Xem Nhiều 12/2022 #️ Những Chuyện Cảm Động Về Bà Má Miền Nam Với Bộ Đội Giải Phóng / 2023 # Top 12 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 12/2022 # Những Chuyện Cảm Động Về Bà Má Miền Nam Với Bộ Đội Giải Phóng / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Chuyện Cảm Động Về Bà Má Miền Nam Với Bộ Đội Giải Phóng / 2023 mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ông Nguyễn Hữu Nguyên (bìa trái) cùng đồng đội thời kỳ ở chiến trường

NDĐT- Những tình cảm của nhân dân Nam Bộ dành cho bộ đội miền bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được TS Nguyễn Hữu Nguyên, từng là một người lính giải phóng kể lại, cho thấy tình yêu thương vô bờ bến của những bà má đối với những người con xa nhà đi chiến đấu vì Tổ quốc.

Theo TS Nguyễn Hữu Nguyên, trong những đề tài lịch sử về giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, còn một mảng cần khai thác nhiều hơn đó là mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân, cả từ góc độ quân sự và chiều kích nghiên cứu văn hóa chiến tranh. Trong đó, có sự tham gia của nhân dân miền nam trong chiến đấu như thế nào, tinh thần chiến đấu mạnh mẽ của bộ đội ta từ miền bắc vào.

Theo ông, sau này, dưới góc độ nghiên cứu, nếu chúng ta không khai thác khía cạnh tình quân dân đặc biệt này thì rất có lỗi với sự đóng góp của nhân dân. “Nếu không có tình cảm đó, những người lính miền bắc như chúng tôi lấy đâu tinh thần chiến đấu? Sự yêu thương đến mức phải cảm động như thế là một phần sức mạnh tinh thần của người lính, chứ không đơn giản là chiếc bánh tét, một miếng cơm hay gói quà. Và cũng để lý giải một điều, như Bác Hồ nói, dân tộc Việt Nam là một, không có sự chia rẽ văn hóa”.

“Đúng là quân với dân như cá với nước, theo nghĩa rất cụ thể, chứ không phải là khẩu hiệu chung chung. Nuôi bộ đội và thương bộ đội, quan trọng nhất là tình thương. Điều đó cũng thể hiện dân tộc Việt Nam không khác biệt về miền văn hóa mà chỉ là miền địa lý. Có những nơi trên thế giới luôn diễn ra hai xu hướng ly khai và sáp nhập. Khi nào ở cùng dòng văn hóa sẽ sáp nhập lại, khác văn hóa sẽ tách ra. Và chúng ta có một dòng văn hóa sông Hồng chảy vào trong này, mang theo cả lịch sử mở mang bờ cõi. Văn hóa sông Hồng là cội nguồn, trộn hoà với văn hóa sông Cửu Long, nó cùng một nguồn cội chứ không xung đột nhau”, người cựu chiến binh, vừa là nhà nghiên cứu, lý giải.

“Trong khi chiến đấu, có vài lần chúng tôi không được nói giọng của mình khi chuyển quân xuống chiến trường miền Tây, nhưng mục đích là để giữ bí mật rằng chưa có bộ đội chủ lực vào tới đây. Chúng tôi được dặn ngồi yên trên xuồng để du kích dẫn đi, nhưng khi dân hỏi thì để cho mấy anh du kích nói, giữ im lặng vì sợ nguy hiểm. Sau đó, khi không giữ bí mật nữa, chúng tôi vẫn nói giọng này chứ làm sao thay đổi được. Nhưng người dân miền nam hoàn toàn không phân biệt điều đó, mà thậm chí ngược lại, họ yêu thương chúng tôi nhiều hơn bộ đội địa phương”. Và ông đã kể những câu chuyện rất cảm động, cụ thể về điều này.

Câu chuyện thứ nhất của ông kể về người dân ở bên ngoài vùng giải phóng, thời tiểu đoàn của ông phải ở lại đánh giặc vào năm 1970-1971 ở chiến trường Mỹ Tho. Hồi đó, tiểu đoàn của ông không liên lạc được với chiến khu, không có lương thực. Các bà, các mẹ ở đây đã đi vay lúa, mượn tiền của dân để nuôi cả tiểu đoàn trong sáu tháng. Sau đó, khi kết nối được, quân khu mới chuyển tiền trả lại cho các má.

Lúc đó, khi đi chiến đấu, mỗi lần về nhà, bộ đội được bà con yêu thương, giúp đỡ tận tình. Ông kể, lúc tiểu đoàn 9 của đơn vị chiến đấu năm 1969 ở Tây Ninh – Trảng Bàng, lúc đó mới chỉ đang dàn quân chứ chưa đánh, các bà má đã chở một xe bò kéo rất nhiều thực phẩm như mì tôm, nước mắm, rau bầu, bí… đưa đến cho bộ đội. Đến nơi, các má nói: “Chúng tao mang đến cho bộ đội ăn”. Chính trị viên của tiểu đoàn đáp lễ: “Thưa má, chúng con về đây chưa lập được chiến công gì với địa phương, nên má mang đến thế này chúng con chưa dám nhận”. Má bảo: “Tao biết chúng nó đi chiến đấu thế nào, cũng có đứa bị thương, có đứa hy sinh. Thế chúng nó không được ăn sao?”. Lý lẽ đó, chính trị viên không thế nào bác bỏ được nên đành nhận sự giúp đỡ của các má.

Rồi khi đơn vị tôi về một làng ở Củ Chi, bộ đội bắt đầu đào công sự ở bờ tre, ngồi trực chiến ở đó. Các má bắt đầu nấu chè, gánh ra rồi gọi: “Các con ơi đến ăn chè!”. Bộ đội chiến trường hồi đó kỷ luật lắm, không dám nhận. Các má múc mỗi người một chén để ngay công sự rồi nói: “Tụi bay ăn đi!”. Nhưng vẫn không anh lính nào dám đụng đến. Các bà má bàn với nhau, không ăn chắc do chỉ huy, rồi hỏi người chỉ huy đơn vị ở đây. Má vào gặp chính trị viên rồi hỏi tại sao nấu chè mà không cho bộ đội ăn, rồi kéo mấy anh cán bộ ra tận công sự nói: “Bay ra lệnh đi!”. Lúc đó, chính trị viên mới nói các đồng chí ăn chè của các má mang đến đi, và bộ đội mới ăn.

Rồi người cựu chiến binh kết luận: “Họ yêu thương bộ đội đến mức đó. Không hề có sự ép buộc, vận động, phân công, mà dường như đó là tình cảm hết sức tự nhiên”.

Phẩm chất của những anh lính Cụ Hồ

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, ngày 26, 27, 28-4-1975, ông Nguyên cùng đồng đội đánh ở Sài Gòn. Ông kể lại: Buổi chiều, lúc ông đi về, Ban tác chiến của tiểu đoàn đóng quân trong nhà dân, các chiến sĩ giải phóng báo là chủ nhà định cho bộ đội con chó, anh em đang chuẩn bị bắt thịt. Nhưng khi nói lại với ông Nguyên về việc cho con chó, bà chủ nhà nói thêm một câu: “Từ lúc tôi nói thế, con chó nằm trong gầm giường không dám ra”. Ông Nguyên thấy thế liền từ chối: “Má ơi, con chó như thế là khôn lắm, để nuôi kẻo tội nghiệp”. Quả thật, nghe bà má cúi xuống gầm giường và gọi: “Con ơi con, các chú thương không ăn thịt con đâu”, lúc đó, con chó mới chạy ra. Chứng kiến điều ấy, ông nói với các đồng đội: “Nếu lúc đó chúng ta nhận con chó mổ và ăn ngay ở sân này, dưới con mắt của người dân, chúng ta sẽ như thế nào?”.

Một câu chuyện khác trong những ngày sắp giải phóng ấy ở Sài Gòn, khi tiểu đoàn của ông đi qua một ngôi nhà, có tiếng khóc từ trong vọng ra. Ông đi vào nhà thì thấy một bà má và một người phụ nữ đang ngồi khóc bên quan tài trong ánh đèn mờ. Ông Nguyên hỏi sự tình thì người phụ nữ khoảng 30 tuổi kể lại rằng: “Tụi tôi khi nghe tiếng súng của các anh thì sợ lắm nên hai chị em chạy về phía quân đội quốc gia. Chúng tôi gặp một trung úy Sài Gòn, anh ta đòi “làm bậy” với đứa em gái còn chưa tốt nghiệp tú tài của tôi. Tôi nói với hắn rằng, chồng tôi cũng đi lính như ông, mà em tôi còn đang đi học. Nhưng hắn ta không chịu, kéo em tôi đi. Tôi nghe thấy tiếng la hét rồi có tiếng súng. Cùng lúc đó các anh tràn về phía này, và giúp tôi đưa xác em tôi về lo thủ tục ma chay”. Kể xong, người phụ nữ ngửa mặt than: “Trời ơi, phải biết các anh thế này thì tôi đâu có chạy!”.

Đó là những người mà đến phút chót của cuộc chiến tranh mới tiếp xúc với quân giải phóng. Nhưng một hành động, một cử chỉ như thế thì họ đã phân biệt được người hai phía như thế nào.

Rồi khi Ban tác chiến Trung đoàn của ông về đóng quân trong một nhà dân ở Nhà Bè. Đến ngày ăn mừng chiến thắng, chúng tôi được cấp trên chi tiền mở tiệc ngay tại nhà người dân. Bộ đội nhờ dân nấu hai mâm. Mấy anh lính giải phóng chia nhau ra các mâm để tiếp dân. Tôi ngồi một mâm có chủ nhà, con trai ông chủ nhà là trung sĩ của chế độ Sài Gòn, một ông hàng xóm đối diện là đại úy cảnh sát huyện Nhà Bè và mấy bà con chung quanh. Bữa ăn mừng chiến thắng ấy thật đặc biệt. Lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với những người phía bên kia chiến tuyến và mời họ ăn. Sau khi rót bia ra, ông đứng lên nói rằng: “Hôm nay bộ đội được ăn mừng chiến thắng. Nhưng ở đây có lẽ chỉ có Việt Nam chúng ta mới có bữa tiệc mà chung quanh là những người đã từng ở hai chiến tuyến như thế này. Cuộc chiến của chúng ta không phải là miền bắc thắng miền nam mà chúng ta đuổi Mỹ rời khỏi miền nam. Vì thế, xin chúc mọi người sức khỏe”.

Ông Nguyên nhấn mạnh, sau giải phóng, Mỹ từng nghĩ rằng sẽ có một cuộc trả thù ở Sài Gòn giống như thời gian sau chiến tranh thế giới thứ hai ở Pháp. Lúc đó người Pháp trả đũa những người theo phát xít Đức một cách thẳng tay. Nhưng điều đó đã không xảy ra ở Việt Nam. Chúng ta đối xử với quân đội và nhân dân Sài Gòn đều nhân đạo. Nhưng thời gian sau giải phóng, trong giai đoạn kinh tế rơi vào khủng hoảng, sự chia rẽ có lẽ bắt đầu xen vào trong từng gia đình. Nhưng chính vì khởi nguồn từ một nền văn hóa chung, khoảng cách ấy cũng từ từ được xóa mờ đi.

Cảm Nhận Về Ngày Giải Phóng Miền Nam, Thống Nhất Tổ Quốc / 2023

Cách đây 45 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, Nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam,  non sông thu về một mối. Về sự kiện lịch sử vĩ đại này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (diễn ra từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976) đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ của Quân Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu thời khắc lịch sử kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nhìn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, thế hệ trẻ chúng tôi luôn cảm thấy rất tự hào về sự nghiệp cách mạng vĩ đại của đất nước. Tự trong đáy lòng mình, chúng tôi rất biết ơn những công lao trời biển của thế hệ những người đi trước họ đã dành trọn cả thanh xuân, cả cuộc đời của mình để phụng sự cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Chiến thắng 30 tháng 4 là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, là chiến thắng của nội lực Việt Nam, của truyền thống văn hóa dân tộc, là những công lao trời biển Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo tài tình của Đảng đã lãnh đạo Nhân dân đấu tranh chống lại kẻ thù lớn nhất của dân tộc.  

Là công dân Việt Nam, thế hệ trẻ của đất nước chúng tôi ý thức được rằng những đau thương mất mát, sự hy sinh thầm lặng của các thế hệ cha anh đã cho chúng tôi có được cuộc sống hòa bình ấm no như ngày hôm nay là vô bờ bến. Hơn ai hết chúng tôi rất quý trọng cuộc sống hòa bình ngày hôm nay và ý thức được trách nhiệm của mình là phải giữ gìn truyền thống cách mạng của dân tộc, phấn đấu nỗ lực để góp phần xây dựng đất nước thêm giàu mạnh, văn minh.  

Trân trọng những thành quả có được sau hơn 30 năm đất nước đổi mới trong bối cảnh đất nước hòa bình, xã hội ổn định. Tinh thần chiến thắng 30/4 đang cổ vũ tôi và đồng nghiệp của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay. Là một viên chức làm việc trong môi trường chính trị, bản thân tôi luôn ý thức được trách nhiệm của mình là phải giữ gìn, phát huy sự nghiệp cách mạng vĩ đại của đất nước, bản thân mỗi cá nhân phải:

Thứ nhất, phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng. Bản thân luôn rèn luyện để có lập trường tư tưởng vững vàng, có niềm tin sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh; đấu tranh chống lại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng.

Thứ hai, bản thân luôn tích cực học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, luôn nỗ lực hết mình, đem tất cả tinh thần, trí tuệ, sức trẻ, lòng nhiệt huyết, tài năng và sự sáng tạo của mình để viết tiếp nên trang sử hào hùng của dân tộc, làm nên những thành công mới trong cuộc hành trình xây dựng và bảo vệ  đất nước Việt Nam tươi đẹp.

Thứ ba, luôn đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, tránh những biểu hiện “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ, nâng cao trách nhiệm của bản thân, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao ý thức tự lực, tự cường, kiên gan, bền chí trước âm mưu thâm độc của kẻ thù.

Kỷ niệm 45 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông ta đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng tôi càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, tin vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ chúng tôi nói riêng nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh theo đường lối, chủ trương của Đảng đề ra./.

Câu lạc bộ Lý luận trẻ tỉnh Bến Tre

Những Hình Ảnh Lịch Sử Giải Phóng Miền Nam / 2023

Thứ ba – 03/05/2016 22:27

41 năm sau ngày Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 (30/4/1975 – 30/4/2013), bản hùng ca về những con người, những chiến dịch huyền thoại… vẫn ngân vang cùng bài ca đất nước. Để tạo nên chiến thắng ấy là một tư tưởng chỉ đạo chiến lược đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta khi thời cơ đến trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đó là tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Sự kiện mùa xuân 1975 chỉ diễn ra trong 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị tích lũy từ những năm chống Mỹ, quân và dân ta đã giành toàn thắng với ba chiến dịch lớn: Giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột đêm 10/3/1975, chiến dịch giải phóng Huế và Đà Nẵng, ngày 26 và 29/3 đồng thời quét sạch địch tại các tỉnh ven biển miền Trung và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Cuối tháng 3/1975, đồng chí Lê Đức Thọ từ miền Bắc vào Nam cùng đồng chí Phạm Hùng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

Bộ đội Sư đoàn 316 tiến công tiêu diệt Buôn Ma Thuột trong trận mở màn Chiến dịch Tây Nguyên (4 – 24/3/1975).

Nhân dân Phú Hữu dùng thuyền chở Quân đoàn 2 vượt sông tiến về Sài Gòn.

Lữ đoàn tăng 203 cùng Sư đoàn bộ binh 304, Quân đoàn 2 đánh địch trên xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn, tiến vào giải phóng Thành phố Sài Gòn

Xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975.

Quân giải phóng đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Quân giải phóng tiến vào Bộ Tổng tham mưu chính quyền Sài Gòn

Tổng thống Dương Văn Minh (mặc áo đen, đeo kính) chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại Đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30 /4/ 1975

Đại diện chính phủ Cách mạng lâm thời tuyên bố trả tự do cho Tổng thống Dương Văn Minh và các thành viên của Chính phủ Sài Gòn.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng trên lễ đài trong Lễ chào mừng chiến thắng ở Sài Gòn 15/5/1975

Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam / 2023

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thăm Quân Giải phóng miền Nam tại miền Đông Nam Bộ. (Ảnh tư liệu – theo Báo QĐND)

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá; trong đó có bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà việc thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam cách đây 50 năm là một sáng tạo điển hình của nghệ thuật tổ chức chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam của Đảng ta.

Thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965) của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) là đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang ở hai miền Nam – Bắc; trong đó, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang miền Nam đủ mạnh, để từng bước đánh bại từng chiến lược, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 15-2-1961, tại chiến khu Đ (miền Đông Nam Bộ), Quân giải phóng miền Nam (QGPMN) Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân. QGPMN đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sự chỉ huy thống nhất của Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam và Ban Quân sự thuộc Trung ương Cục. QGPMN có nhiệm vụ chủ yếu là làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngay sau khi ra đời, QGPMN bám sát phương châm phát triển lực lượng, cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961-1965). Thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng, QGPMN tập trung xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; trong đó, chú trọng phát triển bộ đội chủ lực cả về biên chế, tổ chức và vũ khí, trang bị. Chỉ sau một năm thành lập (1962), QGPMN đã xây dựng được 2 trung đoàn bộ binh ở miền Đông Nam Bộ và 3 trung đoàn bộ binh ở Quân khu 5. Đó là những đơn vị bộ đội chủ lực đầu tiên đặt nền móng cho QGPMN không ngừng phát triển lớn mạnh. Các đơn vị đã thực hiện tốt việc kết hợp vừa xây dựng, vừa đẩy mạnh hoạt động tác chiến với nhiều trận đánh quy mô vừa và nhỏ, tiêu biểu là trận đánh Ấp Bắc (Mỹ Tho) tháng 1-1963, giành thắng lợi, mở ra phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công” trên toàn chiến trường miền Nam. Từ đánh tập trung quy mô đại đội, tiểu đoàn, phát triển lên quy mô trung đoàn; trong chiến dịch Bình Giã (từ ngày 2-12-1964 đến ngày 3-1-1965), lần đầu tiên ta sử dụng 2 trung đoàn bộ binh tiến công, đánh bại các biện pháp chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch. Tiếp đó, QGPMN mở chiến dịch Đồng Xoài (từ ngày 10-5 đến ngày 22-7-1965) và chiến dịch Ba Gia (từ ngày 28-5 đến ngày 20-7-1965) giành thắng lợi, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến tập trung, làm thất bại các biện pháp chiến lược của địch, góp phần cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

QGPMN tiếp tục phát triển lực lượng, đẩy mạnh hoạt động tác chiến, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965-1968). Để cứu vãn tình thế thất bại trên chiến trường, đế quốc Mỹ vội vàng đưa quân vào miền Nam Việt Nam. Lực lượng này được trang bị hiện đại, có hoả lực mạnh, sức cơ động cao và là đối tượng tác chiến của QGPMN. Để giành thắng lợi trước đối tượng mới, QGPMN đã tích cực nghiên cứu nắm địch, đồng thời chủ động phát triển nhanh lực lượng từ quy mô 5 trung đoàn lên 6 sư đoàn, bố trí thành ba khối chủ lực cơ động, triển khai hợp lý trên các chiến trường. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, QGPMN đã đẩy mạnh tác chiến tập trung của các đơn vị bộ đội chủ lực, kết hợp với tác chiến rộng khắp quy mô vừa và nhỏ của lực lượng dân quân du kích, để thắng ngay trận đầu, giành thắng lợi từng bước tiến tới làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Những chiến thắng liên tiếp: Vạn Tường (ngày 18-8-1965), đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” quy mô lớn của đế quốc Mỹ, Chiến dịch Plây Me (từ ngày 19-10 đến ngày 26-11-1965) tiêu diệt gần hết và đánh thiệt hại 2 tiểu đoàn kỵ binh và diệt 1 chiến đoàn cơ giới của Mỹ, 1 tiểu đoàn bộ binh nguỵ, phá 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay. Điều đó chứng minh rằng, QGPMN đủ sức đánh thắng quân đội viễn chinh Mỹ và đồng minh, dù chúng được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Thắng lợi kế tiếp của Chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng mở ra phong trào “Tìm Mỹ mà diệt”, “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Phát triển thế tiến công, QGPMN đánh bại liên tiếp hai cuộc phản công chiến lược (mùa khô 1965-1966, 1966-1967) và đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ty (từ ngày 22-2 đến ngày 15-4-1967), bẻ gẫy hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” của 45.000 quân Mỹ… Trước tình thế có lợi cho cách mạng, Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết tâm đẩy mạnh tiến công giành thắng lợi quan trọng về mặt quân sự. Theo đó, QGPMN thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) ở nhiều thành phố, thị xã, thị trấn miền Nam, trọng tâm là Huế, Sài Gòn-Gia Định, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, giải phóng 1,4 triệu dân; giáng một đòn quyết định làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri. Có thể nói, đây là thời kỳ phát triển cách đánh phong phú, đa dạng và sáng tạo của QGPMN.

QGPMN thực hiện tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969-1975). Các chiến lược, chiến thuật của Mỹ bị khủng hoảng nghiêm trọng, buộc chúng phải thay đổi phương thức tác chiến “tìm diệt” sang “quét và giữ”, tạo ra những vùng trắng ở ven đô thị, nhất là Sài Gòn, nhằm bảo vệ an toàn trung tâm đầu não; đồng thời, thực hiện Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, đánh phá miền Bắc, xâm lược Lào, Cam-pu-chia, với ý đồ kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ. Trong khi đó, QGPMN gặp nhiều khó khăn: lực lượng bị tổn thất chưa kịp khôi phục, không tiếp tế được vật chất hậu cần do bị đánh phá liên tục… Để duy trì lực lượng tiếp tục chiến đấu, QGPMN tổ chức thành nhiều bộ phận đứng chân ở các vùng, miền khác nhau (vùng lõm căn cứ đồng bằng, vùng giáp ranh hoặc căn cứ miền núi).

Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư kêu gọi quân và dân cả nước quyết tâm chiến đấu “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Tiếp đó, tháng 4-1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết “Về tình hình và nhiệm vụ mới”, nhằm động viên quân và dân hai miền Nam – Bắc, phát triển thế tiến công, tiến lên giành thắng lợi quyết định. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định gấp rút xây dựng các lực lượng vũ trang lên một bước mới; trong đó, tập trung xây dựng các đơn vị chủ lực QGPMN. Bộ Tổng tư lệnh điều động nhiều đơn vị với đủ quân số và vũ khí, trang bị từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam và điều chỉnh các đơn vị chủ lực đứng chân ở từng địa bàn chiến lược, nhất là trên hướng trọng điểm. QGPMN được tiếp thêm sức mạnh, tiếp tục phát triển, nâng cao sức mạnh chiến đấu, giữ vững thế có lợi trên các chiến trường; đồng thời, tích cực phối hợp tác chiến với quân và dân hai nước Lào, Cam-pu-chia, liên tiếp giành thắng lợi, làm thay đổi cục diện chiến tranh ở ba nước Đông Dương. Đối với chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương phát triển thế tiến công chiến lược, nhằm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Thực hiện kế hoạch tác chiến năm 1972 của Quân uỷ Trung ương, QGPMN mở Cuộc tiến công chiến lược năm 1972, điển hình là các chiến dịch: Trị – Thiên (từ ngày 30-3 đến ngày 27-6), Bắc Tây Nguyên (từ ngày 30-3 đến ngày 5-6), Nguyễn Huệ (từ ngày 31-3-1972 đến ngày 28-1-1973)… Thắng lợi của Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã buộc chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam. Tranh thủ thời cơ, tháng 10-1973, Bộ Chính trị quyết định phát triển lực lượng chủ lực từ quy mô sư đoàn lên quy mô quân đoàn 1, có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại, bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày. Đây là sự phát triển vượt bậc về quy mô tổ chức, vũ khí trang bị và trình độ tác chiến, chuẩn bị cho QGPMN mở các chiến dịch tiến công, hiệp đồng binh chủng tiêu diệt lớn quân địch trên toàn chiến trường miền Nam, nhằm sớm kết thúc chiến tranh. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình chiến trường miền Nam, trong nước, thế giới, nhất là khả năng quay trở lại của quân Mỹ, Bộ Chính trị đã hạ Quyết tâm chiến lược: mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy quy mô lớn vào mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thực hiện quyết tâm đó, QGPMN cùng với quân và dân cả nước tích cực tạo lực, tạo thế, chủ động mở Chiến dịch Tây Nguyên, chọc thủng tuyến phòng thủ chiến lược của địch, tạo đà cho QGPMN liên tiếp mở các chiến dịch: Trị – Thiên, Huế – Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 đến 30-4-1975) giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh là một minh chứng cho sự lớn mạnh của QGPMN về trình độ tổ chức, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến với các quân chủng, binh chủng, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, thực hiện trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh.

Trải qua 14 năm (1961-1975) xây dựng và chiến đấu, QGPMN – bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam – đã làm tròn nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, QGPMN đã phát huy truyền thống, bản chất cách mạng cao đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới rất nặng nề, đã và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; trước tiên, xây dựng lực lượng Hải quân, Phòng không-Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử và Trinh sát kỹ thuật hiện đại. Đồng thời, xây dựng Quân đội nhân dân có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp cao; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, làm nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân phát triển ở trình độ cao khi đất nước có chiến tranh. Cùng với đó, phải tập trung đầu tư nghiên cứu phát triển khoa học quân sự, lý luận nghệ thuật tác chiến của các quân chủng, binh chủng và các lực lượng, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao; đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng của quân đội từng bước hiện đại. Trước mắt, tập trung đổi mới công tác huấn luyện-đào tạo, nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã xác định.

và Thượng tá, ThS. ĐỖ HẢI ÂU

1- Quân đoàn 1 ở hậu phương miền Bắc, thành lập 10-1973; Quân đoàn 2 ở Trị-Thiên, thành lập tháng 5-1974; Quân đoàn 3 ở Tây Nguyên, thành lập tháng 3-1975; Quân đoàn 4 ở Đông Nam Bộ, thành lập tháng 7-1974.

Bạn đang xem bài viết Những Chuyện Cảm Động Về Bà Má Miền Nam Với Bộ Đội Giải Phóng / 2023 trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!