Xem Nhiều 6/2023 #️ Một Số Phương Pháp Giải Bài Tập Chương Iii: Adn Và Gen Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Học 9 Ở Trường Thcs Nga Tân # Top 12 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 6/2023 # Một Số Phương Pháp Giải Bài Tập Chương Iii: Adn Và Gen Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Học 9 Ở Trường Thcs Nga Tân # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Phương Pháp Giải Bài Tập Chương Iii: Adn Và Gen Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Học 9 Ở Trường Thcs Nga Tân mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG III: ADN VÀ GEN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN SINH HỌC 9 Ở TRƯỜNG THCS NGA TÂN Người thực hiện: Phạm Đức Mạnh Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Nga Tân SKKN thuộc môn: Sinh học THANH HÓA, NĂM 2019 MỤC LỤC Trang A. Mở đầu 1 I. Lí do chọn đề tài 1 II. Mục đích nghiên cứu 1 III. Đối tượng nghiên cứu 1 IV. Phương pháp nghiên cứu 1 B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2 I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 III. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4 1. Dạng 1: Xác định trình tự nuclêôtit của gen (ADN) và ARN. 4 2. Dạng 2: Xác định số lượng nuclêôtit, chiều dài, khối lượng, số liên kết hiđrô của gen. 6 3. Dạng 3:  Bài tập thể hiện mối quan hệ giữa gen (ADN) và mARN 10 4. Dạng 4: Bài tập thể hiện mối quan hệ giữa gen (ADN), mARN và prôtêin. 14 5. Dạng 5. Tính số nuclêôtit của tế bào sinh dưỡng, giao tử. 17 IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18 C. Kết luận, kiến nghị 19 I. Kết luận 19 II. Kiến nghị 20 Tài liệu tham khảo Phụ lục A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây, toàn ngành giáo dục đang áp dụng những biện pháp về đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực và nâng cao trình độ nhận thức của học sinh, đem lại hiệu quả giảng dạy và học tập cao nhất, chuẩn bị hành trang về kiến thức và kĩ năng giúp các em phát triển toàn diện, tự tin trước những yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Vì thế công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trở thành một nhiệm vụ rất quan trọng của mỗi giáo viên. Qua thực tế giảng dạy trên lớp và trực tiếp tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học 9 tôi nhận thấy, bài tập về ADN và gen là nội dung khó, đa dạng và luôn chiếm một phần quan trọng trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi các cấp và thi tuyển vào lớp 10 trường THPT. Để giải quyết tốt bài tập về ADN và gen đòi hỏi học sinh phải ngoài niềm đam mê, ham học hỏi, hiểu rõ bản chất về ADN và gen, có kĩ năng toán học còn phải nắm vững hệ thống phương pháp giải và sự phân loại các dạng bài tập. Với đa số học sinh việc giải các bài tập về ADN và gen trở thành một thách thức, trở ngại khó vượt qua, vì thế sự hứng thú học tập dành cho bộ môn Sinh học có dấu hiệu bị giảm sút. Hiện nay các tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn giải bài tập về ADN và gen chưa đi sâu về phương pháp giảng dạy, có nhiều nội dung chưa phù hợp với đối tượng học sinh ở trường THCS nên nhiều thầy cô giáo gặp khó khăn trong việc tiếp cận, chọn lọc, phân loại các dạng bài tập và cách giải cho từng dạng bài, đặc biệt là phương pháp truyền đạt đến học sinh sao cho phù hợp, sáng tạo để phát triển năng lực của học sinh. Do đó, hiệu quả giảng dạy nội dung chương III (ADN và gen) trong chương trình Sinh học 9 nói chung, chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ lí do trên, tôi nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Một số phương pháp giải bài tập chương III: ADN và gen nhằm nâng cao chất lượng môn sinh học 9 ở trường THCS Nga Tân”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Mục đích nghiên cứu đề tài này là nhằm chỉ ra thực trạng của việc dạy và học cách giải bài tập chương III: ADN và gen trong thời gian qua ở trường THCS Nga Tân và giới thiệu cách làm có tính hệ thống nhằm giúp học sinh lớp 9 giải quyết các bài tập về ADN và gen một cách chính xác và nhanh gọn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn sinh học. III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Các phương pháp giải bài tập về ADN và gen, giúp học sinh phân biệt các dạng bài tập về ADN và gen. Hình thành và phát triển kĩ năng giải bài tập về ADN và gen nhằm nâng cao chất lượng môn sinh học 9 ở trường THCS Nga Tân. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp sau: 1. Phương pháp quan sát Đây là phương pháp được vận dụng thường xuyên trong từng giờ lên lớp. 2. Phương pháp trao đổi – Để biết được cách học tập của học sinh ở nhà cũng như mức độ tiếp thu bài ở lớp tôi trực tiếp trao đổi với các em. – Trao đổi với đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy. 3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm Sau khi áp dụng các phương pháp dạy học một thời gian, tôi tiến hành thống kê kết quả đạt được so sánh với kết quả của lớp không áp dụng đề tài. 4. Phương pháp nghiên cứu tài liệu B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ Sinh học là môn khoa học tự nhiên tập trung nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, chức năng, sự phát triển, tập tính và sự tiến hóa của sinh vật, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường. Đặc thù của môn sinh học là rất gần gũi với đời sống con người, học sinh dễ dàng quan sát các mẫu vật có sẵn trong thiên nhiên để phát hiện và tích luỹ kiến thức sinh học cho bản thân mình. Trong chương trình Sinh học lớp 9, chương III có nội dung mang tính khái quát, trừu tượng đòi hỏi giáo viên phải sâu về chuyên môn, thuần thục về phương pháp nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục. Ngoài việc dạy kiến thức lí thuyết, giáo viên còn phải dạy học sinh phương pháp giải bài tập. Thông qua bài tập về ADN và gen môn sinh học 9 giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức đã học, phát triển kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải bài tập, kĩ năng trình bày, kĩ năng tính toán Từ đó nâng cao năng lực tư duy, óc tưởng tượng, sáng tạo, rèn khả năng phán đoán, suy luận của học sinh. Để học và giải quyết tốt các bài tập về ADN và gen học sinh cần đạt được những yêu cầu sau: Một là, học sinh cần nắm vững kiến thức cơ bản về đặc điểm cấu tạo của gen (ADN), ARN và prôtêin bao gồm: + Cấu tạo hóa học của phân tử ADN (phần I, bài 15, SGK Sinh học 9). + Mô hình cấu trúc không gian phân tử ADN của J.Oatxơn và F.Crick công bố năm 1953 (hình 15, trang 45 SGK Sinh học 9). + Đặc điểm cấu tạo hóa học phân tử ARN (phần I, bài 17 SGK Sinh học 9), mô hình cấu trúc bậc 1 phân tử ARN (hình 17.1, trang 51 SGK Sinh học 9). + Cấu trúc của prôtêin (phần I, bài 18 SGK Sinh học 9). Hai là, học sinh cần hiểu rõ và trình bày được diễn biến, các nguyên tắc chi phối, cơ chế, kết quả của các quá trình sau: + Quá trình tự nhân đôi của ADN (phần I, bài 16 SGK Sinh học 9). + Quá trình phiên mã tổng hợp ARN (phần II, bài 17 SGK Sinh học 9). + Quá trình giải mã tổng hợp prôtêin (phần I, bài 19 SGK Sinh học 9). Ba là, học sinh phải thiết lập và ghi nhớ được hệ thống các công thức tính toán cần sử dụng giải bài tập về ADN và gen, biết cách vận dụng linh hoạt vào từng bài toán với những yêu cầu cụ thể. Từ những căn cứ trên và yêu cầu thực tiễn nhằm không ngừng nâng cao chất lượng bộ môn, việc áp dụng “Một số phương pháp giải bài tập chương III: ADN và gen” vào giảng dạy sinh học 9 trở thành một nhu cầu cấp thiết hiện nay. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ Bài tập về ADN và gen có nhiều dạng bài, mỗi dạng bài có phương pháp giải riêng biệt đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức về đặc điểm cấu tạo của ADN (gen) và các công thức tính toán cụ thể. Trong các đề thi học sinh giỏi Sinh lớp 9, thi tuyển sinh vào lớp 10 luôn đòi hỏi học sinh phải biết giải quyết các dạng toán này. Tuy nhiên hiện nay, đa số học sinh lớp 9 ở trường THCS Nga Tân chưa biết hệ thống hóa các dạng bài tập, ít được bồi dưỡng về cách giải, kĩ năng làm bài tập về ADN và gen của học sinh còn rất yếu. Học sinh tỏ ra lúng túng, không giải được những bài tập sinh học cơ bản về ADN và gen. Nhiều em học sinh có biểu hiện giảm niềm đam mê với môn Sinh học, chất lượng bộ môn vì thế cũng giảm sút. Qua tìm hiểu, tôi phát hiện một số nguyên nhân cơ bản sau: Một là, các em đã quen với phương pháp học môn sinh học ở các lớp dưới theo hướng trả lời các câu hỏi lí thuyết là chủ yếu, chưa tìm được mối quan hệ mật thiết logic giữa lí thuyết và bài tập. Hai là, phân phối chương trình hiện hành quy định thời gian dành cho việc luyện giải bài tập trên lớp quá ít trong khi lượng kiến thức ở mỗi tiết học lại nhiều, hầu hết giáo viên không có đủ thời gian để hướng dẫn các em một cách chi tiết, có hệ thống. Ba là, điều kiện kinh tế xã hội ở địa phương gặp nhiều khó khăn. Với đặc điểm là một xã ven biển có nhiều hộ nghèo, 95% học sinh trong trường đều là con các gia đình nông dân thuần túy. Nhiều học sinh có bố mẹ đi làm ăn xa, do đó sự quan tâm đến việc học hành của con em chưa thỏa đáng. Học sinh thiếu tài liệu bồi dưỡng, không được tạo các điều kiện thuận lợi cho việc học tập. Bốn là, kiến thức sinh học về ADN và gen rất đa dạng, trừu tượng, khó nắm bắt. Mỗi dạng bài tập khác nhau đều có những đặc trưng và cách giải riêng. Bên cạnh đó SGK không cung cấp hệ thống các công thức cần thiết để giải bài tập. Điều đó làm một bộ phận các thầy cô giáo gặp khó khăn trong việc phân loại các dạng bài tập và lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. Năm là, về phía nhà trường. Hiện nay, trường THCS Nga Tân chỉ có 2 giáo viên dạy Sinh học nên việc học hỏi, hỗ trợ lẫn nhau về chuyên môn có nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều khó khăn, chưa có các phòng thực hành, thí nghiệm; đồ dùng, thiết bị dạy học còn thiếu nên việc tương tác giữa giáo viên và học sinh trong các giờ học chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. Kết quả bài kiểm tra một tiết môn sinh học trước khi áp dụng vào giảng dạy “Một số phương pháp giải bài tập chương III: ADN và gen” đối với học sinh lớp 9 trường THCS Nga Tân năm học 2017 – 2018 phản ánh rõ nét năng lực giải bài tập về ADN và gen rất hạn chế, thể hiện qua tỉ lệ học sinh giỏi thấp, tỉ lệ học sinh yếu kém quá cao: TT Lớp Số HS Đánh giá năng lực Giỏi Khá TB Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 1 9A 41 1 2,4 6 14,7 21 51,2 8 19,5 5 12,2 2 9B 40 1 2,5 4 10,0 19 47,5 11 27,5 5 12,5 3 Tổng 81 1 2,5 10 12,3 40 49,4 17 23,5 10 12,3 Với mục tiêu giúp học sinh khắc sâu kiến thức, nắm vững phương pháp và hoàn thiện kĩ năng giải bài tập, khơi dậy sự hứng thú với bộ môn, tôi viết sáng kiến: “Một số phương pháp giải bài tập chương III: ADN và gen nhằm nâng cao chất lượng môn sinh học 9 ở trường THCS Nga Tân”. III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Để học sinh giải quyết tốt bài tập chương III (ADN và gen) một phần tôi lồng ghép trong giờ học lý thuyết trên lớp. Phần lớn thời gian còn lại là bồi dưỡng vào các chiều thứ 3, thứ 5 và thứ 7 hàng tuần. Phân loại bài tập thành các dạng, hướng dẫn học sinh phương pháp giảng của từng dạng bài, sau đó học sinh vận dụng vào từng bài tập cụ thể với nhiều phương pháp dạy học tích cực. Đối với nội dung “Vận dụng giảng dạy trên lớp” tôi tổ chức cho học sinh giải quyết các bài toán điển hình bằng sự kết hợp các phương pháp dạy học tích cực như: Hoạt động nhóm, khăn trải bàn, học tập cá nhân phát triển tư duy … Đối với nội dung “Bài tập tự luyện” tôi hướng dẫn cho học sinh chủ động vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các bài tập cụ thể thông qua hai phương pháp chủ yếu là tự học và dạy học theo hợp đồng (giao nhiệm vụ về nhà). Sau đây tôi trình bày các nhóm giải pháp và tổ chức thực hiện. 1. Dạng 1: Xác định trình tự nuclêôtit của gen (ADN) và ARN. 1.1. Kiến thức cần nhớ – Xác định trình tự nuclêôtit trên mạch còn lại của ADN (gen): Căn cứ nguyên tắc cấu tạo của ADN, các đơn phân của hai mạch liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung (NTBS): A liên kết với T, G liên kết với X và ngược lại. – Xác định trình tự nuclêôtit trên ARN: Căn cứ cơ chế quá trình phiên mã, phân tử ARN chỉ được tổng hợp từ mạch gốc của gen theo nguyên tắc bổ sung. Mạch ARN được tổng hợp có trình tự các nuclêôtit tương ứng với trình tự các nuclêôtit trên mạch gốc của gen theo nguyên tắc bổ sung, hay giống với trình tự các nuclêôtit trên mạch bổ sung của gen, chỉ khác T được thay thế bằng U: Mạch gốc của gen Mạch bổ sung của gen ARN được tổng hợp A T G X T A X G U A X G 1.2. Vận dụng giảng dạy trên lớp – Phạm vi áp dụng: Sau khi học xong tiết 17, bài 17 – Sinh học 9 Hoạt động của GV – HS Nội dung – GV hướng dẫn HS ? Bài tập cho biết thông tin gì ? Yêu cầu của bài toán là gì ? Để xác định được trình tự nuclêôtit tương ứng trên mạch bổ sung ta cần sử dụng kiến thức nào – HS cần trả lời được: + Đề bài cho biết trình tự nuclêôtit một đoạn mạch của gen + Để xác định mạch bổ sung cần nắm được nguyên tắc bổ sung. – HS trình bày lời giải. – GV nhận xét, chốt nội dung bài toán. – GV lưu ý: Trình tự nuclêôtit mARN giống trình tự nuclêôtit của mạch bổ sung, chỉ thay T bằng U. – GV hướng dẫn HS khai thác bài ? Bài toán cho biết thông tin gì ? Nêu yêu cầu của bài toán ? Em hãy cho biết mối tương quan về số lượng, trình tự các nulêôtit giữa trên phân tử mARN và mạch gốc của gen ? Dựa vào đoạn mARN đã cho, em hãy xác định trình tự nuclêôtit tương ứng trên mạch gốc của gen + Bài toán cho biết trình tự nuclêôtit một đoạn phân tử mARN + Về tương quan: Các nuclêôtit trên mARN và mạch gốc của gen có số lượng bằng nhau, có trình tự tuân thủ NTBS trong phiên mã tổng hợp mARN Mạch gốc của gen mARN A T G X U A X G – GV đặt vấn đề: ? Để xác định trình tự nuclêôtit tương ứng trên mạch bổ sung của gen khi biết trình tự nuclêôtit tương ứng trên mạch gốc ta vận dụng kiến thức nào – HS cần chỉ rõ được: Các nuclêôtit trên 2 mạch đơn của gen liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung : A – T, G – X và ngược lại. – HS trình bày lời giải. – GV nhận xét, chốt nội dung bài toán. Bài toán 1: Một gen chứa đoạn mạch gốc có trình tự nuclêôtit  là: … A- G – X – T – T – A – G – X – A… Xác định trình tự nuclêôtit tương ứng trên mạch bổ sung của gen và phân tử mARN được tổng hợp từ đoạn gen này. Giải: Theo bài ra: – Mạch bổ sung của gen:  T – X – G – A – A – T – X – G – T – Đoạn mARN do gen tổng hợp nên:    U – X – G – A – A – U – X – G – U Bài toán 2: Một đoạn mạch phân tử mARN có trình tự nuclêôtit là: … A- G – X – U – A – U – G – X – A Xác định trình tự nuclêôtit tương ứng của gen tổng hợp phân tử mARN đó. Giải: Theo nguyên tắc bổ sung trong quá trình tổng hợp mARN thì trình tự nuclêôtit tương ứng của gen cần xác định là: – Mạch gốc của gen:           … T – X – G – A – T – A – X – G – T … – Mạch bổ sung của gen:   … A – G – X – T – A – T – G – X – A … 1.3. Bài tập tự luyện Bài 1: Một gen chứa đoạn mạch bổ sung có trình tự nuclêôtit  là: … G – A – X – T – X – A – G – T – A… Xác định trình tự nuclêôtit tương ứng trên mạch bổ sung của gen và phân tử mARN được tổng hợp từ đoạn gen này. Hướng dẫn: Mạch bổ sung của gen: X – A – G – A – G – T – X – A – T Mạch mARN: X – A – G – A – G – U – X – A – U Bài 2: Một gen chứa đoạn mạch 9 cặp nuclêôtit có cấu trúc như sau: Mạch gốc: … T – ? – A – T – ? – ? – X – ? – A … Mạch bổ sung: … ? – G – ? – ? – X – X – ? – G – ? … Xác định trình tự nuclêôtit của đoạn gen và phân tử mARN được tổng hợp từ đoạn gen này. Hướng dẫn: Mạch gốc của gen: … T – X – A – T – G – G – X – X – A… Mạch bổ sung của gen: … A – G – T – A – X – X – G – G – T Mạch mARN: … A – G – U – A – X – X – G – G – U Bài 3: Một đoạn mạch phân tử mARN có trình tự nuclêôtit là: … U – X – G – X – A – U – A – G – X – A – U – G Xác định trình tự nuclêôtit tương ứng của gen tổng hợp phân tử mARN đó. Hướng dẫn: Mạch gốc của gen: …A – G – X – G – T – A – T – X – G – T – A – X … Mạch bổ sung của gen: …T – X – G – X – A – T – A – G – X – A – T – G 2. Dạng 2: Xác định số lượng nuclêôtit, chiều dài, khối lượng, số liên kết hiđrô của gen. 2.1. Kiến thức cần nhớ – Tính chiều dài gen: – Số chu kì xoắn trên gen: – Số nuclêôtit của gen : – Số liên kết hiđrô của gen: H = 2A + 3G – Khối lượng phân tử ADN (gen): M = N 300. – Số liên kết phôtpho đieste: + Số liên kết phôtpho đieste trên một mạch là: N – 1. + Số liên kết phôtpho đieste trên cả phân tử ADN là: 2(N – 1) = 2N – 2 – Sự tái bản của gen. Gọi số lần tái bản của gen là k. + Số gen con được tạo ra: 2k. + Số gen con có 2 mạch hoàn toàn mới được tạo ra: 2k – 1. + Số nuclêôtit trong các gen con: N2k + Số nuclêôtit môi trường cung cấp: N(2k – 1) + Số liên kết hiđrô bị phá hủy: Hphá hủy = H(2k - 1). + Số liên kết hiđrô hình thành: Hhình thành = H2k – Tương quan số lượng nuclêôtit trong gen: + Trên từng mạch: Về số lượng Về tỉ lệ Mạch gốc (mạch 1) Mạch bổ sung (mạch 2) Mạch gốc (mạch 1) Mạch bổ sung (mạch 2) A1 = T2 %A1 = % T2 T1 = A2 % T1 = % A2 G1 = X2 % G1 = % X2 X1 = G2 % X1 = % G2 Hệ quả : A = T = A1 + A2 = T1 + T2 = A1 + T1 = A2 + T2 G = X = G1 + G2 = X1 + X2 = G1 + X1 = G2 + X2 + Trên gen: A = T; G = X → A + G = T + X %A = %T, %G = %X → %A + %G = %T + %X = 50% 2.2. Vận dụng giảng dạy trên lớp – Phạm vi áp dụng: + Bài toán 1: Sau khi học xong tiết 15, bài 15 – Sinh học 9. + Bài toán 2, 3: Sau khi học xong tiết 16, bài 16 – Sinh học 9. Hoạt động của GV – HS Nội dung – HS đọc đề bài. – GV hướng dẫn HS xác định số lượng từng loại nuclêôtit trên gen. ? Bài toán cho biết những thông tin gì ? Yêu cầu của bài toán là gì ? Từ chiều dài của gen, em hãy nêu công thức tính số nuclêôtit của gen Từ chiều dài gen → số nuclêôtit của gen theo công thức: – GV hướng dẫn HS khai thác bài : ? Các loại nuclêôtit trong gen có mối quan hệ như thế nào với nhau về số lượng và tỉ lệ phần trăm ? Từ thông tin %A = 20%, em hãy xác định tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit còn lại trong gen. Trong gen thì: A = T, G = X %A = %T, %G = %X – HS tiến hành giải yêu cầu 1 của bài tập theo hướng khai thác trên. – GV nhận xét, sửa lỗi (nếu có), hoàn thiện bài giải. – GV hướng dẫn HS giải quyết các nội dung còn lại của bài tập. ? Em hãy nêu công thức để xác định: + Số liên kết hiđrô và khối lượng của gen + Số chu kỳ xoắn của gen. – HS nêu các công thức sử dụng, vận dụng tính toán theo yêu cầu bài toán. – GV nhận xét, sửa lỗi (nếu có), hoàn thiện bài giải. – GV hướng dẫn HS xác định số lượng từng loại nuclêôtit trên gen: ? Nêu mối tương quan về số lượng các loại nuclêôtit trong gen ? Hãy xác định số lượng từng loại nuclêôtit của gen – HS cần xác định được: + Mối quan hệ về số lượng các loại nuclêôtit của gen là: A = T, G = X. + Rút ra công thức: A = T = – HS tiến hành giải yêu cầu 1 của bài tập theo hướng khai thác trên. – GV nhận xét, sửa lỗi (nếu có), hoàn thiện bài giải. – GV hướng dẫn HS giải quyết các nội dung còn lại của bài tập (từ 2 đến 4). ? Nêu công thức nào để xác định : + Số gen con được tạo thành. + Số nuclêôtit trong các gen con + Số nuclêôtit môi trường cung cấp. – HS nêu các công thức sử dụng, vận dụng tính toán theo yêu cầu bài toán. – GV nhận xét, hoàn thiện bài giải. – GV chia nhóm học tập, yêu cầu HS hoạt động nhóm hoàn thiện nội dung bài toán 3. – GV hỗ trợ các nhóm khai thác thông tin bài toán về các nội dung sau: + Mối tương quan về số lượng giữa các loại nuclêôtit trên 2 mạch đơn của gen: A1 = T2, T1 = A2, G1 = X2, X1 = G2. + Mối quan hệ về tỉ lệ % giữa các loại nuclêôtit trong gen: %A = %T, %G = %X %A + %G = %T + %X = 50% – HS các nhóm tiến hành giải bài toán, báo cáo kết quả. – GV nhận xét, chốt nội dung bài toán. – HS hoàn thiện bài toán 3. Bài toán 1: Một gen có chiều dài là 5100, số nuclêôtit loại Ađênin chiếm 20%. Hãy xác định: 1. Số lượng từng loại nuclêôtit trên gen. 2. Số liên kết hiđrô và khối lượng của gen 3. Số chu kỳ xoắn của gen. Giải: 1. Số nuclêôtit của gen: N = = 3000 (nu) Theo NTBS ta có : %A = %T = 20

Phương Pháp Giải Một Số Dạng Phương Trình Môn Toán Ở Cấp Thcs

; z1 = 1; z2 = -55 (loại) Tập nghiệm của phương trình (2.6.1) là: S{-4;-6} Ví dụ 2: Giải phương trình: (x-6)4 + (x-8)4 = 16 (2.6.2) 2y4 + 12y2 + 2 = 16 y4 + 6y2 - 7 = 0 7.3.2.7. Phương trình dạng: (x+a)(x+b)(x+c)(x+d) = mx2 (2.7) trong đó ad =bc a. Cách giải: Ta nhóm: [(x+a) (x+d)][ (x+b) (x+c)] = mx2 [x2 + (a+d)x + ad] x2 + [(b+c)x + bc] = mx2 (2.7.1') Ta thấy x = 0 không là nghiệm của phương trình (2.7.1'), chia cả hai vế của phương trình (2.7.1') cho x2. (2.7.1') [x + (a+d) + ad x-1] x + (b+c) + bc x-1] = m Đặt: y = x+ad x-1 ta có phương trình: [y+(a+d] [y+(b+c)] = m (2.7.1'') Giải phương trình (2.7.1'') ta được nghiệm y0. Giải phương trình x+ad x-1 = y0 ta được nghiệm của phương trình (2.7) b. Các ví dụ: Ví dụ 1: Giải phương trình: (x+2)(x+3)(x+8)(x+12) = 4x2 (2.7.1) Giải: (2.7.1) [((x+2) (x+12)][ (x+3) (x+8)] = 4x2 (x2 + 14x+24) (x2 + 11x+ 24)= 4x2 Phương trình này không có nghiệm x = 0 , chia cả hai vế của phương trình x2 0 ta được phương trình: Tập nghiệm của phương trình (2.7.1) là: S = Ví dụ 2: Giải phương trình: (x+1) (x-4) (x+3) (x-12) = -2x2 (2.7.2) Giải: (2.7.2) [(x+1) (x-12)] [(x-4) (x+3)] = -2x2 (x2 - 11x - 12) (x2 - x - 12) = -2x2 phương trình không có nghiệm x=0, chia cả hai vế của phương trình cho x2 0 ta được: (x - 11 - 12/x) ( x-1 - 12/x) = -2 Đặt: x-12/x = y phương trình trở thành. (y-11) (y-1) = -2 y2 - 12y + 13 = 0 Tập nghiệm của phương trình (2.7.2) là: S= 7.3.2.8. Phương trình dạng: d(x+a)(x+b)(x+c) = mx (2.8) trong đó d=; m=(d-a)(d-b) (d-c) b. Các ví dụ: Ví dụ 1: Giải phương trình (x-2)(x-3)(x+7) = -72x (2.8.1) (y-3)(y-4)(y+6) = -72(y-1) y3 - y2 + 42y = 0 y(y2- y + 42) = 0 Phương trình vô nghiệm Tập nghiệm của phương trình (2.8.1) là: S={-1} Ví dụ 2: Giải phương trình: 8(x+2)(x+5)(x+9) = -18x (2.8.2) 8 (y-6) (y-3)(y+1) = -18 (y-8) 4y3 - 32y2 + 45y = 0 y(4y2 - 32y + 45) = 0. Giải phương trình này ta được: y1 = 0; y2 = Tập nghiệm của phương trình: (2.8.2) là: S = 7.3.2.9. Phương trình có dạng: ( x+a) (x+b) ( x+ c) (x+d) = m (2.9) trong đó: a+d= b +c a. Cách giải: Ta nhóm [(x+a) (x+d) ] [(x+b) (x+c)] = m (2.9.1') Đặt: y = (x+a) (x+d) thay vào phương trình (2.9.1') ta tìm được y0. Giải phương trình (x+a) (x+d) = y0 ta có x0 là nghiệm của phương trình (2.9.1') b. Các ví dụ: Ví dụ 1: Giải phương trình: (x+5) (x+6) (x+8) (x+9) = 40 (2.9.1) Giải: (2.9.1) [(x+5) (x+9)] [(x+6) (x+8) ] = 40 (x2 + 14x + 45) (x2 + 14x + 48) = 40 Đặt: x2 + 14x + 45 = y phương trình có dạng: y(y+3) = 40 Tập nghiệm của phương trình: (2.9.1) là: S = {-4; -10} Ví dụ 2: Giải phương trình: (x-1) (x+7) (x2 + 2x - 15) = 297 (2.9.2) Giải: (2.9.2) (x-1) (x+7) (x-3) (x+5) = 297 [(x-1) (x+5) [(x+7) (x-3)] = 297 (x2 + 4x - 5) (x2 + 4x - 21) = 297 Đặt x2 + 4x - 5 = y phương trình có dạng: y(y-16) = 297 Tập nghiệm của phương trình (2.9.2) là: S = {-8;4} 7.3.2.10. Phương trình tam thức: a. Định nghĩa: Phương trình tam thức là phương trình có dạng: ax2n + bxn + c = 0 (a0) (2.10) Trong đó: a,b,c là các số thức, n nguyên dương, n2. Nếu a,b,c là các số thực đồng thời khác 0 và n = 2 thì (2.10) là phương trình trùng phương. b. Cách giải: Đặt xn = y (2.10) Giải; (**) ta tìm được y0 thay vào (*) ta tìm được x0 là nghiệm của (2.10). c. Các ví dụ: Ví dụ 1: Giải phương trình: x6 - 7x3 + 6 = 0 (2.10.1) Tập nghiệm của phương trình (2.10.1) là: S = {1; } Ví dụ 2: Giải phương trình: x10 + x5 - 6 = 0 (2.10.2) Tập nghiệm của phương trình (2.10.2) là: S = {; } 7.3.3. Phương pháp 3: Đưa hai vế về luỹ thừa cùng bậc. a. Cơ sở lý luận: Thêm bớt vào hai vế của phương trình đi cùng một biểu thức (hay 1 số) để đưa 2 vế của phương trình trở thành 2 luỹ thừa cùng bậc. Phương trình: An = Bn (3.1) + Nếu n là số chẵn thì A = B (3.2) + Nếu n là số lẻ thì A = B (3.3) Giải phương trình (3.2) và (3.3) ta tìm được nghiệm của phương trình (3.1) b. Các ví dụ: Ví dụ 1: Giải phương trình: x4 = 24x + 32 (3.1.1) Giải: Cộng 4x2 + 4 vào hai vế của phương trình (3.1.1) ta có: x4 +4x2 + 4 = 4x2 + 24x + 36 (x2 + 2) 2 = (2x+ 6)2 phương trình vô nghiệm Tập nghiệm của phương trình (3.1.1) là: S = { ; } Ví dụ 2: Giải phương trình: (x2 - 9)2 = 12x +1 (3.1.2) Giải: Cộng 36x2 vào hai vế của phương trình thì (3.1.2) (x2 - 9)2 + 36x2 = 36x2 + 12x + 1 (x2 + 9)2 = (6x + 1)2 phương trình vô nghiệm Tập nghiệm của phương trình (3.1.2) là: S = {2;4} 7.3.4. Phương pháp 4: Dùng bất đẳng thức a. Cơ sở lý luận: * Dùng tính đơn điệu của hàm số trên từng khoảng: Đưa phương trình đã cho về dạng f(x) = g(x) (1*) + Nếu f(x) tăng trên [a,b] g(x) giảm trên [a,b] thì x0 là nghiệm duy nhất của (1*) f(x0) = g(x0) + Nếu f(x) giảm trên [a,b] g(x) tăng trên [a,b] thì x0 là nghiệm duy nhất của (1*) f(x0) = g(x0) * Dùng các bất đẳng thức. dấu "=" xẩy ra khi AB 0 dấu "=" xẩy ra khi AB 0 dấu "=" xẩy ra khi A 0 b. Các ví dụ: Ví dụ 1: Giải phương trình: (4.1) Giải: áp dụng hằng bất đẳng thức dấu "=" xẩy ra khi AB 0 Xẩy ra dấu đẳng thức khi và chỉ khi: x(1-x) 0 0x1 Tập nghiệm của phương trình (4.1) là: S = {x/0x1} Ví dụ 2: Giải phương trình (4.2) Giải: Viết phương trình (4.2) dưới dạng: Dễ thấyx =8; x =9 đều là nghiệm của(4.2).Xét các giá trị còn lại của x. Với x<8 thì còn Với 8<x<9 thì 0 = x - 8 0 Kết luận:Tập nghiệm của phương trình (4.2) là: S = {8;9} 7.3.5. Phương pháp 5: Dùng tính chất về số nghiệm thực của phương trình a. Cơ sở lý luận: Người ta chứng minh được rằng phương trình đại số bậc n có không quá n nghiệm thực. Do đó nếu ta chỉ ra được n nghiệm của một phương trình đại số bậc n thì đó là tất cả các nghiệm của phương trình đó. Ví dụ: Giải phương trình với a là tham số: (a2 - a)2 (x2 - x+1)3 = (x2 - x)2 (a2 - a + 1)3 (5.1) Giải: Với a = 0 hoặc a = 1 thì (5.1) có hai nghiệm: 0 và 1 Xét a 0, a 1. Khi đó x 0 (Vì nếu x = 0 thì a = 0 hoặc a = 1). Gọi m là nghiệm của (5.1). Chia hai vế của (5.1.1') cho m2 ta có: (a2 - a)2 (1-1/m+1/m2)3 = (1/m - 1/m2)2 (a2 - a + 1)3 (a2 - a)2 (1/m2 - 1/m + 1)3 = (1/m2 - 1/m)2 (a2 - a + 1)3. Điều này chứng tỏ rằng 1/m cũng là nghiệm của (5.1). Ta dễ dàng chứng minh được 1- m cũng là nghiệm của (5.1). Vậy a là một nghiệm của (5.1) theo trên thì 1/a và 1-a cũng là nghiệm của (5.1). Do 1/a là nghiệm của (5.1) nên 1-1/a cũng là nghiệm của (5.1). Do 1-a là nghiệm của (5.1) nên cũng là nghiệm của (5.1). Do đó 1- cũng là nghiệm của (5.1). Điều kiện để sáu giá trị a, 1/a, 1-a, 1-1/a, , 1- đôi 1 khác nhau là: a0, a 1, a-1; a 2; a1/2. Các trường hợp a = 0, a = 1 đã xét ở trên. Trong mỗi trường hợp a = -1, a =2, a = 1/2, phương trình (5.1) đều có dạng: 4(x2 - x + 1)3 = 27 (x2 - x)2. (x+1)2 (x-2)2 (2x-1)2 = 0 Phương trình có 3 nghiệm kép: -1; 2; 1/2. Trong trường hợp a0, a1, a 2, a1/2, phương trình có 6 nghiệm nêu trên, không còn nghiệm nào khác. 7.3.6. Một số phương pháp khác: Ví dụ 1: Giải phương trình: (3-x)4 + (2-x)4 = (5-2x)4 (6.1) y4 + z4 = (y+z)4. Khai triển vế phải, rút gọn rồi biến đổi ta được: yz (2y2 + 3yz + 2z2 ) = 0 7x2 - 35x + 44 = 0 phương trình vô nghiệm. Tập nghiệm của phương trình (6.1) là: S = {3;2} Ví dụ 2: Giải phương trình: (x2 - x + 1)4 - 10x2 (x2 - x + 1)2 + 9x4 = 0 (6.2) Giải: Đặt (x2-x+1)2 = y phương trình (6.2) trở thành: y2-10x2y +9x4 = 0 Phương trình vô nghiệm Tập nghiệm của phương trình (6.2) là: S = {1; - 1; ; } Ví dụ 3: Giải và biện luận phương trình với a là tham số: x4 - 2ax2 - x + a2 - a = 0 (6.3) Giải: Biến đổi (6.3) (x2 - x - a) (x2 + x + 1 - a) = 0 Phương trình (*) có 1 = 1+4a, phương trình (**) có 2 = 4a-3 - Nếu a<-1/4 phương trình vô nghiệm - Nếu a =-1/4 phương trình có nghiệm duy nhất x = 1/2 - Nếu -1/4 <a < 3/4 phương trình có hai nghiệm: - Nếu a = 3/4 phương trình có hai nghiệm: x1 = -1/2; x2 = 3/2 2.3.3: Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp - Về mặt lý luận: Rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, kỹ năng Giải phương trình ở bậc THCS. Giúp các em có hứng thú học tập, ham mê học Toán và phát huy năng lực sáng tạo khi gặp các dạng toán khó khi giải phương trình. - Về thực tiễn: Giúp học sinh nắm vững các phương pháp Giải phương trình trong giải toán Đại Số lớp 8, 9 nói riêng và ở bậc THCS nói chung, phát hiện và vận dụng các phương pháp giải phù hợp với từng bài toán cụ thể ở các dạng khác nhau . 2.3.4: Mối liên hệ giữa giải pháp , biện pháp: Thông qua việc hướng dẫn học sinh giải các dạng toán. 2.3.5: Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.4: Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Khảo sát trước khi áp dụng đề tài: a) Kết quả: - Học sinh không ngại khi gặp dạng toán giải phương trình. - Kĩ năng biến đổi tốt hơn, suy luận của các em chặt chẽ hơn bước đầu đã có sự sáng tạo khi suy luận. - Khả năng phân dạng của các em rất tốt khi GV đưa ra ví dụ . - Một số học sinh khi giải đã trả lời thấy hứng thú hơn khi giải phương trình . Từ kết quả cụ thể trên tôi đã rút ra một số kinh nghiệm cho bản thân cũng như đồng nghiệp khi giải phương trình là: - Cần phân dạng phương trình thành những dạng quen thuộc mà các em đã được gặp trên cơ sở phương pháp giải và giáo viên đưa ra. - Những loại bài tập giao cho học sinh phải thực tế, dễ hiểu, gợi mở giúp kích thích óc sáng tạo của học sinh không quá cao siêu, trừu tượng... - Hướng dẫn các em trước khi giải toán phương trình cần xác định rõ dạng của phương trình này và phương pháp giải hướng dẫn học sinh phân tích bài toán, phán đoán cách giải, các bước giải để các em đi đến lời giải thông minh và ngăn gọn nhất, đạt hiệu quả cao. - Rèn kỹ năng giải phương trình cho học sinh thông qua nhiều dạng phương trình và thường xuyên chú ý đến những sai lầm của học sinh thường mắc phải khi giải phương trình, nhất là tìm ĐKXĐ của phương trình. - Trên cơ sở làm một số bài tập mẫu thật cẩn thận giáo viên cần giao thêm lượng bài tập về nhà có nội dung tương tự hoặc mở rộng hơn để các em được tự mình giải các loại phương trình. *Qua kết quả khảo sát, kiểm tra trước khi áp dụng đề tài Một số phương pháp giải phương trình với học sinh lớp 8B (năm học 2013-2014); học sinh lớp 9A , 9B(năm học 2014-2015) trường THCS Thanh Thủy tôi thấy kết quả tiếp thu về loại Toán giải phương trình như sau: Lớp Điểm dưới 5 Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10 % % % % 8B 14/34=41,2% 12/34=35,3 % 6/34= 17,6 % 2/34=5,9% 9B 10/34=29,4% 12/34=35,3 % 8/34= 23,5 % 4/34=11,8% 9A 13/32= 40,6 % 12/32= 37,5 % 5/32= 15,6% 2/32= 6,3% b). Nguyên nhân của thực tế trên: Do các em chưa nắm chắc các dạng phương trình, và phương pháp giải của ừng dạng phương trình. Các bài tập về giải phương trình lại tương đối đa dạng, từ dễ đến khó, nên việc suy luận còn hạn chế lúng túng dẫn đến kết quả rất thấp và đặc biệt đối với học sinh trung bình các em rất khó giải quyết được bài toán, vì còn thiếu kĩ năng suy luận và các kĩ năng biến đổi . 2. Kết quả sau khi áp dụng đề tài :(Năm học 2013-2014 và năm học 2014-2015) Lớp Điểm dưới 5 Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10 % % % % 8B 10/34=29,4% 12/34=35,3 % 8/34= 23,5 % 4/34=11,8% 9B 8/34= 23,5 % 10/34=41,2% 10/34=41,2% 6/34= 17,6 % 9A 10/32= 31,3 % 10/32= 31,3 % 8/32= 25,0% 4/32= 12,5% Nhận xét: Sau khi áp dụng đề tài tôi thấy rằng chất lượng qua kiểm tra đã được nâng lên đáng kể, đặc biệt là đối tượng HS (trung bình, khá) . 3.Bảng thống kê kết quả kiểm tra - Khi chưa áp dụng đề tài tôi nhận thấy học sinh lúng túng gặp không ít khó khăn trong khi làm bài toán: : Giải phương trình . - Sau khi áp dụng đề tài thì đó khắc phục được nhược điểm lúng túng, giải quyết phần nào những khó khăn cho học sinh, tạo cơ sở và niềm tin vững chắc cho học sinh trong học tập môn toán. Năm học Đề tài Giỏi Khá TB Yếu Kém 2013-2014 Chưa áp dụng 6,5% 12,0% 32,5% 31% 18% 2014-2015 Đã áp dụng 12,5% 27,0% 42,5% 11,8% 6,2% 3. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ: 3.1: Kết luận +Cuối năm học đa số các em đó thành thạo với loại việc Giải phương trình, đã nắm được các dạng toán và phương pháp giải từng dạng, các em biết trình bày đầy đủ, khoa học, lời giải chặt chẽ, rõ ràng, các em cảm thấy thích thú khi giải phương trình. + Học sinh tiếp thu bài nhanh dễ hiểu hơn, yêu thích môn toán hơn + Học sinh tránh được những sai sót cơ bản,và có kĩ năng vận dụng thành thạo cũng như phát huy được tính tích cực của học sinh . - Việc nghiên cứu triển khai phương pháp Giải phương trình, nói riêng và phần nói chung theo định hướng bồi dưỡng học sinh giỏi, trước hết là có thể làm được. -Việc áp dụng cách làm trên trong điều kiện hiện nay là khả thi, nếu người thầy luôn thường xuyên đầu tư thoả đáng. trước hết là khâu chuẩn bị tài liệu và nắm vững một lượng kiến thức lớn, và loại toán này thực sự là một chuyên đề chúng ta cần quan tâm đến nhiều, nó thực sự đa dạng phong phú đề cập đến nhiều kiến thức trong trường Phổ thông, nó có tính tổng hợp cần phải vận dụng nhiều đơn vị kiến thức cùng một lúc vào giải quyết một vấn đề, và là nền móng cho các em học lên cấp trên. -Tuy nhiên để đạt được kết quả như mong muốn ,đòi hỏi người giáo viên cần hệ thống, phân loại bài tập thành từng dạng,giáo viên xây dựng từ kiến thức cũ đến kiến thức mới từ cụ thể đến tổng quát, từ dễ đến khó và phức tạp, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh . -Do điều kiện và năng lực của bản thân còn hạn chế, các tài liệu tham khảo chưa đầy đủ, nên chắc chắn đề tài có lời giải chưa phải là chuẩn nhất, bản thân tôi mong muốn và hy vọng đề tài này ít nhiều cũng giúp học sinh hiểu kỹ hơn về :" phương pháp giải một số dạng phương trình môn toán" trong trường phổ thông cấp THCS . Sau khi áp dụng ở trường tôi thấy sáng kiến này đã phần nào có tác dụng đối với học sinh và giáo viên lớp 9 của trường, nó tạo hứng thú học toán đối với các em đặc biệt là dạng toán mà thường ngày các em rất ngại... Đề tài này đã cố gắng xây dựng một hệ thống kiến thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp giúp học sinh có thể vận dụng một cách linh hoạt từng phương pháp cụ thể trong từng trường hợp nhất định. Qua đó học sinh có thể đào sâu kiến thức, tìm tòi nhiều cách giải cho một bài toán. Bên cạnh đó các ví dụ có thể giúp học sinh có thể rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo làm quen với các dạng bài tập khác nhau, các loại phương trình khác nhau, góp phần nhỏ bé trong sự phát triển trí tuệ, tính cẩn thận, khoa học, năng lực nhận xét, phân tích, phán đoán tổng hợp kiến thức...Tuy nhiên không phải đối với tất cả các đối tượng học sinh chúng ta đều truyền tải các nội dung trên mà cần xác định đúng đối tượng để cung cấp kiến thức cơ bản phù hợp với trình độ và quỹ thời gian của học sinh. Ngoài việc tự nghiên cứu tài liệu, sự nỗ lực của bản thân,qua thực tế giảng dạy, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong tổ toán trường : THCS Thanh Thủy và tài liệu của các đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này. 3.2: Kiến nghị. *Đề nghị các cấp quản lý : - Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy - học để việc tổ chức tiết học đạt hiệu quả. * Đề nghị Phòng giáo dục & Đào tạo mở các chuyên đề để chúng tôi có điều kiện trao đổi và học hỏi thêm. * Đề nghị Hội đồng tuyển sinh huyện cần quan tâm hơn nữa đến chất lượng tuyển sinh đầu vào. * Đề nghị hội phụ huynh học sinh cần quan tâm hơn nữa đến việc học tập của con em mỡnh. Trong đề tài này chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Bản thân rất mong được sự đóng góp ý kiến bổ sung của ban giám khảo, cuả các đồng chí chuyên viên phòng giáo dục, các đồng nghiệp để vốn kiến thức của tôi ngày càng hoàn thiện và phong phú , góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh../. Xin trân trọng cám ơn ! Thanh Thuỷ, ngày 20 tháng03 năm 2015 Người viết : Xác nhận của nhà trường: Đỗ Thanh Tùng TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/ Một số vấn đề phát triển đại số 8, 9 - Vũ Hữu Bình (NXBGD); 2/ 23 chuyên đề giải 1001 bài toán sơ cấp - Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Đức Đồng (NXBGD); 3/ Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi toán THCS phần "Đại số" - Nguyễn Vũ Thanh (NXBGD); 4/ Toán nâng cao và các chuyên đề "Đại số 8, 9" - Vũ Dương Thuỵ, Nguyễn Ngọc Đạm (NXBGD); 5/ Tuyển tập 30 năm Toán học và tuổi trẻ - (NXBGD) 6/ Đại số 10 - Trần Văn Hạo, Vũ Tuấn, Doãn Minh Cường, Đỗ Mạnh Hùng, Nguyễn Tiến Tài (NXBGD) 7/ Phương trình bậc hai và một số ứng dụng - Nguyễn Đức Tấn, Vũ Đức Đoàn, Trần Đức Long, Nguyễn Anh Hoàng, (NXBGD) MỤC LỤC

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2

Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGGIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2

I. ĐẶT VẤN ĐỀ Như chúng ta đã biết, mục tiêu giáo dục là quốc sách hàng đầu. Xuất phát từmục tiêu giáo dục bậc Tiểu học là góp phần đào tạo những con người lao động thôngminh, linh hoạt, năng động, chủ động, sáng tạo và thích ứng. Bậc Tiểu học là nền tảngcủa giáo dục phổ thông và cũng là nền tảng của dân trí. Trên cơ sở đổi mới phươngpháp dạy học phù hợp với xu thế chung của cả nước về yêu cầu giáo dục hiện nay.Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Toán nói riêng là cần thiết. Phân môn Toán trong chương trình giảng dạy Toán lớp 2 chiếm một vị trí quantrọng trong bậc Tiểu học. Nó là nền tảng cho việc học tốt môn Toán ở các lớp tiếptheo của bậc Tiểu học và Trung học sau này. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu của chương trình Toán lớp 2. Từ những hạn chếcủa tâm lý lứa tuổi. Từ tình hình thực tiễn, trình độ nhận thức của học sinh tiểu họcnói chung, của lớp tôi nói riêng, các em đa số ” Giải toán có lời văn” còn yếu vì nhiềunguyên nhân, trong đó vẫn là : Do đặc điểm sinh lý lứa tuổi, các em thường vội vànghấp tấp, nên đôi khi chưa hiểu kỹ đề bài đã vội vàng làm bài, dẫn đến kết quả chưacao. Việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung và học sinh

lớp 2 nói riêng, bản thân tôi cũng như nhiều bạn đồng nghiệp còn băn khoăn trăn trở,làm thế nào để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. bản thântôi cần phải nghiên cứu, tìm các biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bàitoán một cách vững vàng; mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận thông quacách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện. Từ đó giúp cácem hứng thú, say mê học toán. Với những lý do trên, tôi đã chọn giải pháp ” Một sốbiện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2″II. THỰC TRẠNG: Thuận lợi: Được sự quan tâm của BGH trường. Các em có đầy đủ đồ dùng họctập và có một số em chuẩn bị bài trước khi đến lớp và có cùng một độ tuổi.Khó khăn:Với thực tế học sinh lớp tôi còn có một số em giải toán có lời vănthiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhiều khi làm bài chưa có kỹ năng phánđoán, suy luận, không biết làm thế nào ? Các em rất sợ học. Mà môn toán là môn“Thể thao trí tuệ” vừa giúp các em giải trí tinh thần, vừa giúp việc dạy tốt môn toán làđiều cần thiết mà giáo viên cần quan tâm.Năm học 2012 – 2013 tôi được phân công dạy lớp 2. Lớp có 34 học sinh Chamẹ các em đều làm nông nên việc hướng dẫn, nhắc nhở con em còn chưa được quantâm lắm. Còn phó mặc cho nhà trường và giáo viên. Nên trong giờ học toán các emcòn làm bài sai nhiều.1Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm như sau:Tổng sốHS Giỏi Khá Trung bình Yếu TS % TS % TS % TS % 34 3 8,7 11 32,4 9 26,5 11 32,4 Để khắc phục những hạn chế và tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng giải toáncó lời văn cho học sinh. Tôi đã tiến hành một số biện pháp sau:III. BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN1. Điều tra, phân loại đối tượng học sinhQua điều tra đầu năm, tôi phân loại những em còn yếu về loại toán điển hình nàođể tôi kịp thời kèm cặp các em.Lớp tôi có em: Thủy, Minh, Đạt ,Tú , Trường , Hải , Ly, Sơn , là những em giảitoán còn yếu. Các em thường sợ làm loại toán này. Các em không biết giải, hay trả lờisai, làm tính không đúng. Tôi luôn quan tâm động viên các em học sinh để các emchăm học, tích cực làm bài , các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, phánđoán tìm cách giải đúng. Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viên cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải.Tôi thường xuyên kiểm tra bài làm của em trên lớp, chấm chữa cùng với học sinh để

Kết quả thi giữa kì II vừa qua có chuyển biến rõ, tôi thấy hiệu quả rất khả quan,số học sinh giỏi được tăng lên đáng kể, số học sinh yếu không còn em nào.

Cụ thể:Tổngsố HS Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 3318/7 54,6 11/4 33,3 4 12,1 / / Mặc dù bản thân đã dành nhiều thời gian tìm tòi rút kinh nghiệm trong cáctiết dạy, tham khảo ý kiến lãnh đạo đồng nghiệp song trong quá trình thực hiện giảipháp này không tránh khỏi những sai sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng gópý kiến giúp đỡ của Ban giám hiệu và các bạn đồng nghiệp giúp giải pháp của tôi đượchoàn chỉnh hơn. Xin chân thành cảm ơn! Lạc Xuân, tháng 3 năm 2013 Người viết12Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net

13Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO NHÀ TRƯỜNG ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO PHÒNG GIÁO DỤC …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………14Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… 15

Phương Pháp Giải Một Số Dạng Bài Tập Hóa Học Vô Cơ Ở Bậc Thcs

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúcBÁO CÁO SÁNG KIẾNPHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP HÓA HỌC VÔ CƠ Ở BẬC THCS I. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN. Họ và tên: NGUYỄN VĂN HÙNG Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường PTDT Nội Trú huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng II. LĨNH VỰC ÁP DỤNG: Giáo dục. Sáng kiến “Phương pháp thực giải một số dạng bài tập hóa học vô cơ bậc THCS” là một sáng kiến không phải là mới, bản thân tôi chỉ đưa ra một số dạng toán cơ bản nhằm củng cố kiến thức cho các em học sinh có thể áp dụng trong kiểm tra học kì, ôn thi học sinh giỏi ở bậc THCS. III. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: 1. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến: Hiện nay chương trình học của các em rất nặng, bài tập về nhà nhiều. Việc phân loại các dạng bài tập hóa học đối với các em học sinh còn là một vấn đề rất khó khăn, mà môn hóa học lại có nhiều dạng bài tập, các em chưa biết cách phân loại và đưa ra phương pháp giải cho từng dạng bài tập. Qua thời gian giảng dạy tại trường PTDT Nội Trú Bảo Lâm tôi tìm hiểu và nhận thấy khả năng tiếp thu học tập bộ môn còn chưa cao, tỉ lệ học sinh giỏi còn rất ít, học sinh yếu vẫn chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Chính vì lý do trên tôi viết sáng kiến “Phương pháp giải một số dạng bài tập hoá học vô cơ ở bậc THCS” giúp các em có các nhìn tổng quát về bộ môn hóa học, biết phân loại các dạng toán hóa học vô cơ, từ đó có phương pháp giải cho từng loại giúp nâng cao dần chất lượng bộ môn. 2. Giải pháp đã sử dụng. – Khi chưa cải tiến tôi đã áp dụng những giải pháp như sau: Giao bài tập rồi hướng dẫn các em cách giải, phương pháp giải, yêu cầu phải nắm vững nội dung tính chất đã học. Nhưng bên cạnh đó bộ môn hóa học có rất nhiều bài tập, học sinh lại không biết phân loại thành các dạng để học cho dễ dàng chỉ biết học một cách máy móc làm theo bài mẫu nên không nhớ được lâu, khi gặp một bài tương tự như vậy lại không làm được. – Nguyên nhân của những hạn chế trên: Do các em chưa nắm vững lý thuyết, chưa biết cách phân loại các dạng toán. Do đó chưa có phương pháp giải cụ thể cho từng loại, dẫn đến kết quả học tập chưa cao, làm giảm hứng thú học tập bộ môn. IV. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN. 1. Tính mới, tính sáng tạo. 1.1 Tính mới:Sáng kiến được phát triển dựa trên sáng kiến đã đạt được trong năm học 2015 – 2016 tôi mạnh dạn đưa ra thêm nhiều dạng bài tập hơn và có phương pháp giải cho từng dạng có các ví dụ cụ thể, nhằm gây hứng thú học tập cho các em, giúp cho các em hiểu sâu hơn, kĩ hơn nội dung bài học. 1.2 Tính sáng tạo: Đổi mới trong dạy học là phương pháp giáo dục tập trung vào vai trò của học sinh. Từ hình thức dạy học đồng loạt sang hình thức dạy học bằng việc tổ chức các hoạt động nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh. Phương pháp dạy học mới nhằm phát huy khả năng và kiến thức của học sinh ở mức cao nhất, ở đó các em không bị “áp đặt” phải nghe và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động mà các em được chủ động tự chiếm lĩnh tri thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn và giải thích của giáo viên. Giáo viên có hình thức khơi dậy ở các em lòng ham hiểu biết, tìm tòi học hỏi, tạo cho học sinh một động cơ học tập, có nhu cầu học tập để tiếp thu chiếm lĩnh tri thức, từ đó yêu thích môn hóa học và không còn tình trạng học yếu bộ môn. Hứng thú với học tập là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết giúp cho việc học tập của học sinh mang lại hiệu quả cao, tránh được sự căng thẳng và nhàm chán. Bài tập hóa học vô cơ có rất nhiều, được chia thành những dạng khác nhau, trong sáng kiến này tôi chỉ xin phép được trình bày một số đạng như sau: Dạng 1: Phương pháp giải bài tập xác định công thức phân tử hợp chất vô cơ.Dạng 2: Phương pháp giải bài tập tính theo PTHH dựa vào lượng của một chất tham gia hoặc sản phẩm.Dạng 3: Phương pháp giải bài tập tính theo PTHH dựa vào lượng 2 chất phản ứng.Dạng 4: Phương pháp giải bài tập áp dụng định luật bảo toàn

Bạn đang xem bài viết Một Số Phương Pháp Giải Bài Tập Chương Iii: Adn Và Gen Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Học 9 Ở Trường Thcs Nga Tân trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!