rồi giải bài toán đó: Bài toán: Dưới ao có … con vịt, có thêm … con vịt nữa chạy xuống. Hỏi ………………………………………………………………..?Ví dụ 3: Giải bài toán theo tóm tắt sau: Có : 7 hình tròn Tô màu : 4 hình tròn Không tô màu : ………. hình tròn?

Qua cách gợi ý các em biết đặt lời giải và giải bài toán như trên là giáo viên đã thành công vì đây là học sinh lớp Một nên GV không nên yêu cầu các em đặt lời giải một cách máy móc rập khuôn và đầy đủ như các lớp trên. Vì đây là bước đầu giúp các em hình thành kỹ năng giải toán có lời văn, các em đã hiểu được lời giải của bài toán phải phụ thuộc vào cái cần tìm. Mỗi bài toán có nhiều cách đặt lời giải khác nhau.

Tóm lại: Tuỳ từng dạng bài mà giáo viên nghiên cứu để lựa chọn cách thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình để giúp các em hiểu được đề bài toán và biết cách giải bài toán dẫn đến kết quả chính xác. Tùy theo từng loại bài mà giáo viên sẽ củng cố cho các em những kiến thức đã học một cách có hệ thống khoa học và lo gic. Từ đó các em sẽ nắm vững các kiến thức hơn và biết áp dụng làm các bài tập thực hành một cách thành thạo kết quả chính xác góp phần nâng cao hiệu quả tiết dạy.

ST

Dương Hoàng Anh @ 08:56 21/04/2017 Số lượt xem: 1228

Skkn Rèn Luyện Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Xuất phát từ vị trí tầm quan trọng của môn Toán trong trường tiểu học. Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn Toán cũng như những môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát tiển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp của con người. Môn Toán ở trường tiểu học là một môn độc lập, chiếm phần lớn thời gian trong chương trình học của trẻ. Môn Toán có tầm quan trọng to lớn. Nó là bộ môn khoa học nghiêm cứu có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người Môn Toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận lô gíc, thao tác tư duy cần thiết để con người phát triển toàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới. Để góp phần tạo ra những con người thông minh, sáng tạo, giàu ý chí và nghị lực, vững tin vào bàn tay, khối óc của mình, người thầy giáo phải coi trọng việc rèn luyện kĩ năng tư duy độc lập cho học sinh qua các môn học nói chung, qua môn toán nói riêng và đặc biệt là qua học giải toán có lời văn. 2. Xuất phát từ ý nghĩ của việc dạy giải toán có lời văn. Giải toán là mạch kiến thức hết sức quan trọng, chính vì thế, nó được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác của môn toán ở bậc tiểu học. Giải toán ở bậc tiểu học giúp học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội, đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn với tình huống thực tiễn. Qua giải toán tạo điều kiện giúp các em phát triển trí thông minh tư duy độc lập, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng cho các em, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt sáng tạo. Đối với học sinh lớp Hai, các em mới làm quen với giải toán có lời văn (các em đã được học ở lớp Một nhưng rất ít) nên người thầy phải hết sức chú trọng để trang bị cho các em một số kiến thức và kĩ năng cơ bản trong giải toán để các em có thể học tốt hơn môn toán. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu tài liệu, học hỏi, tham khảo bạn bè đồng nghiệp và qua thực tế giảng dạy tôi đã rút ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc “Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2” và đã viết nên đề tài này. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. – Tìm hiểu nội dung, chương trình và những phương pháp dùng để giảng dạy toán có lời văn. – Tìm hiểu những kĩ năng cơ bản cần trang bị để phục vụ việc giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. – Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành các kiến thức đã học; rèn luyện kỹ năng tính toán là bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn. – Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kỹ năng suy luận, khơi gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi. – Rèn luyện cho học sinh những đức tính và phong cách làm việc của người lao động như: tư duy, cẩn thận, nhanh nhẹn, cụ thể….. – Khảo sát và hướng dẫn cụ thể một số bài toán giải, một số dạng toán có lời văn ở lớp 2, để từ đó đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, và đề xuất một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn. III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. – Đối tượng: Học sinh lớp 2B, Trường Tiểu học……. – Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09/2016 đến tháng 2/2017 VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. a. Phương pháp quan sát: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức của môn Toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển tư duy trừu tượng. Đối với học sinh lớp 2, việc sử dụng đồ dùng trực quan nhiều hơn. Ví dụ: Khi dạy giải toán ở lớp 2, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau đó hướng dẫn các em lập tóm tắt đề bài rồi mới đến bước chọn phép tính. b. Phương pháp điều tra, khảo sát: Điều tra, khảo sát khả năng giải toán có lời văn của học sinh khối lớp 2 Trường Tiểu học……. c. Phương pháp phân tích, đàm thoại: Đây là phương pháp cần thiết và thích hợp với học sinh ở tiểu học, rèn luyện cho học cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh. Để sử dụng tốt phương pháp này, giáo viên cần lựa chọn hệ thống câu hỏi chính xác và rõ ràng, nhờ thế mà học sinh có thể nắm được ngay nội dung kiến thức từ đầu và giúp các em dễ dàng trả lời các câu hỏi. d. Phương pháp thực hành và luyện tập: Sử dụng phương pháp này thực hành luyện tập kiến thức, kĩ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp. Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: Gợi mở, vấn đáp và giảng giải minh hoạ. PHẦN 2. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN. Dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn, đa dạng, phong phú, những vấn đề thường gặp trong cuộc sống. Mạch kiến thức giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác trong môn Toán lớp 2. giải toán có lời văn giúp học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn liền với tình huống thực tiễn. Học sinh tự giải được các bài toán có lời văn là một yêu cầu cơ bản của dạy toán học. Vì vậy, việc dạy học giải toán có lời văn cho học sinh tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong việc dạy học toán. Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới. Vì vậy giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa các đã cho với cái cần tìm, trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán. Dạy học giải toán giúp học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra các quy tắc ở dạng khái quát nhất định. Như vậy đây là một loại toán khó đối với học sinh tiểu học bởi ở lứa tuổi này các em chưa tiếp xúc nhiều với cuộc sống, bản chất của các em còn rất hồn nhiên và ngây thơ, sự chú ý của các em còn hướng ra bên ngoài chưa có khả năng hướng vào bên trong, vào tư duy, vào trí nhớ lô gíc, trí nhớ máy móc cũng dễ dàng đối với các hiện tượng hình ảnh cụ thể hơn là các câu chữ trừu tượng, khô khan. Để giúp học sinh giải toán có lời văn theo hướng tích cực giáo viên cần giúp học sinh tự mình tìm hiểu được các mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả mối quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải của bài toàn. Để đạt được mục tiêu trên, giáo viên phải thực hiện được các yêu cầu sau: Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ…(chuẩn bị cho học sinh giải toán). Tổ chức cho học sinh thực hiện giải toán. Tổ chức rèn kĩ năng giải toán. Rèn luyện năng lực khái quát hóa giải toán. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Qua thực tế dạy học từ Trường Tiểu học, bằng việc dự giờ, thăm lớp, trao đổi giờ dạy và rút ra kinh nghiệm giờ dạy của các đồng nghiệp cho thấy. 1. Về phía giáo viên Đa số giáo viên đã biết hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được cách giải bài toán có lời văn theo các bước giải nhưng thống nhất theo một trình tự chặt chẽ, đôi lúc làm tắt, bỏ qua một số bước ( Ví dụ: không cho hoc sinh tóm tắt bài toán, không cho học sinh xác định dạng bài, kiểu bài…) Một bộ phận giáo viên chưa linh hoạt trong cách hướng dẫn học sinh giải bài toán, chưa biết cách hướng dẫn học sinh khai thác đề bài để định hướng cách làm bài 2. Về phía học sinh Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đa số các em là thích học toán nhưng lại rất ngại những bài toán có lời văn vì đối với dạng bài này bắt buộc các em phải tư duy, trình bày nhiều hơn. Mặt khác, vì mới học lớp 2 nên vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế, đầu năm học có em còn đọc chưa thạo, có em đọc được nhưng còn chưa hiểu vì vậy khi giải các bài toán có lời văn, lời giải chưa gọn, có khi còn thiếu chính xác, chưa liên hệ được những điều đã biết, điều cần tìm trong bài để có phép tính đúng. Khảo sát chất lượng: Đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay về tìm hiểu đối tượng học sinh, tôi nhận thấy lớp 2B các em có lực học khá đồng đều, nhưng đối với giải toán có lời văn các em vẫn còn hơi yếu: Kết quả khảo sát đầu năm: Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 21 SL TL SL TL SL TL 10 47,6% 8 38% 3 14,4% Trong đó đối với bài toán giải: Số học sinh sai về lời giải là 5 em = 23,8% Số học sinh sai về phép tính là 8 em = 38% Số học sinh sai về đơn vị là 3 em = 14,4% Nguyên nhân: Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tôi thấy có những nguyên nhân như sau: 1. Do học sinh không đọc kĩ đề bài nên không nắm vững được những điều đã biết, những điều cần tìm trong bài toán dẫn đến chưa định hướng được cách làm bài. 2. Học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán. 3. Học sinh không nắm vững câu hỏi của bài nên không xác định được dạng bài. 4. Có học sinh không biết dựa vào câu hỏi để tìm lời giải. 5. Có học sinh chưa nắm vững cách trình bày bài giải. 6. Học sinh không có thói quen kiểm tra lại bài sau khi làm bài xong. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2 A. Các bước thực hiện giải bài toán có lời văn: Khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, GV phải giúp học sinh tự mình tìm hiểu mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm, mô tả quan hệ đó bằng tóm tắt bài toán, bằng câu lời giải, bằng phép tính cụ thể. Xuất phát từ định hướng trên, khi dạy các bài toán có lời văn tôi tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải toán cụ thể như sau: 1. Đọc và tìm hiểu bài toán: Trong các bước giải toán theo tôi bước này là bước quan trọng nhất để giúp các em xác định được cách giải bài toán đó cụ thể như thế nào? Bước này tập trung cao độ tư duy của học sinh để lập được mối tương quan giữa các đại lượng. Giáo viên là người giúp đỡ học sinh hiểu rõ một số từ quan trọng như “thêm, hơn, kém, bớt, gấp, chia,…”; “còn lại, có tất cả,…” Ở đây giáo viên giúp học sinh biết suy luận: Muốn tìm cái chưa biết thì phải dựa vào thông tin đã biết. Để làm được điều đó cần thực hiện qua các bước: Bước 1: Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc bằng mắt). Bước 2: Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm được mối quan hệ giữa những điều đã biết và những điều cần tìm trong bài toán. Xác định được kiểu bài, dạng bài. Thông thường đề bài của bài toán có lời văn bao gồm có 2 phần đó là: Điều đã biết; điều cần tìm. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhận biết: Điều đã biết thường bắt đầu bằng từ “ có” Điều cần tìm thường bắt đầu bằng từ “ Hỏi” hay từ “ Tính” Ngoài ra trong đề toán còn nêu ra mối quan hệ giữa điều đã biết và điều cần tìm. Vì vậy muốn tìm hiểu được đề của bài toán yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài (3 lần trở lên). Tìm hiểu xem bài toán cho biết những gì, bài toán hỏi gì? Liên hệ với những điều đã học để xác định dạng bài. Ví dụ: Bài tập 4 (Trang 57 – SGK) Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp. Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp? Tìm hiểu, phân tích bài toán ta có thể có các cách như sau: Cách 1: GV hỏi HS: + Bài toán đã cho biết gì? (Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp.) + Bài toán hỏi gì? (Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp?) Cách 2: Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một gạch dưới điều đã cho biết và hai gạch dưới điều cần tìm. Bước 2: + Học sinh cả lớp cùng hoạt động sau đó nêu ý kiến của mình hoặc lên bảng thực hiện những điều mà giáo viên yêu cầu. + Giáo viên cho một vài học sinh nêu lại điều đã biết và điều cần tìm. GV nhấn mạnh các từ có, đã bán, còn lại để học sinh nhận dạng được bài toán). Qua 2 cách làm trên cho ta thấy: Cách 1: Phân tích rất cụ thể, phù hợp với các đối tượng học sinh lớp 2. Tuy vậy cách phân tích đó nếu lập lại nhiều lần sẽ dập khuôn, máy móc, nhàm chán. Học sinh không phát huy được tính tích cực, chủ động, có em còn ỷ lại cho bạn hoặc chỉ thụ động làm theo ý bạn hay cô giáo nêu ra. Cách 2: Giúp học sinh có kỹ năng biết phân tích bài toán tốt hơn, đọc kỹ đề bài hơn và chủ động, tích cực hơn. Phân tích bài toán theo cách 2 đối với HS lúc đầu có vẻ khó, các em làm hơi chậm nhưng điều quan trọng là rèn luyện cho học sinh có thói quen đọc kỹ đề bài trước khi làm bài. Mỗi cách đều có những mặt tích cực và hạn chế, giáo viên cần linh hoạt vận dụng để hướng dẫn học sinh sao cho đạt hiệu quả cao nhất. 2. Tìm cách giải bài toán: * Tóm tắt bài toán: Dựa vào những điều đã biết, những điều cần tìm để viết tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ toán học (Tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, sơ đồ ven). Ví dụ: * Tóm tắt bằng lời: Bài tập 4 (Trang 57 – SGK) Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp. Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp? Hướng dẫn HS đọc đề bài, nêu những điều đã biết (Có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp ), những điều cần tìm (cửa hàng còn lại mấy xe đạp), chọn lọc những từ ngữ quan trọng (Có, đã bán, còn lại) để tóm tắt bài toán: Tóm tắt: Có : 13 xe đạp Bán : 6 xe đạp Còn lại :.. xe đạp? * Tóm tắt bằng hồ sơ đoạn thẳng Bài 2: (Trang 24 – SGK) Nam có 10 viên bi, Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi. Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi? Hướng dẫn HS cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau: Yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một gạch dưới điều đã cho biết và 2 gạch dưới điều cần tìm. Sau đó tôi hỏi HS: Nam có bao nhiêu viên bi? (Nam có 10 viên bi), vậy ta biểu thị số bi của Nam bằng 1 đoạn thẳng. 10 viên bi Số bi của Bảo như thế nào so với số bi của Nam? (Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi). Muốn biểu diễn số bi của Bảo ta phải vẽ đoạn thẳng như thế nào? (Đoạn thẳng dài hơn đoạn thẳng biểu diễn số bi của Nam). – Phần dài hơn đó tương ứng với bao nhiêu viên bi? (5 viên bi). – GV vẽ tiếp đoạn thẳng biểu diễn số bi của Bảo. – Vậy bài toán hỏi gì? (Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi?). 10 viên bi 5 viên bi Sau khi phân tích rõ ràng như trên tôi hướng dẫn học sinh vẽ tóm tắt: Nam Bảo ? viên bi * Cho học sinh diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt: Cho HS dựa vào tóm tắt nêu lại vắn tắt nội dung của bài toán. * Lập kế hoạch giải bài toán: Xác định trình tự giải bài toán: thông thường xuất phát từ câu hỏi của bài toán đi đến các yếu tố đã cho với yêu cầu bài toán phải tìm và tìm được đúng phép tính số học thích hợp. 3. Tìm lời giải. Học sinh dựa vào câu hỏi của bài để tìm lời giải cho bài toán. (Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu câu trả lời giải chính là câu trả lời cho câu hỏi trong bài – Vì lớp 2 giải toán đều là các bài toán đơn). Vậy để giúp học sinh tìm ra câu trả lời nhanh và đúng nhất, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải như sau: Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán. Ví dụ: Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi? Bỏ bớt chữ “Hỏi”, cụm từ “bao nhiêu” thay bằng từ “số”, thêm từ “là” vào cuối câu được câu lời giải: “Bảo có số viên bi là”. Đây là cách đơn giản, học sinh dễ nắm bắt nhất. Cách 2: Cũng ví dụ trên, đưa từ “viên bi” ở cuối câu hỏi lên đầu câu hỏi thay cho chữ “Hỏi” và thêm chữ “số” ở đầu câu, cuối câu thêm chữ “là” để được câu trả lời: “Số viên bi Bảo có là:”. Cách 3: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Bảo có bao nhiêu viên bi? để học sinh trả lời miệng: “ Bảo có 15 viên bi” rồi chèn phép tính vào để có các bước giải (gồm cả lời giải và cả phép tính). Bảo có số viên bi là: 10 + 5 = 15 (viên bi) Cách 4: Sau khi học sinh nêu phép tính: 10 + 5 = 15 (viên bi), giáo viên chỉ vào 15 và hỏi: “15 viên bi” ở đây là số bi của ai? (là số bi của Bảo). Từ câu trả lời của các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bi của Bảo là”: 4. Xác định đơn vị bài giải: Cách xác định đơn vị của bài toán: Muốn xác định được đơn vị của bài toán phải giúp học sinh trả lời được câu hỏi xem bài toán yêu cầu tìm gì? Giáo viên gạch dưới đơn vị của bài. Giáo viên hướng dẫn tìm cụ thể một vài bài để học sinh định hướng và dần dần xác định được đơn vị của bài toán. Vì bài toán có lời văn của lớp 2 chỉ là những bài toán đơn nên tôi có một mẹo nhỏ giúp HS xác định đúng đơn vị bài toán đó là khi đọc câu hỏi sau từ: bao nhiêu hay từ mấy là từ gì thì đó chính là đơn vị của bài giải. 5. Thực hiện cách giải và trình bày bài giải. Đây là bước cụ thể, cụ thể hóa của quá trình tư duy trên, nó thể hiện rõ nét kỹ năng, kỹ xảo giải bài tập của học sinh, Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để viết bài giải, nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích. – Thực hiện các phép tính đã xác định (có thể viết phép tính sau khi viết câu lời giải và thực hiện phép tính). – Viết câu lời giải. – Viết phép tính tương ứng. – Viết đáp số. – Tôi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải vào vở ô li như sau: + Lùi vào 5 ô so với lề để viết Bài giải. + Viết câu lời giải cân đối với từ Bài giải (thường là lùi vào 2 ô so với lề). + Viết phép tính lùi vào 2 ô so với lời giải. + Viết đáp số lùi vào thẳng với từ bài giải. Ví dụ: Bài giải Số học sinh trong lớp học đó là: 14 + 16 = 30 (học sinh) Đáp số: 30 học sinh Cách trình bày bài giải đối với học sinh lớp 2 cũng rất quan trọng. Giáo viên cần rèn cho học sinh có con mắt thẩm mĩ trong cách trình bày bài, rèn cho các em có thói quen trình bày bài khoa học và đẹp để sau này khi lên các lớp trên các em không còn lúng túng khi trình bày bài giải. 6. Kiểm tra bài giải: Kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu. Tóm lại: Trong quá trình dạy dạng toán có lời văn, giáo viên cần lưu ý: – Luôn luôn củng cố các bước giải toán. Vì nếu trong quá trình giải toán, học sinh không nắm được các bước giải một bài toán thì học sinh sẽ không có cách giải hay, nhanh nhất và đúng nhất. – Giúp học sinh nắm vững, ghi nhớ được các bảng cộng, trừ, nhân, chia. để áp dụng vào phép tính trong bài toán có lời văn. Vì nếu không thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia. không biết cách tính nhẩm thì không tránh khỏi sai sót kết quả của bài toán. B. Các ví dụ: Trong chương trình Toán 2 có các dạng toán giải sau: 1. Giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ. 2. Bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị. 3. Giải các bài toán đơn về phép nhân và phép chia. Tôi có hướng dẫn học sinh ở mỗi dạng bài như sau: 1. Dạng bài toán có phép tính cộng Học sinh cần đọc kỹ đề bài, tìm hiểu các từ ngữ trong bài để xác định hướng giải của bài toán. Dạng này giáo viên hướng dẫn HS dựa vào một số từ ngữ để xác định dạng bài như: Ở phần “cho biết” thường có các từ “và”, “thêm”, phần cần tìm thường có các cụm từ “Hỏi có tất cả”, “hỏi cả hai 2 buổi”, “hỏi cả hai bạn”. Ví dụ 1: Bài tập 4 (Trang 14). Một lớp học có 14 học sinh nữ và 16 học sinh nam. Hỏi lớp học đó có tất cả bao nhiêu học sinh? – Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước: Giáo viên cho học sinh đọc thành tiếng, đọc thầm. Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều

Bạn đang xem bài viết Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!