Xem Nhiều 11/2022 #️ “Phương Pháp Giải Bài Tập Vật Lí Phần Nhiệt Lớp 8” / 2023 # Top 18 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 11/2022 # “Phương Pháp Giải Bài Tập Vật Lí Phần Nhiệt Lớp 8” / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về “Phương Pháp Giải Bài Tập Vật Lí Phần Nhiệt Lớp 8” / 2023 mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

 

       SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

   

 

               

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:

               

“PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ

 PHẦN NHIỆT LỚP 8”

                      

                Môn/ lĩnh vực                 : Vật Lí

                 Tài liệu kèm theo    :Phụ lục

     

 

             

                                                 

                                                                                              

                                                                                                                               

                                                                                                        Trang 

     I. Phần đặt vấn đề …………      …………………………..               3       

     I.1. Lý do chọn đề tài ……………………………………….              3

     I. Mục đích nghiên cứu …………………………………..                 3

     I.4. Đối tượng, phạm vi, kế hoạch, thời gian nghiên cứu.             4

     I.5. Đóng góp mới về mặt lý luận thực tiễn……………….             5

    II. Phần giải quyết vấn đề …………………………………..             5

    II.1. Thực trạng vấn đề ………………………………………             5

    II.1.1. Sơ lược về trường ……………………………………              5

    II.1.2. Một số thành tựu ……………………………………..             5

    II.1.3. Một số tồn tại và nguyên nhân ………………………            6

    II.1.4. Một số vấn đề đặt ra …………………………………             6

    II.2. Áp dụng trong giảng dạy ……………………………….            6

    II.2.1. Các bước tiến hành …………………………………..            6

    II.2.2. Bài dạy minh hoạ ……………………………………..            7

     II.2.3.Một số bài tập nâng cao                                                     14

    II.3. Phương pháp nghiên cứu và kết quả sau thực nghiệm

    II.3.1. Phương pháp ………………………………………..              19

    II.3.2. Kết quả ………………………………………………..             20

    III. Phần kết luận và khuyến nghị ……………………………..       20

    III.1. Kết luận ………………………………………………..             20

    III.2. Khuyến nghị  ………………………………………………        20

I. PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ:

I.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :

     Mục tiêu giáo dục hiện nay là “Nâng cao chất lượng giáo dục …, đổi mới nội dung và phương pháp …, rèn luyện thành tư duy sáng tạo của người học”. Để đạt được mục tiêu đó thì người thầy giáo,cô giáo phải thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao tay nghề và phải tiếp cận với các phương pháp dạy học hiện đại,khoa học kĩ thuật tiên tiến, phải kết hợp tốt các phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả của bài giảng, tổ chức điều khiển để các em tích cực chủ động học tập tiếp thu kiến thức. Từ đó xây dựng lòng yêu thích môn học, bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh.

    Đối với bộ môn Vật lí phần lớn các bài giảng có trong chương trình THCS được xây dựng trên nguyên tắc : tiến hành thực nghiệm, trên cơ sở kết quả thực nghiệm, tiến hành qui nạp không đầy đủ để đi đến kết luận đó là tri thức cần nhận thức.

   Qua giảng dạy tôi nhận thấy mặc dù các em đã được làm quen với bộ môn Vật lí từ lớp 6, lớp 7 nhưng ở giai đoạn này chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức Vật lí dưới dạng định tính, những khái niệm chưa đầy đủ. Vật lí 8 các em bắt đầu làm quen với những bài toán định lượng nên nhiều học sinh chưa định hướng được yêu cầu của bài toán, chưa có phương pháp giải hoặc một số em biết cách làm nhưng trình bày chưa chặt chẽ, chưa khoa học.

     Môn vật lí 8 chia làm hai phần : Phần cơ học và phần nhiệt học. Nhiệt học là một trong bốn phần kiến thức Vật Lí cơ bản được trang bị cho học sinh THCS. Lượng kiến thức của phần này không nhiều so với các phần khác, bài tập phần này cũng không quá khó song vì các em ít được tiếp xúc với các bài tập định lượng nên việc định hướng giải bài tập Nhiệt còn khó khăn với các em và các em chưa có phương pháp giải.

I.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

     Qua trực tiếp giảng dạy Vật lí 8 tôi thấy rằng nhiều em không thích học môn Vật lí vì các em cho rằng bài tập Vật lí 8 nói chung và bài tập phần Nhiệt học nói riêng rất khó, các em không có định hướng giải bài tập, các em chưa có thói quen vận dụng những kiến thức đã học vào giải bài tập Vật lí một cách có hiệu quả từ đó các em không có hứng thú với môn học. Kết quả học tập môn Vật lí của nhiều em không cao. Chính vì vậy mà tôi đã suy nghĩ tìm tòi và mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Phương pháp giải bài tập phần Nhiệt học” với mong muốn giúp các em định hướng bài tập, biết phương pháp làm bài tập, biết cách trình bày bài toán khoa học từ đó tạo nên hứng thú học tập, phát huy tính tích cực chủ động của các em trong học tập, các em không còn ngại học môn Vật lí đồng thời nâng cao chất lượng bộ môn.

   Mục đích đề tài là hướng dẫn học sinh nắm vững các dạng bài tập và phương pháp giải các dạng bài tập phần Nhiệt học. Học sinh biết vận dụng các kiến thức đã học vào giải bài tập từ đó trình bày bài toán Vật lí chặt chẽ và khoa học.

I.3.ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI, KẾ HOẠCH, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.

  3.1. Đối tượng nghiên cứu.

 - Học sinh khối lớp 8.

 - Vấn đề : Phần Nhiệt học trong chương trình Vật lí 8.

   Bài 24: Công thức tính nhiệt lượng.

   Bài 25: Phương trình cân bằng nhiệt.

   Bài 26: Năng suất toả nhiệt của nhiên liệu.

   Bài 28: Động cơ nhiệt.

 3.2. Phạm vi nghiên cứu.

  – Lớp 8A,8B và lớp 8C  trường THCS.

3.3. Thời gian nghiên cứu.

 - Năm học 2015- 2016 và năm học 2016-2017

I.4. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÝ LUẬN THỰC TIỄN.

a. Cơ sở lí luận.

   Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động học tập của học sinh nhằm giúp các em tiếp cận kiến thức đòi hỏi phải đổi mới toàn bộ nhiều khâu. Để hướng dẫn học sinh làm bài tập Nhiệt học không phải giáo viên trình bày lại lời giải, học sinh chép lại mà giáo viên phải là người tổ chức hướng dẫn các em thông qua hệ thống các câu hỏi gợi mở để các em từng bước tìm ra phương pháp giải.

b. Cơ sở thực tiễn.

     Trong quá trình học Vật lí ở trường THCS, học sinh cần biết cách tổ chức việc học tập của mình một cách chủ động sáng tạo. Người thầy cần rèn cho học sinh kĩ năng, thói quen độc lập suy nghĩ khoa học và lời giải phải có cơ sở lí luận.

    Trong thực tế giảng dạy tôi thấy có nhiều học sinh chưa biết giải bài toán Nhiệt học do nhiều nguyên nhân;trong đó nguyên nhân chủ yếu là học sinh không chỉ ra được bài toán cho biết điều gì? Yêu cầu gì? Vận dụng kiến thức nào đã học để giải quyết bài toán đó? Từ đó học sinh có thể định hướng sai và không đạt được yêu cầu cuối cùng của bài toán.

II. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

II.1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.

II.1.1. Sơ lược về trường.

   Trường Tôi nằm tại vùng phân lũ của cụm miền Bùi, có qui mô nhỏ với dưới một vạn dân, kinh tế xã hội còn chậm phát triển  với rất ít các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Nhân dân xã dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ;hiện nay có nhiều phụ huynh học sinh tham gia làm công nhân cho các doanh nghiệp,công ty ở xa,văn hóa xã hội còn nhiều hạn chế,phong trào giáo dục phát triển chưa cao…

   Trường Tôi  có cảnh quan đẹp, môi trường Xanh – Sạch – Đẹp, có môi trường sư phạm rất thuận lợi: đội ngũ giáo viên luôn đoàn kết nhất trí, ý thức trách nhiệm cao,  tay nghề đồng đều, vững vàng…. Nhà trường xác định hướng đi trọng tâm là : Phát huy yếu tố nội lực là động lực thúc đẩy, phát triển, xây dựng nề nếp giáo dục toàn diện. Từ nhiều năm nay đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường đã phấn đấu, nỗ lực nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm phù hợp với yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới. Đến nay nhiều giáo viên của nhà trường đã đủ điều kiện tiếp cận với những đổi mới của ngành,khoa học kĩ thuật; một số  giáo viên của trường được chọn là bộ phận cốt cán của Phòng giáo dục.Tuy nhiên trong nhiều năm liền nhà trường không đạt được các chỉ tiêu phấn đấu của Cụm và của Phòng đề ra.

II.1.2. Một số thành tựu (kết quả) đã đạt được của đề tài.

     Ngay từ đầu năm học tôi đã đề ra kế hoạch thực hiện đề tài trên. Trong quá trình giảng dạy đối với mỗi bài xây dựng kiến thức mới tôi yêu cầu học sinh nắm vững phần lí thuyết và các công thức. Yêu cầu học sinh nhắc lại nhiều lần để các em ghi nhớ. Sau mỗi tiết dạy tôi dành thời gian để hướng dẫn các em bài tập vận dụng các công thức đã học và hướng dẫn phương pháp giải của từng dạng bài tập. Vì vậy hầu hết học sinh các lớp tôi giảng dạy đều nắm được lí thuyết và các công thức. Nhiều em đã biết vận dụng tốt các công thức để làm bài tập, xác định được dạng bài tập và phương pháp giải từng dạng bài trong phần Nhiệt học, biết cách trình bày bài khoa học.

II.1.3. Một số tồn tại và nguyên nhân.

     Qua giảng dạy môn Vật lí 8 phần Nhiệt học tôi nhận thấy việc định hướng giải bài tập định lượng của các em còn yếu ở các mặt sau :

Kĩ năng tìm hiểu đề bài của các em còn hạn chế, các em chưa xác định được đề bài cho yếu tố gì, cần phải tìm yếu tố nào.

Các em thường nhần khi tính toán mà chưa đổi các đơn vị.

Các em chưa xác định được các quá trình trao đổi nhiệt.

Các em chưa xác định được đúng đối tượng trao đổi nhiệt.

Các em chưa xác định các bước giải bài tập.

Kĩ năng vận dụng kiến thức toán vào tính toán còn hạn chế.

Vậy nguyên nhân nào làm cho các em không có định hướng giải bài tập như thế ?

Theo tôi có nhiều nguyên nhân trong đó có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Tôi xin đưa ra một số nguyên nhân sau :

Phương pháp truyền đạt kiến thức của thầy đến học sinh chưa đạt hiệu quả cao.

Bản thân học sinh còn chủ quan, chưa tập trung  nghe giảng nên tiếp thu kiến thức chưa đầy đủ, các em chưa tích cực chủ động trong học tập do vậy việc định hướng giải bài tập chưa tốt.

Chương trình SGK Vật lí 8 chủ yếu là lí thuyết,  có rất ít tiết bài tập nên giáo viên chưa rèn được kĩ năng cho học sinh. Trong khi ở lớp 6 và lớp 7 các em ít được làm quen với bài tập định lượng nhất là phần Nhiệt học. Vì vậy đối với các em mà nói bài tập Vật lí Nhiệt học không khó song không được rèn luện thường xuyên dẫn đến việc định hướng giải bài tập Nhiệt học của các em còn khó.

II.1.4. Một số vấn đề đặt ra.

     Để thực hiện đề tài trên tôi đã thực hiện như sau :

Xây dựng kế hoạch thực hiện đề tài ngay từ đầu năm học.

Áp dụng việc giảng dạy đều ở tất cả các lớp, với các đối tượng học sinh :Giỏi. khá, trung bình.

Khảo sát và rút ra kinh nghiệm.

II.2.1 Các bước tiến hành:

Để giảng dạy tốt bài tập phần Nhiệt học giáo viên cần phải chuẩn bị tốt một số công việc sau :

Giáo viên sọan bài kĩ.

Khắc sâu các kiến thức cơ bản.

Với mỗi bài tập phải giúp học sinh định hướng được phương pháp giải, đưa về dạng toán cơ bản để khi gặp bài khác học sinh có thể vận dụng giải được, tránh giải dập khuôn máy móc.

Với bài tập có nhiều đại lượng cần chú ý rèn kĩ năng tóm tắt đề bài và đổi đơn vị.

Ở mỗi tiết học phải dành thời gian hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà. Luôn đổi mới phương pháp dạy và học giúp học sinh phát huy được khả năng tư duy của bản thân.

2. Giáo viên cần hệ thống các kiến thức cần thiết để giải bài tập phần Nhiệt học.

   – Công thức tính nhiệt lượng tỏa ra, thu vào:

                            Q = m.C.t      (t = t1-t2) hoặc (t = t2-t1 )

                      Q: Nhiệt lượng thu vào (toả ra) của chất (J)

                      m: Khối lượng của chất thu vào(toả ra) (kg)

                      C: Nhiệt dung riêng của chât thu vào (toả ra) (J/kg.K)

                     t: Độ tăng (giảm) nhiệt độ của chất (°C)

Phương trình cân bằng nhiệt:

                              Q toả ra = Q thu vào

 -    Nhiệt lượng toả ra của nhiên liệu:

                                   Q = m.q

                  Q: nhiệt lượng toả ra của nhiên liệu bị đốt cháy(J)

                  m: khối lượng của nhiên liệu bị đốt cháy hoàn toàn (kg)

                  q: năng suất toả nhiệt của nhiên liệu (J/kg)

Công thức tính hiệu suất:

                       H =

                 Qi : nhiệt lượng có ích (J)

                 Qtp : nhiệt lượng toàn phần (J)

Hiệu suất của động cơ nhiệt :

                           H =

                A: công mà động cơ thực hiện (J)

                Q: nhiệt lương do nhiên liệu bị đốt cháy toả ra (J)

II.2.2. Bài dạy minh hoạ:

    Dạng 1: Bài tập chỉ có một quá trình thu nhiệt của các chất.

    Bài tập : Một ấm đun nước bằng nhôm có khối lượng 0,5kg chứa 2 lít nước ở 25°C. Muốn đun sôi ấm nước này cần một nhiệt lượng bằng bao nhiêu?Biết nhiệt dung riêng của nhôm là C1 =880J/kg.K và của nước là là   C2 =4200J/kg.K.

      Phân tích bài: 

       – Bài toán trên có mấy đối tượng tham gia thu nhiệt?

       – Nhiệt lượng để đun sôi ấm nước được tính như thế nào?

      Giáo viên chốt lại : Bài toán trên có hai đối tượng tham gia thu nhiệt là 0,5kg nhôm ở 25°C và 2 lít nước ở 25°C.

       Vậy nhiệt lượng để đun sôi ấm nước bằng nhiệt lượng cung cấp cho nước để nó tăng từ 25°C đến 100°C và nhiệt lượng cung cấp cho ấm nhôm để nó tăng từ 25°C đến 100°C.

   Từ phân tích trên ta có lời giải sau :

                                                              

Bài giải:

-Nhiệt lượng cần để đun 0,5 kg nhôm từ 25°C đến 100°C là :

         Q1 = m1.C1.t = 0,5.880. (100 – 25) = 33000(J)

-Nhiệt lượng cần để đun 2 kg nước từ 25°C đến 100°C là :

         Q2 = m2.C2.t = 2.4200.(100 – 25) = 604800 (J)

 -Nhiệt lượng cần để đun sôi ấm nước là

         Q = Q1+ Q2 = 33000 + 604800 = 637800 (J)

                                              

                                                                Đáp số: 637800 (J)

                    

      

Cách giải :  Bước 1: Phân tích tìm các đối tượng thu nhiệt

           Bước 2: Dùng công thức Q = m.C.t để tính nhiệt lượng theo                  yêu cầu của bài. Chú ý phải đổi đơn vị (nếu cần).

Dạng 2: Bài tập có cả quá trình thu nhiệt và quá trình toả nhiệt.

Bài tập1 : Người ta thả một miếng đồng khối lượng 0,5kg vào 500g nước. Miếng đồng nguội đi từ 80°C xuống 20°C. Hỏi nước nhận được một nhiệt lượng bằng bao nhiêu và nóng lên thêm bao nhiêu độ ? Biết nhiệt dung riêng của đồng là C1 =380J/kg.K và của nước là là   C2 =4200J/kg.K.

     

 Phân tích bài.

        – Bài toán trên có mấy đối tượng tham gia vào quá trình trao đổi nhiệt?

        – Đối tượng nào thu nhiệt, đối tượng nào toả nhiệt?

        – Yêu cầu của bài toán trên là gì?

        – Nhiệt lượng toả ra được tính như thế nào?

        – Nhiệt lượng thu vào được tính như thế nào?

        – Dựa vào đâu để tính được nước nóng lên thêm bao nhiêu độ?

    Giáo viên chốt lại: Bài toán trên có hai đối tượng tham gia vào quá trình trao đổi nhiệt. Đồng là vật toả nhiệt còn nước là vật thu nhiệt. Nhiệt lượng đồng toả ra bằng nhiệt lượng nước thu vào.

  Từ phân tích trên ta có lời giải như sau:

Bài giải :

-Nhiệt lượng đồng toả ra khi hạ nhiệt độ từ 80°C xuống 20°C là :

     Q1 = m1.C1.t1= 0,5.380.(80 – 20) = 11400 (J)

-Nhiệt lượng nước thu vào bằng nhiệt lượng đồng toả ra ta có :

    Q2 = m2.C2.t2 = Q1= 11400(J)

-Nước nóng lên thêm là :

   t2 = = 5.4°C

                                                        

                                                                         Đáp số: 13°C

Tóm tắt

m1= 0,5kg

m2 = 500g = 0,5kg

t1 = 80°C

t = 20°C

C1 = 380J/kg.K

C2 = 4200J/kg.K

Q2  = ?

t2 = ?

                                                              

Chú ý : Bài tập này có thể yêu cầu tính khối lượng , nhiệt dung riêng, nhiệt độ cân bằng của quá trình trao đổi nhiệt thì ta cũng giải tương tự.

Cách giải : Bước 1: Phân tích đề bài tìm đối tượng toả nhiệt, đối tượng thu nhiệt.

                  Bước 2: Dùng công thức tính nhiệt lượng để tính nhiệt lượng toả ra, nhiệt lượng thu vào.

                  Bước 3: Dùng phương trình cân bằng nhiệt Qtoả ra = Qthu vào để tính đại lượng chưa biết theo yêu cầu của đề bài.

Bài tập 2: Đổ 738 g nước ở nhiệt độ 15°C vào một nhiệt lượng kế bằng đồng có khối lượng 100g, rồi thả vào đó một miếng đồng có khối lượng 200g ở nhiệt độ 100°C. Nhiệt độ khi bắt đầu cân bằng nhiệt là 17°C. Tính nhiệt dung riêng của đồng, lấy nhiệt dung riêng của nước là 4186J/kg.K.

     Phân tích bài toán : Bài toán trên có 3 đối tượng tham gia vào quá trình trao đổi nhiệt. Nước và nhiệt lượng kế là vật thu nhiệt còn miếng đồng là vật tỏa nhiệt. Nhiệt lượng nước và nhiệt lượng kế thu vào bằng nhiệt lượng miếng đồng toả ra

                         Bài giải

 -Nhiệt lượng nước và nhiệt lượng kế thu vào là : 

     Q1= m1.C1.t1 =0,738.4186. (17 – 15) =6179(J)

     Q2 = m2.C2. t2 = 0,1.C2. (17 – 15) = 0,2. C2

 -Nhiệt lượng do miếng đồng toả ra là :

     Q3 = m3.C2.t3 = 0,2.C2. (100 -17) = 16,6. C2

 -Vì nhiệt lượng đồng toả ra bằng nhiệt lượng

nước và nhiệt lượng kế thu vào nên :

      Q1 + Q2  = Q3

 -Thay số vào phương trình trên tính được giá trị của :

     C2 = 377J/kg.K

                                                      Đáp số : 377J/kg.K

Tóm tắt :

m1=738g = 0,738kg

m2 = 100g = 0,1kg

m3 = 200g = 0,2kg

t1 = t2 = 15°C

t3 = 100° C

t = 17°C

C1 = 4186 J/kg.K

c2 = ?

Bài tập 1: Người ta dùng bếp dầu hoả để đun sôi 2 lít nước từ 20°C đựng trong một ấm nhôm có khối lượng 0,5kg. Tính lượng dầu hoả cần thiết, biết chỉ có 30% nhiệt lượng do dầu hoả toả ra làm nóng nước và ấm.

        Lấy nhiệt dung riêng của nước là C1=4200J/kg.K, của nhôm là C2=880J/kg.K, năng suất toả nhiệt của dầu hoả là q= 46.106J/kg.

   Phân tích bài toán.

      – Bài toán trên có mấy đối tượng tham gia vào quá trình truyền nhiệt?

      – Những đối tượng nào thu nhiệt, toả nhiệt?

      – Nhiệt lượng nào là nhiệt lượng có ích?

      – Nhiệt lượng nào là nhiệt lượng toàn phần?

       – Hiệu suất của bếp bằng bao nhiêu?

       – Để tính được khối lượng của dầu hoả thì phải tính được được đại lượng nào?

       Giáo viên chốt lại: Bài tập này có :

Hai đối tượng thu nhiệt đó là nước và ấm nhôm.

Một đối tượng toả nhiệt đó là bếp dầu hoả.

Nhiệt lượngcó ích là nhiệt lượng làm nóng nước và ấm

Nhiệt lượng toàn phần do dầu hoả bị đốt cháy toả ra.

Hiệu suất của bếp bằng 30% có nghĩa là 30% nhiệt lượng bếp toả ra biến thành nhiệt lượng có ích.

Để tính được khối lượng dầu hoả thì phải tính được nhiệt lượng toàn phần bếp toả ra.

Tóm tắt:

m1 = 2kg

m2 = 0,5kg

t1 = 20°C

t2 = 20°C

C1 = 4200J/kg.K

C2 = 880J/kg.K

q = 46.106 J/kg

m = ?

Bài giải :

 -Nhiệt lượng cần thiết để đun nóng nước từ 20°C đến 100°C là :

      Q1 = m1.C1.t = 2.4200.(100 -20) = 672000(J)

 -Nhiệt lượng cần thiết để đun nóng ấm từ 20°C đến 100°C là :

      Q2 = m2.C2.t = 0,5.880.(100 – 20) = 35200(J)

 -Nhiệt lượng cần thiết để đun sôi ấm nước là :

      Q = Q1+ Q2 = 672000 + 35200 = 707 200 (J)

 -Nhiệt lượng do dầu hoả toả ra là :

      Qtp  =  = = =2357333(J)

 -Lượng than cần thiết để đun sôi ấm nước là :

      Qtp = m.q m == = 0,051(kg)

                                                         

                                                         Đáp số: 0,051(kg)

                

Chú ý : bài tập này có thể yêu cầu tính hiệu suất hoặc tính nhiệt độ của bếp ta cũng làm tương tự.

Cách giải : Bước 1: Phân tích đề bài xác định xem nhiệt lượng có ích dùng để làm gì, xác định xem nhiệt lượng toàn phần lấy ra từ đâu.

Bài tập 2: Một ôtô chạy được quãng đường 100 km với lực kéo trung bình 700N, tiêu thụ hết 5 lít xăng (khoảng 4 kg). Tính hiệu suất của động cơ ôtô.

  Biết năng suất tỏa nhiệt của xăng là q=46.106 J/kg.

  Phân tích bài:

         – Nêu công thức tính hiệu suất của động cơ?

         – Tính công mà động cơ thực hiện được như thế nào?

         – Nhiệt lượng mà xăng bị đốt cháy toả ra được tính như thế nào?

                          Bài giải:

 -Công mà động cơ thực hiện được là :

       A = F.s = 700.100000 = 70 000 000 (J)

 -Nhiệt lượng do xăng bị đốt cháy toả ra là :

       Q = m.q = 4. 46.106 = 184 000 000 (J)

 -Hiệu suất của động cơ là :

       H = 38%

                                                   

                                                                   Đáp số: 38%

                                  

Chú ý : Bài toán này có thể yêu cầu tính quãng đường, lực kéo hoặc tính khối lượng ta cũng làm tương tự.

Cách giải : Bước 1: Tính công mà động cơ thực hiện hoặc nhiệt lượng do nhiên liệu bị đốt cháy toả ra.

*MỘT SỐ BÀI TẬP NÂNG CAO:

Bài tập 1:Thả một quả cầu nhôm có khối lượng là m=0,5kg được nung nóng tới 1000C vào một cốc nước ở chúng tôi khi có cân bằng nhiệt,nhiệt độ của quả cầu và của nước là 250C.Tính khối lượng nước,coi như chỉ có hai vật truyền nhiệt cho nhau.Biết nhiệt dung riêng của nhôm và của nước lần lượt là C1=880J/kg.K và C2=4200J/kg.K.

Phân tích đề bài:

  -Có mấy vật truyền nhiệt cho nhau?

  -Vật nào tỏa nhiệt và vật nào thu nhiệ?

  -Nhiệt lượng tỏa ra và nhiệt lượng thu vào như thế nào với nhau?

*Giáo viên chốt lại:

 -Theo đầu bài có hai vật truyền nhiệt cho nhau.

 -Qủa cầu nhôm tỏa nhiệt.

 -Nước thu nhiệt.

 -Nhiệt lượng quả cầu nhôm tỏa ra bằng nhiệt lượng nước thu vào.

Tóm tắt

m1= 0,5kg

t1 = 100°C

t 2= 20°C

t=250C

C1 = 880J/kg.K

C2 = 4200J/kg.K

m2  = ?

Bài giải :

      -Nhiệt lượng quả cầu nhôn tỏa ra khi nhiệt độ hạ  từ 100°C xuống 25°C là :

          Q1 = m1.C1.t1 = m1.C1 .(t1-t) 0,5.4880.(100 -25) = 9900(J)

       -Nhiệt lượng nước thu vào khi tăng nhiệt độ từ 20°C đến 25°C là :

          Q2 = m2.C2.t2 = m2.C2 .(t-t2)

      -Nhiệt lượng quả cầu tỏa ra bằng nhiệt lương nước thu vào :

          Q1 = Q2

          m2.C2 .(t-t2)= 9900(J)

     -Vậy khối lượng nước là :

          m2 = = 0,47(kg)

                                                        

                                                                                         Đáp số: 0,47(kg)

 Bài tập 2:Một người dự định pha 2kg nước ở 1000C vào nước lạnh ở 120C để có nước ấm ở 250C.Tính lượng nước lạnh cần sử dụng?

Phân tích đề bài:

  -Có mấy vật truyền nhiệt cho nhau?

  -Vật nào tỏa nhiệt và vật nào thu nhiệt?

  -Nhiệt lượng tỏa ra và nhiệt lượng thu vào như thế nào với nhau?

* Giáo viên chốt lại:

 -Có hai vật truyền nhiệt cho nhau.

 -2kg nước tỏa nhiệt.

 -Lượng nước lạnh thu nhiệt.

– Nhiệt lượng tỏa ra bằng nhiệt lượng thu vào.

Tóm tắt:

m1= 2kg

t1 = 100°C

t2 = 12°C

t = 250C

m2=?

Bài giải:

      -Nhiệt lượng mà 2kg nước tỏa ra khi nhiệt độ hạ  từ 100°C xuống 25°C là :

                    Q1 = m1.C.t1 = 2.C.(100-25) =150.C(J)

      -Nhiệt lượng nước thu vào khi tăng nhiệt độ từ 12°C đến 25°C là :

                   Q2 = m2.C.t2 = m2.C .(25-12)=13.m2.C

      -Vậy khối lượng nước cần dung là :

                   Q1 = Q2

                   150.C(J)= 13.m2.C

                   m2= = 11,5(kg)

                                                        

                                                         Đáp số: 11,5(kg)

Bài tập 3:Một người dự định dùng bếp dầu để đun sôi một siêu nhôm có khối lượng 0,5kg chứa 2,5kg nước ở nhiệt độ 200C.Tính khối lượng dầu cần dùng?Biết hiệu suất truyền nhiệt của bếp là 30%.Cho biết nhiệt dung riêng của nhôm là C1=880J/kg.K,của nước là C2=4200J/kg.K và năng suất tỏa nhiệt của dầu là q=44.106J/kg.

Phân tích đề bài:

  -Có mấy vật truyền nhiệt cho nhau?

  -Vật nào tỏa nhiệt và vật nào thu nhiệt?

  -Nhiệt lượng tỏa ra và nhiệt lượng thu vào như thế nào với nhau?

* Giáo viên chốt lại:

 -Có ba vật truyền nhiệt cho nhau.

 -Môt vật tỏa nhiệt.

 -Hai vật thu nhiệt là siêu nhôn và nước.

– Nhiệt lượng tỏa ra bằng nhiệt lượng thu vào.

Tóm tắt:

m1= 0,5kg

m2=2,5kg

t1 = 20°C

t2 = 100°C

C1=880J/kg.K

C2=4200J/kg.K

q=44.106J/kg

H=30%

m=?

Bài giải :

 -Nhiệt lượng mà siêu nhôm thu vào là:

        Q1 =C1.m1. t=0,5.880.(100-20)=35200(J)

 -Nhiệt lượng mà nước thu vào là:

        Q2 = m2.C.t=2.5.4200.(100-20)=840000(J)

  -Nhiệt lượng có ích mà siêu  nước thu vào là:

       Qi= Q1+ Q2=35200(J)+ 840000(J)=875200(J)

 -Nhiệt lượng toàn phần do dầu tỏa ra là:

 -Vậy khối lượng dầu cần dùng là:

                                                                           Đáp số: 0,066(kg)

Bài tập 4: Một ôtô có công suất máy là 49KW,đi được 120km thì  tiêu thụ hết 24 lít xăng . Hiệu suất của máy là 40%.Tính vận tốc của ô tô?. Biết năng suất tỏa nhiệt của xăng là q=46.106 J/kg và khối lượng riêng là D=700kg/m3.

 Phân tích bài:

         – Nêu công thức tính hiệu suất của động cơ?

         – Tính công mà động cơ thực hiện được như thế nào?

         – Nhiệt lượng mà xăng bị đốt cháy toả ra được tính như thế nào?

          -Công suất được tính như thế nào?

          -Vận tôc được tính như thế nào?

Tóm tắt:

P=49KW=49000W

V=24l=0,024m3

q=44.106J/kg

H=40%

D=700kg/m3

v=?

Bài giải :

   -Khối  lượng của xăng  là:

          m =D.V =700.0,024 =16,8(kg)

  -Nhiệt lượng toàn phần mà xăng tỏa ra là:

         Qi= q.m =46000000.16,8= 772800000(J)

  -Nhiệt lượng (công) có ích mà máy sinh ra là:

  -Thời gian ô tô đi là:

       Ta có: t = Ai/P ==6300(s) =1,75(h)

  -Vận tốc trung bình của ô tô là:

         v = ==68(km/h)

                                                                           Đáp số:68 (km/h)

Bài tập 5:Một người pha nước ấm như sau:Mới đầu lấy 5 lít nước ở nhiệt độ 100C và cho một ít nước sôi vào.Khi kiểm tra thấy nước vẫn còn lạnh ở 160C thì lại cho thêm nước nóng ở 900C vào để được nước  ấm ở 250C.Hãy tính khối lượng nước đã cho vào ở mỗi lần đó.

Phân tích đề bài:

  -Có mấy vật truyền nhiệt cho nhau?

  -Vật nào tỏa nhiệt và vật nào thu nhiệt?

  -Nhiệt lượng tỏa ra và nhiệt lượng thu vào như thế nào với nhau?

* Giáo viên chốt lại:

 -Có ba vật truyền nhiệt cho nhau.

 -Hai vật tỏa nhiệt.

 -Một vật thu nhiệt.

– Nhiệt lượng tỏa ra bằng nhiệt lượng thu vào.

Tóm tắt:

m1= 5kg.                             tx =160C.

t1 = 10°C.                           t3=900C

t2 = 100°C.                         t=250C

Tính

m2=?       m3=?

Bài giải :

 -Nhiệt lượng mà 5kg nước thu vào để nóng từ 10°C đến 160C  là:

        Q1 =C.m1. t1 = C.5.(16-10)=30.C (J)

 -Nhiệt lượng mà nước sôi tỏa ra khi lạnh từ 100°C xuống 160C là:

        Q2 = m2.C.t2=m.c.(100-16)=84.m2.C (J)

 Vậy khối lượng nước sôi đã dùng là  0,357(kg)

Hỗn hợp nước ở 160C có:m =5+0,357=5,357(kg)

  -Nhiệt lượng mà hỗn hợp nước thu vào để nóng từ 160C lên 250C là:

       Q= C.m. t=C.5,357.(25-16)=48,213.C (J)

 -Nhiệt lượng mà nước nóng tỏa ra khi hạ từ 900C xuống 250C là:

      Q3=C.m3. t3=C.m3.(90-25)=65.C.m3 (J)

   Vậy khối lượng nước nóng đã dùng là: 0,742(kg)

                                                                            Đáp số: 0,357(kg)

                                                                                          0,742(kg)

II.3. Phương pháp nghiên cứu và kết quả sau thực nghiệm.

II.3.1. Phương pháp.

Phương pháp nghiên cứu lí luận.

Dạy học theo phương pháp đổi mới, theo phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.

Cần trang bị cho học sinh hệ thống các kiến thức cần thiết để giải bài tập Nhiệt học.

Phân loại các dạng bài tập và đưa ra phương pháp giải cho từng dạng.

  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

    Điều tra, khảo sát cụ thể việc giải bài tập Nhiệt học ở các lớp khác nhau trong một trường. Chú ý tới sai sót thường mắc phải, quan sát trực tiếp việc giải bài toán Nhiệt học của học sinh từ đó uốn nắn thường xuyên cách trình bày bài của học sinh.

    Thường xuyên dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp để rút  kinh nghiệm trong giảng dạy.

    Giáo viên thường xuyên kiểm tra việc học lý thuyết và làm bài tập của học sinh, có những câu hỏi tổng hợp để phát huy tính sáng tạo của học sinh.

     Qua thực tế giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của học sinh để tích luỹ kinh nghiệm, đúc rút chọn lọc thành bài học về phương pháp giải toán.

    II.3.2.Kết quả.

            

     Kết quả cụ thể :

    1)Kết quả phần nhiệt học năm học 2015-2016:

    Lớp

    Ss

    Giỏi  %

    Khá  %

    TB  %

    Yếu  %

    Kém  %

    8A

    28

    7,1

    28,6

    50

    14,3

    00

    8B

    34

    47,1

    23,5

    23,5

    5,9

    00

    8C

    27

    7,4

    29,6

    44,5

    18,5

    00

     2)Kết quả phần nhiệt học năm học 2016-2017:                                    

    Lớp

    Ss

    Giỏi  %

    Khá  %

    TB  %

    Yếu  %

    Kém  %

    8A

    29

    17,2

    34,5

    44,9

    3,5

    8B

    31

    22,6

    35,4

    32,3

    9,7

    8C

    38

    73,7

    26,3

    00

    00

    III. Phần kết luận và khuyến nghị.

    1. Kết luận

           – Kết quả trên  đó là một niềm vui, niềm hạnh phúc lớn đối với tôi nói riêng và có lẽ với tất cả những người làm thầy nói chung khi thấy sự tâm huyết, cố gắng của mình đã đem lại kết quả như mong muốn. Đó cũng là một sự động viên, một nguồn khích lệ lớn trong công việc giảng dạy của tôi , khiến tôi thêm yêu nghề.

              – T«i nghiªn cøu vÊn ®Ò nµy cã thÓ nãi ®©y chØ lµ mét s¸ng kiÕn, kinh nghiÖm nhá cña riªng t«i, nh­ng t«i rÊt mong muèn ®­îc b¹n  bÌ, ®ång nghiÖp tham kh¶o, ®ãng gãp, x©y dùng ®Ó cã mét ph­¬ng ph¸p d¹y häc tèt nhÊt, ®Æc biÖt ®èi víi m«n Vật lí.

              – §Ò tµi nµy cña t«i g¾n liÒn víi thùc tiÔn c«ng t¸c gi¶ng d¹y ë tr­êng trung häc c¬ së. Nã gãp phÇn kh¾c phôc nh÷ng khã kh¨n, yÕu kÐm cña häc sinh trong qu¸ tr×nh häc tËp mét tiÕt thùc hµnh ë bé m«n Vật lí .

              – VÒ mÆt lÝ luËn, ®Ò tµi nµy vÉn héi tô ®Çy ®ñ néi dung, tÝnh chÊt ®Æc thï cña ph­¬ng ph¸p d¹y häc, Vật lí ë tr­êng trung häc c¬ së.  Bªn c¹nh ®ã cßn hµm chøa tÊt c¶ c¸c yªu cÇu vµ néi dung tÊt yÕu cña ph­¬ng ph¸p d¹y häc tÝch cùc trong ®ã cã ph­¬ng ph¸p ®Æc thï bé m«n Vật lí.

              Trªn ®©y lµ nh÷ng ®iÒu t«i thu ®­îc  qua thùc nghiÖm nghiªn cøu vµ thùc tÕ gi¶ng d¹y. Tuy nhiªn trong qu¸ tr×nh tr×nh bµy ch¾c kh«ng tr¸nh khái nh÷ng thiÕu sãt, kÝnh mong ®­îc sù gãp ý cña ban gi¸m hiÖu, tæ chuyªn m«n vµ b¹n bÌ ®ång nghiÖp

    2. Khuyến nghị

      2.1. Về phía cha mẹ  học sinh:

      – Kiểm tra đôn đốc việc chuẩn bị bài, học bài của học sinh ở nhà.

      – Tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tích cực trong việc học bài.

      2.2. Về phía Ban Giám Hiệu nhà trường:

       -  Hỗ trợ tích cực cho giáo viên trong việc áp dụng phương pháp dạy bài thực hành, quan tâm xây dựng vườn trường.

       – Khuyến khích, động viên  các giáo viên sử dụng công nghệ thông tin kết hợp phương pháp dạy học mới.

       2.3. Về phía Phòng giáo dục và đào tạo:

         -  Hỗ trợ thêm về phương diện thiết bị nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác dạy học của giáo viên. 

    – Thường xuyên tổ chức cho các giáo viên đi học chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học.

                                                          

    “Phương Pháp Giải Bài Tập Vật Lí Phần Nhiệt Lớp 8” / 2023

    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMTÊN ĐỀ TÀI:“PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ PHẦN NHIỆT LỚP 8″

    Môn/ lĩnh vực : Vật Lí

    Tài liệu kèm theo : Phụ lục

    Trang

    I. Phần đặt vấn đề ………… ………………………….. 3

    I.1. Lý do chọn đề tài ………………………………………. 3

    I. Mục đích nghiên cứu ………………………………….. 3

    I.4. Đối tượng, phạm vi, kế hoạch, thời gian nghiên cứu. 4

    I.5. Đóng góp mới về mặt lý luận thực tiễn………………. 5

    II. Phần giải quyết vấn đề ………………………………….. 5

    II.1. Thực trạng vấn đề ……………………………………… 5

    II.1.1. Sơ lược về trường …………………………………… 5

    II.1.2. Một số thành tựu …………………………………….. 5

    II.1.3. Một số tồn tại và nguyên nhân ……………………… 6

    II.1.4. Một số vấn đề đặt ra ………………………………… 6

    II.2. Áp dụng trong giảng dạy ………………………………. 6

    II.2.1. Các bước tiến hành ………………………………….. 6

    II.2.2. Bài dạy minh hoạ …………………………………….. 7

    II.2.3.Một số bài tập nâng cao 1 II.3. Phương pháp nghiên cứu và kết quả sau thực nghiệm4

    II.3.1. Phương pháp ……………………………………….. 19

    II.3.2. Kết quả ……………………………………………….. 20

    III. Phần kết luận và khuyến nghị …………………………….. 20

    III.1. Kết luận ……………………………………………….. 20

    Môn vật lí 8 chia làm hai phần : Phần cơ học và phần nhiệt học. Nhiệt học là một trong bốn phần kiến thức Vật Lí cơ bản được trang bị cho học sinh THCS. Lượng kiến thức của phần này không nhiều so với các phần khác, bài tập phần này cũng không quá khó song vì các em ít được tiếp xúc với các bài tập định lượng nên việc định hướng giải bài tập Nhiệt còn khó khăn với các em và các em chưa có phương pháp giải.

    I.3.ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI, KẾ HOẠCH, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU.

    a. Cơ sở lí luận.

    b. Cơ sở thực tiễn.

    Trường Tôi nằm tại vùng phân lũ của cụm miền Bùi, có qui mô nhỏ với dưới một vạn dân, kinh tế xã hội còn chậm phát triển với rất ít các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Nhân dân xã dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ;hiện nay có nhiều phụ huynh học sinh tham gia làm công nhân cho các doanh nghiệp,công ty ở xa,văn hóa xã hội còn nhiều hạn chế,phong trào giáo dục phát triển chưa cao…

    Trường Tôi có cảnh quan đẹp, môi trường Xanh – Sạch – Đẹp, có môi trường sư phạm rất thuận lợi: đội ngũ giáo viên luôn đoàn kết nhất trí, ý thức trách nhiệm cao, tay nghề đồng đều, vững vàng…. Nhà trường xác định hướng đi trọng tâm là : Phát huy yếu tố nội lực là động lực thúc đẩy, phát triển, xây dựng nề nếp giáo dục toàn diện. Từ nhiều năm nay đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường đã phấn đấu, nỗ lực nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm phù hợp với yêu cầu giáo dục trong giai đoạn mới. Đến nay nhiều giáo viên của nhà trường đã đủ điều kiện tiếp cận với những đổi mới của ngành,khoa học kĩ thuật; một số giáo viên của trường được chọn là bộ phận cốt cán của Phòng giáo dục.Tuy nhiên trong nhiều năm liền nhà trường không đạt được các chỉ tiêu phấn đấu của Cụm và của Phòng đề ra.

    Kĩ năng tìm hiểu đề bài của các em còn hạn chế, các em chưa xác định được đề bài cho yếu tố gì, cần phải tìm yếu tố nào.

    Các em thường nhần khi tính toán mà chưa đổi các đơn vị.

    Các em chưa xác định được các quá trình trao đổi nhiệt.

    Các em chưa xác định được đúng đối tượng trao đổi nhiệt.

    Các em chưa xác định các bước giải bài tập.

    Kĩ năng vận dụng kiến thức toán vào tính toán còn hạn chế.

    Phương pháp truyền đạt kiến thức của thầy đến học sinh chưa đạt hiệu quả cao.

    Bản thân học sinh còn chủ quan, chưa tập trung nghe giảng nên tiếp thu kiến thức chưa đầy đủ, các em chưa tích cực chủ động trong học tập do vậy việc định hướng giải bài tập chưa tốt.

    Chương trình SGK Vật lí 8 chủ yếu là lí thuyết, có rất ít tiết bài tập nên giáo viên chưa rèn được kĩ năng cho học sinh. Trong khi ở lớp 6 và lớp 7 các em ít được làm quen với bài tập định lượng nhất là phần Nhiệt học. Vì vậy đối với các em mà nói bài tập Vật lí Nhiệt học không khó song không được rèn luện thường xuyên dẫn đến việc định hướng giải bài tập Nhiệt học của các em còn khó.

    Xây dựng kế hoạch thực hiện đề tài ngay từ đầu năm học.

    Áp dụng việc giảng dạy đều ở tất cả các lớp, với các đối tượng học sinh :Giỏi. khá, trung bình.

    Khảo sát và rút ra kinh nghiệm.

    Để giảng dạy tốt bài tập phần Nhiệt học giáo viên cần phải chuẩn bị tốt một số công việc sau :

    Giáo viên sọan bài kĩ.

    Khắc sâu các kiến thức cơ bản.

    Với mỗi bài tập phải giúp học sinh định hướng được phương pháp giải, đưa về dạng toán cơ bản để khi gặp bài khác học sinh có thể vận dụng giải được, tránh giải dập khuôn máy móc.

    Với bài tập có nhiều đại lượng cần chú ý rèn kĩ năng tóm tắt đề bài và đổi đơn vị.

    Ở mỗi tiết học phải dành thời gian hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà. Luôn đổi mới phương pháp dạy và học giúp học sinh phát huy được khả năng tư duy của bản thân.

    Phương trình cân bằng nhiệt:

    Công thức tính hiệu suất:

    Hiệu suất của động cơ nhiệt :

    Cách giải : Bước 1: Phân tích tìm các đối tượng thu nhiệt

    Phân tích bài.

    Hai đối tượng thu nhiệt đó là nước và ấm nhôm.

    Một đối tượng toả nhiệt đó là bếp dầu hoả.

    Nhiệt lượngcó ích là nhiệt lượng làm nóng nước và ấm

    Nhiệt lượng toàn phần do dầu hoả bị đốt cháy toả ra.

    Hiệu suất của bếp bằng 30% có nghĩa là 30% nhiệt lượng bếp toả ra biến thành nhiệt lượng có ích.

    Để tính được khối lượng dầu hoả thì phải tính được nhiệt lượng toàn phần bếp toả ra.

    Biết năng suất tỏa nhiệt của xăng là q=46.106 J/kg.

    -Theo đầu bài có hai vật truyền nhiệt cho nhau.

    -Nhiệt lượng quả cầu nhôn tỏa ra khi nhiệt độ hạ từ 100°C xuống 25°C là :

    Q 1 = m 1.C 1.t 1 = m 1.C 1 .(t 1-t) 0,5.4880.(100 -25) = 9900(J)

    -Nhiệt lượng nước thu vào khi tăng nhiệt độ từ 20°C đến 25°C là :

    Q 2 = m 2.C 2.t 2 = m 2.C 2 .(t-t 2)

    -Nhiệt lượng quả cầu tỏa ra bằng nhiệt lương nước thu vào :

    Q 1 = Q 2

    m 2.C 2 .(t-t 2)= 9900(J)

    -Vậy khối lượng nước là :

    m 2 = = 0,47(kg)

    Đáp số: 0,47(kg)

    Bài tập 2:Một người dự định pha 2kg nước ở 1000C vào nước lạnh ở 120C để có nước ấm ở 250C.Tính lượng nước lạnh cần sử dụng?

    m2=?

    Q 1 = m 1.C.t 1 = 2.C.(100-25) =150.C(J)

    -Nhiệt lượng nước thu vào khi tăng nhiệt độ từ 12°C đến 25° C là :

    Q 2 = m 2.C.t 2 = m 2.C .(25-12)=13.m 2.C

    -Vậy khối lượng nước cần dung là :

    Q 1 = Q 2

    150.C(J)= 13.m 2.C

    m 2= = 11,5(kg)

    Đáp số: 11,5(kg)

    -Nhiệt lượng mà siêu nhôm thu vào là:

    Q 1 =C 1.m 1. t=0,5.880.(100-20)=35200(J)

    -Nhiệt lượng mà nước thu vào là:

    Q 2 = m 2.C.t=2.5.4200.(100-20)=840000(J)

    -Nhiệt lượng có ích mà siêu nước thu vào là:

    Q i= Q 1+ Q 2=35200(J)+ 840000(J)=875200(J)

    -Nhiệt lượng toàn phần do dầu tỏa ra là:

    -Vậy khối lượng dầu cần dùng là:

    Đáp số: 0,066(kg)

    Bài tập 4: Một ôtô có công suất máy là 49KW,đi được 120km thì tiêu thụ hết 24 lít xăng . Hiệu suất của máy là 40%.Tính vận tốc của ô tô?. Biết năng suất tỏa nhiệt của xăng là q=46.106 J/kg và khối lượng riêng là D=700kg/m3.

    -Khối lượng của xăng là:

    m =D.V =700.0,024 =16,8(kg)

    -Nhiệt lượng toàn phần mà xăng tỏa ra là:

    Q i= q.m =46000000.16,8= 772800000(J)

    -Nhiệt lượng (công) có ích mà máy sinh ra là:

    -Thời gian ô tô đi là:

    Ta có: t = A i/P ==6300(s) =1,75(h)

    -Vận tốc trung bình của ô tô là:

    v = ==68(km/h)

    Đáp số:68 (km/h)

    -Nhiệt lượng mà 5 kg nước thu vào để nóng từ 10°C đến 16 0C là:

    Q 1 =C.m 1. t 1 = C.5.(16-10)=30.C (J)

    -Nhiệt lượng mà nước sôi tỏa ra khi lạnh từ 100°C xuống 16 0 C là:

    Q 2 = m 2.C.t 2=m.c.(100-16)=84.m 2.C (J)

    Hỗn hợp nước ở 16 0C có:m =5+0,357=5,357(kg)

    -Nhiệt lượng mà hỗn hợp nước thu vào để nóng từ 16 0C lên 25 0C là:

    Q= C.m. t=C.5,357.(25-16)=48,213.C (J)

    -Nhiệt lượng mà nước nóng tỏa ra khi hạ từ 90 0C xuống 25 0C là:

    Q 3=C.m 3. t 3=C.m 3.(90-25)=65.C.m 3 (J)

    Vậy khối lượng nước nóng đã dùng là: 0,742(kg)

    Đáp số: 0,357(kg)

    0,742(kg)

    Phương pháp nghiên cứu lí luận.

    Dạy học theo phương pháp đổi mới, theo phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề.

    Cần trang bị cho học sinh hệ thống các kiến thức cần thiết để giải bài tập Nhiệt học.

    Phân loại các dạng bài tập và đưa ra phương pháp giải cho từng dạng.

    Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

    Điều tra, khảo sát cụ thể việc giải bài tập Nhiệt học ở các lớp khác nhau trong một trường. Chú ý tới sai sót thường mắc phải, quan sát trực tiếp việc giải bài toán Nhiệt học của học sinh từ đó uốn nắn thường xuyên cách trình bày bài của học sinh.

    Thường xuyên dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp để rút kinh nghiệm trong giảng dạy.

    Giáo viên thường xuyên kiểm tra việc học lý thuyết và làm bài tập của học sinh, có những câu hỏi tổng hợp để phát huy tính sáng tạo của học sinh.

    Qua thực tế giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của học sinh để tích luỹ kinh nghiệm, đúc rút chọn lọc thành bài học về phương pháp giải toán.

    2)Kết quả phần nhiệt học năm học 2016-2017:

    – Kết quả trên đó là một niềm vui, niềm hạnh phúc lớn đối với tôi nói riêng và có lẽ với tất cả những người làm thầy nói chung khi thấy sự tâm huyết, cố gắng của mình đã đem lại kết quả như mong muốn. Đó cũng là một sự động viên, một nguồn khích lệ lớn trong công việc giảng dạy của tôi , khiến tôi thêm yêu nghề.

    – T”i nghiªn cøu vÊn ®Ò nµy cã thÓ nãi ®©y chØ lµ mét s¸ng kiÕn, kinh nghiÖm nhá cña riªng t”i, nh­ng t”i rÊt mong muèn ®­îc b¹n bÌ, ®ång nghiÖp tham kh¶o, ®ãng gãp, x©y dùng ®Ó cã mét ph­¬ng ph¸p d¹y häc tèt nhÊt, ®Æc biÖt ®èi víi m”n Vật lí.

    – §Ò tµi nµy cña t”i g¾n liÒn víi thùc tiÔn c”ng t¸c gi¶ng d¹y ë tr­êng trung häc c¬ së. Nã gãp phÇn kh¾c phôc nh÷ng khã kh¨n, yÕu kÐm cña häc sinh trong qu¸ tr×nh häc tËp mét tiÕt thùc hµnh ë bé m”n Vật lí .

    – VÒ mÆt lÝ luËn, ®Ò tµi nµy vÉn héi tô ®Çy ®ñ néi dung, tÝnh chÊt ®Æc thï cña ph­¬ng ph¸p d¹y häc, Vật lí ë tr­êng trung häc c¬ së. Bªn c¹nh ®ã cßn hµm chøa tÊt c¶ c¸c yªu cÇu vµ néi dung tÊt yÕu cña ph­¬ng ph¸p d¹y häc tÝch cùc trong ®ã cã ph­¬ng ph¸p ®Æc thï bé m”n Vật lí.

    Trªn ®©y lµ nh÷ng ®iÒu t”i thu ®­îc qua thùc nghiÖm nghiªn cøu vµ thùc tÕ gi¶ng d¹y. Tuy nhiªn trong qu¸ tr×nh tr×nh bµy ch¾c kh”ng tr¸nh khái nh÷ng thiÕu sãt, kÝnh mong ®­îc sù gãp ý cña ban gi¸m hiÖu, tæ chuyªn m”n vµ b¹n bÌ ®ång nghiÖp

    2.1. Về phía cha mẹ học sinh:

    – Kiểm tra đôn đốc việc chuẩn bị bài, học bài của học sinh ở nhà.

    – Tạo điều kiện và khuyến khích học sinh tích cực trong việc học bài.

    2.2. Về phía Ban Giám Hiệu nhà trường:

    – Hỗ trợ tích cực cho giáo viên trong việc áp dụng phương pháp dạy bài thực hành, quan tâm xây dựng vườn trường.

    – Khuyến khích, động viên các giáo viên sử dụng công nghệ thông tin kết hợp phương pháp dạy học mới.

    2.3. Về phía Phòng giáo dục và đào tạo:

    – Hỗ trợ thêm về phương diện thiết bị nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác dạy học của giáo viên.

    – Thường xuyên tổ chức cho các giáo viên đi học chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học.

    Skkn Phương Pháp Giải Bài Tập Vật Lý 8 Nâng Cao Phần Nhiệt Học / 2023

    

    SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ 8 NÂNG CAO PHẦN NHIỆT HỌC`

    Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lí do chọn đề tài Dạy học vật lí là nhiệm vụ then chốt trong mổi nhà trường, bởi vì kết quả học sinh đạt được kết quả cao hàng năm là một trong những tiêu chuẩn để xét thi đua cho mổi giáo viên và nó cũng là một trong những tiêu chuẩn để tạo danh tiếng cho trường, là thành quả để tạo lòng tin với phụ huynh và là cơ sở tốt để xã hội hoá giáo dục. Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, các sự vật hiện tượng vật lý rất quen thuộc gần gũi với các em. Song việc tạo lòng say mê yêu thích và hứng thú tìm tòi kiến thức lại phụ thuộc rất nhiều vào nghiệp vụ sư phạm của người thầy. Qua giảng dạy và tìm hiểu tôi nhận thấy phần lớn các em chưa có thói quen vận dụng những kiến thức đã học vào giải bài tập vật lý một cách có hiệu quả. Nhiệt học là một trong bốn phần kiến thức vật lí cơ bản được trang bị cho học sinh trung học cơ sở. Lượng kiến thức của phần này không nhiều so với các phần khác, bài tập của phần này cũng không quá khó nhưng lại gặp thường xuyên trong các kì thi học sinh giỏi các cấp. Song vì các em ít được tiếp xúc với bài tập định lượng, số giờ bài tập ở lớp 8 lại không có nên việc định hướng giải bài tập nhiệt học rất khó khăn với các em và các em chưa có phương pháp giải. II. Mục đích nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm Xuất phát từ những lý do trên tôi đã suy nghĩ, tìm tòi và đưa ra sang kiến: “Phương pháp giải một số dạng bài tập vật lí nâng cao phần nhiệt học” với mong muốn phần nào khắc phục được nhược điểm tìm cách giải bài tập vật lí nhiệt học của học sinh khối 8 và rèn luyện tính tự học cho học sinh khối 9 góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục III. Kết quả cần đạt + Đối với học sinh giỏi khối 8: Biết cách giải các dạng bài tập vật lí nhiệt học cơ bản và nâng cao + Đối với học sinh giỏi khối 9: Tự học và giải được các dạng bài tập vật lí nhiệt học nâng cao IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu + Học sinh giỏi khối 8, 9 năm học 2009 – 2010 tại trường ta

    Phần II : NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu Giảng dạy bộ môn vật lí 8 nhằm để năng cao chất lượng học tập của học sinh là việc làm được sự chỉ đạo từ ban giám hiệu đến việc phân công giao trọng trách và chỉ tiêu cho từng đồng chí giáo viên đứng lớp. Nên kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi cho từng giáo viên, kiểm tra đôn đốc giáo viên qua việc dự giờ thăm lớp rút kinh nghiệm cho từng giáo viên. Trong đó chỉ đạo đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học là nhiệm vụ cấp bách. Dạy học vật lí là việc làm thường xuyên, liên tục và lâu dài. Nó đòi hỏi người giáo viên không phải chỉ có năng lực, kinh nghiệm mà phải có cả tâm huyết với nghề, yêu nghề, yêu trò, phát hiện và bồi dưỡng tạo điều kiện để cho những em có năng lực tự bộc lộ khả năng một cách tối đa. Theo ý kiến của nhiều học giả đều cho rằng mỗi học sinh đều có mặt mạnh 1

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc + Phương trình cân bằng nhiệt: Qtoả = Qthu + Nhiệt lượng toả ra của nhiên liệu: Q = m.q m: khối lượng của nhiên liệu bị đốt cháy hoàn toàn(kg) q: năng suất toả nhiệt của nhiên liệu(J/kg) + nhiệt lượng cần thiết để một chất nóng chảy hay đông đặc hoàn toàn: Q = m m: khối lượng của chất bị nóng chảy(đông đặc) hoàn toàn(kg)  : nhiệt nóng chảy của chất(J/kg) + Công thức tính hiệu suất là: H = Qi / QTP Qi: nhiệt lượng có ích(J) QTP: nhiệt lượng toàn phần(J) 2. Phương pháp giải các dang bài tập nâng cao phần nhiệt học Loại 1: Bài tập chỉ có một đối tượng tham gia vào quá trình nhiệt nhưng ở nhiều thể: Bài tập: Tính nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho 0,5kg nước đá ở -150C hoá thành hơi hoàn toàn. Biết nhiệt dung riêng của nước đá và nước là c 1= 1800J/kg.K, c2=4200J/kg.K, nhiệt nóng chảy của nước đá là  = 3,4.105J/kg, nhiệt hoá hơi của nước là L = 2,3.106J/kgc1 Phân tích bài: – Trong bài tập nước đá trải qua các giai đoạn sau: + Nước đá từ -150C lên 00C + Nước đá nóng chảy thành nước ở 00C + Nước từ 00C lên 1000C + Nước hoá thành hơi hoàn toàn ở 1000C – Từ sự phân tích trên ta có lời giải sau: + Nhiệt lượng cần thiết cung cấp cho 0,5kg nước đá ở -150C tăng nên 00C là: Q1 = m. c1.  t = 0,5.1800.15 = 13500J =0,135.105J + Nhiệt lượng cần thiết cung cấp cho 0,5kg nước đá ở 00C nóng chảy hoàn toàn là: Q2 = m.  = 0,5.3,4.105 = 1,7.105J + Nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho 0,5kg nước ở 00C tăng lên 1000C là: Q3 = m.c2.  t = 0,5.4200.100 = 2,1.105J + Nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho 0,5kg nước ở 100 0C hoá thành hơi hoàn toàn là: Q4 = m.L = 0,5.2,3.106 = 11,5.105J + Nhiệt lượng cần thiết để cung cấp cho 0,5kg nước ở -15 0C hoà thành hơi hoàn toàn là: Q = Q1 + Q2 +Q3 +Q4 = 0,135.105J + 1,7.105J + 2,1.105J + 11,5.105J = 15,435.105J Cách giải: Bước 1: Phân tích đề bài tìm các giai đoạn thu nhiệt hoặc toả nhiệt của đối tượng. Bước 2: Tính nhiệt lượng của từng giai đoạn tương ứng. Bài tập tự giải: Một thỏi nước đá có khối lượng 200g ở -100C. Tính nhiệt lượng cần thiết để thỏi nước đá hoá thành hoi hoàn toàn ở 1000C. Biết nhiệt dung riêng của nước đá và nước là c1= 1800J/kg.K, c2=4200J/kg.K, nhiệt nóng chảy của nước đá là  = 3,4.105J/kg, nhiệt hoá hơi của nước là L = 2,3.106J/kg Loại 2: Bài tập có nhiều đối tượng tham gia vào quá trình nhiệt và ở nhiều thể. 

    3

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

     SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc Đây là dạng bài tập rất phong phú và có thể chia thành ba dạng sau: Dạng 1: Bài tập đã biết rõ thể Bài tập 1: Thả cục nước đá ở nhiệt độ t1= -500C vào một lượng nước ở nhiệt độ t2 = 600C người ta thu được 25kg nước ở nhiệt độ 250C. Tính khối lượng nước đá và nước? Biết nhiệt dung riêng của nước đá và nước là c1= 1800J/kg.K. c2=4200J/kg.K, nhiệt nóng chảy của nước đá là  = 3,4.105J/kg Phân tích bài: – Bài tập này có hai đối tượng tham gia vào quá trình nhiệt là: + Cục nước đá ở -500C + Nước ở 600C – Vì đề bài cho ta thu được 25kg nước ở nhiệt độ 250C nên ta suy luận được: + Cục nước đá trải qua các giai đoạn là: Từ -500C lên 00C Nóng chảy hoàn toàn ở 00C Từ 00C lên250C Nước chỉ có một giai đoạn là hạ nhiệt độ từ 600C xuống 250C ` Cục nước đá thu nhiệt, nước toả nhiệt – Từ sự phân tích trên ta có lời giải là: + Gọi khối lượng của cục nước đá ở -500C và nước ở 600C lần lượt là m1, m2 Vì ta thu được 25kg nước ở 250C nên ta có: m1 + m2 = 25 (1) + Nhiệt lượng cần thiết để cục nước đá từ -500C tăng lên 00C là: Q1 = m1.c1.  t = m1.1800.50 = 90000.m1 + Nhiệt lượng cần thiết để cục nước đá ở 00C nóng chảy hoàn toàn là: Q2 = m1  = m1.3,4.105 = 340000.m1 + Nhiệt lượng cần thiết để m1kg nước ở 00C tăng nên 250C là: Q3 = m1.c2.  t = m1.4200.25 = 105000.m1 + Nhiệt lượng thu vào của cục nước đá là: Qthu = Q1 + Q2 + Q3 = 90000.m1 + 340000.m1 + 105000.m1 = 535000.m1 + Nhiệt lượng toả ra của m2 kg nước từ 600C hạ xuống 250C là: Qtoả = m2.c2.  t = m2.4200.35 = 147000.m2 + Theo phương trình Cân bằng nhiệt ta được: Qtoả = Qthu 147000.m2 = 535000.m1  147.m2 = 535.m1 (2) Từ (1)  m1 = 25 – m2 thay vào (2) ta được 147.m2 = 535.(25-m2)  147.m2 = 13375 – 535.m2  682.m2 = 13375  m2 = 19,6kg  m1 = 25 – 19,6 = 5,4kg – Vậy khối lượng cục nước đá là: 5,4kg, khối lượng nước là: 19,6kg Cách giải: Bước 1: – Xác định các đối tượng tham gia vào quá trình nhiệt – Xác định xem từng đối tượng trải qua mấy quá trình 4

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

     SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc – Xác định đối tượng toả nhiệt, đối tựơng thu nhiệt Bước 2: – Dùng công thức tính nhiệt lượng cho các quá trình – Tính Qtoả, Qthu – Dùng phương trình cân bằng nhiệt Qtoả = Qthu để tính đại lượng cần tìm Chú ý: ở bài tập trên có thể yêu cầu tính nhiệt độ ban đầu của nước đá hoặc nước. Ví dụ: Thả 400g nước đá vào 1kg nước ở 50C. Khi có cân bằng nhiệt thì thấy khối lượng nước đá tăng thêm 10g. Xác định nhiệt độ ban đầu của nước đá. Biết nhiệt dung riêng của nước đá và nước là C1= 1800J/kg.K, C2=4200J/kg.K, nhiệt nóng chảy của nước đá là  = 3,4.105J/kg Minh hoạ cách giải: Bước 1: Bài toán có hai đối tượng tham gia vào quá trình nhiệt là: – Nước đá ở t0C – Nước ở 50C – Vì khi có cân bằng nhiệt thì thấy khối lượng nước đá tăng thêm 10g nên: Nước ở 0 5 C trải qua các quá trình là: + Hạ nhiệt độ từ 50C xuống 00C + Một phần nước ở 00C đông đặc thành nước đá (phần này có khối lượng bằng 10g) + Nước đá ở t0C chỉ có một quá trình là tăng nhiệt độ từ t0C đến 00C – Vậy nước ở 50C toả nhiệt, nước đá ở t0C thu nhiệt Bước 2: Giải bài toán: + Nhiệt lượng cần để 1kg nước hạ nhiệt độ từ 50C xuống 00C là: Q1 = m2.c2.  t = 1. 4200 5 = 21000J + Nhiệt lượng cần để 10g nước ở 00c đông đặc hoàn toàn là: Q2 = m.  = 0,01.3,4.105= 3400J + Nhiệt lượng toả ra của nước ở 50C là: Qtoả = Q1 + Q2 = 21000 + 3400 = 24400J + Nhiệt lượng thu vào của nước đá tăng từ t0c nên 00C là: Qthu = m1.c1.  t = 0,4.1800.(-t) = – 720.t + Theo phương trình cân bằng nhiệt ta có: Qtoả = Qthu .  .24400 = -720.t  t = 24400:(-720) = – 340C Vậy nhiệt độ ban đầu của nước đá là: -340C Bài 2: Dùng một bếp điện để đun nóng một nồi đựng 1kg nước đá (đã đập vụn) ở -200C sau 1 phút thì thì nước đá bắt đầu nóng chảy. a. Sau bao lâu thì nước đá nóng chảy hết? b. Sau bao lâu nước đá bắt đầu sôi? c. Tìm nhiệt lượng mà bếp tỏa ra từ đầu nước bắt đầu sôi, biết rằng hiệu suất đun nóng nồi là 60% Biết: Cnđ = 2100J/kg.K  = 336000J/kg; Cn = 4200J/kg.K và quá trình thu nhiệt đều đặn. Phân tích bài toán: Bướ 1: Bài toán có ba giai đoạn nước đá thu nhiệt: + Nước đá từ: -200C 5

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    

    SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc + Nước đá nóng chảy hết. + Nước bắt đầu sôi. – Vì quá trình troa đổi nhiệt ( thu hoạc tỏa nhiệt ) xãy ra đều đặn có nghĩa là:

    không đổi. Ta có công thức là:

    Trong đó Q(J) là nhiệt lượng ứng với thời

    gian trao đổi nhiệt t (Giây, phút, giờ) Bước 2: Gải bài toán : a. Nhiệt lượng cần thiết để nước đá tăng từ nhiệt độ – 200C lên 00C là : Q1thu I = C1m1(tC1 – tđ) = 2 100 . 1[0- (20)] = 42 000 (J) Nhiệt lượng cần thiết để nước đá nóng chảy là: Q2thu II =  m1 = 336 000 . 1 = 336 000 (J) Theo bài ra ra thì nhiệt độ thu vào tương ứng với thời gian trao đổi nhiệt nên: Q1thuI Q 2thuII Q 2thuII 336000  t 2  t1  .1 8 phút t1 t2 Q1thuI 42000

    Vậy thời gian nước đá nóng chảy hết là: t1 + t2 = 1 + 8 = 9 phút b. Nhiệt lượng cần thiết để nước đá tăng từ nhiệt độ 00C lên 1000C là: Q2thu III = C2 m1 .(tC2 – tđ2) = 42 000.1.(100 – 0) = 420 000 (J) Theo bài ra ra thì nhiệt độ thu vào tương ứng với thời gian trao đổi nhiệt nên: Q1thuI Q 2thuIII Q 2thuIII 420000  t 2  t1  .1 10 phút t1 t2 Q1thuI 42000

    Vậy thời gian nước đá nóng chảy hết là: t1 + t2 + t3 = 1 + 8 + 10 = 19 phút c. Theo bài ra hiệu suất đun của bếp là 60% nên ta có: H=

    Nhiệt lượng có ít mà nước thu vào là: Q1thu I + Q1thu II + Q1thu III = 42 000 + 336 000 + 420 000 = 798 000 (J) Nhiệt lượng toàn phần của bếp tỏa ra là: Qtp =

    = 1 330 000 (J)

    Bài tập tự giải: Bài 1: Thả một quả cầu bằng thép có khối lượng m 1 = 2kg được nung nóng tới nhiệt độ 600 0C vào hỗn hợp nước và nước đá ở 00C. Hỗn hợp có khối lượng là m2 = 2kg. Tính khối lượng nước đá có trong hỗn hợp. Biết nhiệt độ cuối cùng của hỗn hợp là 50 0C, nhiệt dung riêng của thép, của nước là C1 = 460J/kg.K, C2 = 4200J/kg.K, nhiệt nóng chảy của nước đá là  = 3,4.105J/kg Dạng 2: Bài tập chưa biết rõ thể Bài tập 1 : Thả 1,6kg nước đá ở – 100C vào một nhiệt lượng kế đựng 1,6kg nước ở 800C. Bình nhiệt lượng kế bằng đồng có khối lượng 200g và có nhiệt dung riêng là 380J/kg.K a. Nướ đá có tan hết không? b. Tính nhiệt độ cuối cùng của nhiệt lượng kế? Biết: Cnước = 2 100J/kg.K, Lnước = 336.103J/kg. 6

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    Bài tập 2: Trong một bình bằng đồng khối lượng 0,6kg có chứa 4kg nước đá ở -15 0C. Người ta cho dẫn vào 1kg nước ở 1000C. Xác định nhiệt độ chung và khối lượng nước có trong bình khi có cân bằng nhiệt. Biết nhiệt dung riêng của đồng, của nước đá, của nước là C 1 = 380J/kg.K, C2 = 1800J/kg.K, C3 = 4200J/kg.K, nhiệt nóng chảy của nước đá là  = 3,4.105J/kg Phân tích bài : Tương tự bài tập 1 bài này cũng chưa cho biết nhiệt độ cuối cùng khi có cân bằng nhiệt vì vậy ta chưa thể xác định được các đối tượng trải qua những giai đoạn nhiệt nào. Do đó với loại bài tập này trước tiên ta cần xác định trạng thái của các đối tượng bằng cách: + Ta xét xem bình và nước đá có tăng được thêm nhiệt độ nào hay không? + Nhiệt lượng cần thiết để bình đồng và nước đá tăng nhiệt độ từ -150C lên 00C + Nhiệt lượng cần thiết để 1kg nước hạ nhiệt độ từ 1000C xuống 00C + Ta xét tiếp xem nước đá ở 00C có nóng chảy hoàn toàn được không? + Nhiệt lượng cần thiết để m(kg) nước đá ở 00C nóng chảy hoàn toàn . – Từ sự phân tích trên ta có lời giải là: 7

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    Dạng 3: Bài tập trao đổi nhiệt : Bài tập 1: Người ta vớt một cục sắt đang ngâm trong nước sôi rồi thả vào một cốc chứa nước ở nhiệt độ 200C. Biết cục sắt có khối lượng lớn gấp ba lần khối lượng của nước trong cốc. Hãy tính nhiệt độ của nước sau khi thả cục sắt. Cho biết nhiệt dung riêng của sắt là c1 của nước là c2. Nhiệt lượng toả ra môi trường xung quanh coi như không đáng kể. Phân tích bài: – Thả một cục sắt vào một cóc nước : + Cóc nước thu nhiệt + Cục sắt toả nhiệt – Cục sắt vớt từ trong nướ sôi ra chúng tỏ cục sắt có nhiệt độ 1000C: + Sau khi thả cục sắt vào lại nước thì nhiệt độ cân bằng của cục sắt và nước là t x0 . Nhiệt độ cân bằng lúc này phải là: 200C  tx0  1000C. 8

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

     SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc – Từ sự phân tích đó ta có lời giải sau: + Nước sôi ở 1000C, vì vậy cục sắt trước khi thả vào cốc nước có nhiệt độ : t1= 1000C. + Nhiệt độ ban đầu của nước trong cốc là : t2= 200C. + Sau khi thả cục sắt vào nước đã cân bằng, nhiệt độ của nước là: tx0 200C  tx0  1000C + Để hạ nhiệt độ từ 1000C đến tx0 sắt toả ra nhiệt lượng : Q1 = m1c1(100 – tx0) + Để tăng nhiệt độ từ 200C đến tx0C nước hấp thụ nhiệt lượng : Q2= m2c2(tx0 – 20) + Theo đ/k cân bằng nhiệt ta có: Q1 = Q2 hay m1c1(100 – tx0) = m2c2(tx0 – 20 – Thay m1 = 3m2 – Tính được :

    t0 x =

    300c1  20c 2 3c1  c 2

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    10

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

     SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc cân bằng nhiệt người ta lại rót một lượng nước m(kg) như thế từ bình hai trở lại bình một thì nhiệt độ cân bằng của bình một là t1 = 220C. a, Tính lượng nước m và nhiệt độ cân bằng t2 của bình hai b, Nếu tiếp tục thực hiện rót lần hai như thế thì nhiệt độ cân bằng của mỗi bình là bao nhiêu? IV. Kết quả thực hiện: Qua việc định hướng cho học sinh bằng các cách giải một số bài tập theo phương pháp trên tôi có ra cho HS hai loại bài tập như sau: Bài 1: Trong bình một có cục nước đá khối lượng 60g và 150g nước ở trạng thái cân bằng nhiệt. Bình hai chứa 450g nước ở nhiệt độ 800C. Rót một lượng nước từ bình 1 sang bình 2, sau khi nước ở bình 2 đạt cân bằng nhiệt, lại rót nước từ bình 2 trở lại bình 1 cho đến khi nước ở bình hai đạt mức ban đầu của nó. Nhiệt độ cuối cùng của nước trong bình một là 20 0C. Hỏi lượng nước đã rót từ bình nọ sang bình kia. Cho rằng nước ở bình không trao đổi nhiệt với môi trường và với bình. Biết nhiệt dung riêng của nước là 4200J/kg.K, nhiệt nóng chảy của nước đá là :336000J/kg. Kết quả lời giải của HS là: + Gọi lượng nước rót từ bình một sang bình hai là m. + Khi rót nước từ bình một sang bình hai thì nước từ bình một thu nhiệt, nước ở bình hai toả nhiệt. Gọi nhiệt độ của bình hai khi có cân bằng nhiệt là t2. + Nhiệt lượng cần thiết để m(kg) nước từ 00C tăng nên t2 là: Q1 = m.c.  t = m.4200.t2 + Nhiệt lượng cần thiết để450g nước ở bình hai hạ nhiệt độ từ 800c xuống t2 là: Q2 = 0.45.4200.(80 – t2) = 1890.(80 – t2) + Theo phương trình cân bằng nhiệt ta có: Q1 = Q2  4200m.t2 = 0,45.4200.(80 – t2)  m.t2 = 0,45.(80 – t2) (1) + Khi rót m(kg) nước từ bình hai trở lại bình một thì nước từ bình hai toả nhiệt, lượng nhiệt này cung cấp ch bình một để nước đá nóng chảy hoàn toàn thành nước ở 0 0C và làm cho toàn bộ nước ở 00C trong bình một tăng nhiệt độ nên đến 200C. + Vậy ta có nhiệt lượng cần thiết để m(kg) nước toả nhiệt từ t2 xuống 200C là: Q3 = m.c.  t = m.4200.(t2 – 20) + Nhiệt lượng cần để 60g nước đá ở 00c nóng chảy hoàn toàn là: Q4 = 0,06.3,36.105 = 20160J + Nhiệt lượng cần thiết để toàn bộ nước có trong bình một tăng từ 00C nên 200C là: Q5 = M.c.  t = (0,15 – m + 0,06).4200.20 J + Theo phương trình cân bằng nhiệt ta có: Q3 = Q4 + Q5  4200.m.(t2 – 20) = 20160 + (0,15 – m + 0,06).4200.20 (2)  m.(t2 – 20) = (0,15 – m + 0,06).20 + 4,8  m.t2 = 0,21.20 + 4,8  m.t2 = 9 (2) Thay (1) vào (2) ta được 0,45.(80 – t2) = 9  80 – t2 = 20  t2 = 60(0c)  m = 9:t2 = 9:60 = 0,15(kg) = 150g Vậy lượng nước đã rót là: 150g Bài 2 11

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

     SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc 1kg nước ở nhiệt độ 400C. Thả vào đó một thỏi nước đá ở nhiệt độ -10 0C. Khi có cân bằng nhiệt thấy sót lại 200g nước đá chưa tan. Hãy xác định khối lượng của thỏi nước đá thả vào bình. Biết nhiệt dung riêng của dồng, của nước, của nước đá lần lượt là c 1 = 380J/kg.K, c2 = 4200J/kg.K, c3 = 1800J/kg.K, nhiệt lượng để làm nóng chảy hoàn toàn 1kg nước đá ở 00c là 3,4.105J/kg. Sự toả nhiệt ra môi trường chiếm 5%. Kết quả lời giải của HS là: + Vì khi cân bằng nhiệt thấy còn sót lại 200g nước đá chưa tan nên nhiệt độ cân bằng của hệ thống là 00C . + Vậy nhiệt lượng toả ra của bình đồng để hạ nhiệt độ từ 400C xuống 00C là: Q1 = m1.c1.  t = 0,8.380.40 = 12160J + Nhiệt lượng toả ra của 1kg nước hạ nhiệt độ từ 400C xuống 00C là: Q2 = m2.c2.  t = 1.4200.40 = 168000J Khi đó Q = Q1 + Q2 = 12160 + 168000 = 180160J + Vì sự toả nhiệt ra môi trường chiếm 5% nên nhiệt lượng toả ra là: Qtoả = 180160.95% = 171152J + Gọi khối lượng của thỏi nước đá khi thả vào bình là mkg. + Nhiệt lượng cần thiết để mkg nước đá tăng từ -100C nên 00C là: Q3 = m.c3.  t = m.1800.10 = 18000.m + Vì còn sót lại 200g nước đá chưa tan nên lượng nước đá nóng chảy hoàn toàn ở 0 0 C là ( m – 0,2)kg. + Nhiệt lượng cần thiết để (m – 0,2)kg nước đá nóng chảy hoàn toàn ở 00c là: Q4 = (m – 0,2).3,4.105 = (m – 0,2).340000 Khi đó Qthu = Q3 + Q4 = 18000.m + 340000.(m – 0,2) + Theo phương trình cân bằng nhiệt ta có: Qtoả = Qthu  171152 = 18000.m + 340000.(m – 0,2)  171152 = 358000.m – 68000  358000.m = 239152  m = 0,668(kg) = 668(g) Vậy khối lượng của thỏi nước đá thả vào bình là 668g Các em học sinh giỏi giải được các bài tập nhiệt học như vậy là đã đạt được mục tiêu mà tôi đặt ra khi viết sáng kiến này.

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc Qua thực tế cho thấy, người thầy luôn sợ học sinh của mình không biết, không thể làm được nên không giám giao công việc để học sinh về nhà làm. Chúng ta nên mạnh dạn đầu tư, suy nghĩ tìm ra những việc làm vừa sức có thể giao cho các em về nhà làm sua mỗi tiết học(nếu có thể) để kích thích sự tò mò, lòng say mê yêu thích môn học. Ví dụ: Có thể giao cho các em làm những thí nghiệm đơn giản mà có thể tìm được dụng cụ như rắc các hạt mạt sắt nên trên tấm bìa, đặt nam châm ở dưới và gõ nhẹ vào tấm bìa rồi quan sát sự sắp sếp của các hạt mạt sắt. Hoặc làm thí nghiệm kiểm chứng lực đẩy Acximet FA = P = d.V bằng các dụng cụ ca, cốc, và vật rắn không thấm nước em tự tìm(giao việc sau bài học lực đẩy Acximet)… II. Một số kiến nghị: Về sách giáo khoa vật lí lớp 8: Nên có những tiết bài tập ở trên lớp để giáo viên có thêm thời gian củng cố, khắc sâu kiến thức cho các em, hướng dẫn các em giải bài tập đặc biệt là phần nhiệt học Về nhà trường: Nên tổ chức học tự chọn bám sát và phụ đạo thêm môn vật lí cho các em Về phương pháp: Giáo viên giảng dạy bộ môn nên phân rõ dạng bài tập và định hướng cách giải để các em có thể xác định được hướng giải các bài tập vật lí. 

    13

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    

    SKKN: Phöông phaùp giaûi baøi taäp naâng cao vaät lí 8 phaàn nhieät hoïc

    14

    Ngöôøi thöïc hieän: Buøi Vaên Khaùnh

    Giải Bài Tập Sbt Vật Lí 8 Bài 22: Dẫn Nhiệt / 2023

    Trong các cách sắp xếp vật liệu dẫn nhiệt từ tốt hơn đến kém hơn sau đây, cách nào là đúng?

    A. Đồng, nước, thủy tinh, không khí.

    B. Đồng, thủy tinh, nước, không khí.

    C. Thủy tinh, đồng, nước, không khí.

    D. Không khí, nước, thủy tinh, đồng.

    Phương pháp giải

    Dựa vào bảng 22.1 để xác định khả năng dẫn nhiệt của các chất

    Hướng dẫn giải

    – Tra bảng 22.1 trang 79 cho ta biết khả năng dẫn nhiệt của các chất giảm dần theo thứ tự là đồng, thủy tinh, nước, không khí.

    – Chọn B

    Trong sự dẫn nhiệt, nhiệt tự truyền

    A. Từ vật có nhiệt năng lớn hơn sang vật có nhiệt năng nhỏ hơn.

    B. Từ vật có khối lượng lớn hơn sang vật có khối lượng nhỏ hơn.

    C. Từ vật có nhiệt độ cao hơn sang vật có nhiệt độ thấp hơn.

    D. Cả ba câu trên đều đúng.

    Phương pháp giải

    Nhiệt được truyền từ nơi (vật) có nhiệt độ cao sang nơi (vật) có nhiệt độ thấp hơn

    Hướng dẫn giải

    – Trong sự dẫn nhiệt, nhiệt tự truyền từ vật có nhiệt độ cao hơn sang vật có nhiệt độ thấp hơn.

    – Chọn C

    Tại sao rót nước sôi vào cốc thủy tinh thì cốc dày dễ bị vỡ hơn cốc mỏng ? Muốn cốc khỏi bị vỡ khi rót nước sôi vào thì làm như thế nào ?

    Phương pháp giải

    Trước khi rót nước sôi vào cốc thủy tinh nên nhúng cốc vào nước ấm hoặc tráng ít nước ấm bên ngoài để cốc nóng đều và không bị vỡ.

    Hướng dẫn giải

    – Rót nước sôi vào cốc dày thì lớp thủy tinh bên trong nóng lên trước, nở ra trong khi lớp thủy tinh bên ngoài chưa kịp nóng và nở ra nên làm vỡ cốc. Nếu cốc mỏng thì nhiệt độ lớp thủy tinh bên trong tăng lên và kịp thời dẫn nhiệt ra ngoài nên cốc nóng lên đều ở cả trong và ngoài, do đó sẽ khó bị vỡ cốc.

    – Vì vậy, muốn cốc khỏi bị vỡ khi rót nước sôi vào thì người ta thường nhúng cốc thủy tinh vào nước ấm trước hoặc tráng ít nước ấm bên ngoài cốc rồi mới rót nước sôi vào để cốc nóng đều và không bị vỡ.

    Đun nước sôi bằng ấm nhôm và bằng ấm đất trên cùng một bếp lửa thì nước trong ấm nào sẽ chóng sôi hơn ?

    Phương pháp giải

    Kim loại luôn có khả năng dẫn nhiệt tốt hơn các vật liệu gốm, đất.

    Hướng dẫn giải

    Vì nhôm có khả năng dẫn nhiệt tốt hơn đất nên đun bằng ấm nhôm nước sẽ sôi nhanh hơn.

    Tại sao về mùa lạnh khi sờ vào miếng đồng ta cảm thấy lạnh hơn khi sờ vào miếng gỗ ? Có phải nhiệt độ của đồng thấp hơn của gỗ không ?

    Phương pháp giải

    Khả năng dẫn nhiệt của đồng tốt hơn gỗ nên đồng đã hấp thu mạnh nhiệt độ của môi trường làm tay ta cảm thấy lạnh

    Hướng dẫn giải

    Do đồng có khả năng dẫn nhiệt tốt hơn gỗ nên:

    – Khi ta sờ vào thanh đồng và thanh gỗ thì ta đã truyền nhiệt cho chúng nhưng thanh đồng dẫn nhiệt tốt hơn nên lấy nhiệt nhanh hơn làm cho nhiệt độ của tay ta ở chỗ chạm vào thanh đồng sẽ giảm nhanh hơn khi chạm vào thanh gỗ nên ta thấy lạnh hơn.

    – Không phải do nhiệt độ của đồng thấp hơn của gỗ mà do khả năng dẫn nhiệt.

    Một hòn bi chuyển động nhanh va chạm vào một hòn bi chuyển động chậm hơn sẽ truyền một phần động năng của nó cho hòn bi này và chuyển động chậm đi trong khi hòn bi chuyển động chậm hơn sẽ chuyển động nhanh lên. Hiện tượng này tương tự như hiện tượng truyền nhiệt năng giữa các phân tử trong sự dẫn nhiêt.

    Hãy dùng sự tương tự này để giải thích hiện tượng xảy ra khi thả một miếng đồng được nung nóng vào một cốc nước lạnh.

    Phương pháp giải

    Sử dụng lí thuyết về sự dẫn nhiệt của các chất để trả lời câu hỏi này

    Hướng dẫn giải

    Khi thả miếng đồng được nung nóng vào nước thì các phân tử đồng sẽ truyền một phần động năng cho các phân tử nước. Kết quả là động năng của các phân tử đồng giảm còn động năng các phân tử nước tăng. Do đó đồng lạnh đi còn nước nóng lên.

    Dẫn nhiệt là hình thức truyền nhiệt chủ yếu của

    A. chất rắn

    B. chất khí và chất lỏng

    C. chất khí

    D. chất lỏng.

    Phương pháp giải

    Các chất rắn dẫn nhiệt tốt hơn chất lỏng và chất khí

    Hướng dẫn giải

    – Dẫn nhiệt là hình thức truyền nhiệt chủ yếu của chất rắn còn chất lỏng và chất khí dẫn nhiệt kém.

    – Chọn A

    Bản chất của sự dẫn nhiệt là

    A. sự truyền nhiệt độ từ vật này đến vật khác.

    B. sự truyền nhiệt năng từ vật này đến vật khác.

    C. sự thực hiện công từ vật này lên vật khác.

    D. sự truyền động năng của các nguyên tử, phân tử này sang nguyên tử, phân tử khác.

    Phương pháp giải

    Sự truyền nhiệt thực chất là sự trao đổi động năng giữa các phân tử với nhau

    Hướng dẫn giải

    – Do các chất đều được câú tạo từ các nguyên tử và phân tử mà các nguyên tử và phân tử thì luôn chuyển động không ngừng về mọi phía nên bản chất của sự dẫn nhiệt là sự truyền động năng của các nguyên tử, phân tử này sang các nguyên tử, phân tử khác.

    – Chọn D

    Sự dẫn nhiệt chỉ có thể xảy ra giữa hai vật rắn khi

    A. hai vật có nhiệt năng khác nhau

    B. hai vật có nhiệt năng khác nhau, tiếp xúc nhau.

    C. hai vật có nhiệt độ khác nhau.

    D. hai vật có nhiệt độ khác nhau, tiếp xúc nhau.

    Phương pháp giải

    Khi hai vật rắn khác nhau về nhiệt độ tiếp xúc với nhau thì xảy ra hiện tượng dẫn nhiệt

    Hướng dẫn giải

    – Sự dẫn nhiệt chỉ có thể xảy ra giữa hai vật rắn khi hai vật có nhiệt độ khác nhau, tiếp xúc nhau.

    – Chọn D

    Để giữ nước đá lâu chảy, người ta thường để nước đá vào các hộp xốp kín vì

    A. hộp xốp kín nên dẫn nhiệt kém.

    B. trong xốp có các khoảng không kín nên dẫn nhiệt kém.

    C. trong xốp có các khoảng chân không nên dẫn nhiệt kém.

    D. vì cả ba lí do trên.

    Phương pháp giải

    Xốp là vật liệu có khả năng dẫn nhiệt rất kém nên thường dùng làm hộp để giữ nước đá lâu tan

    Hướng dẫn giải

    – Để giữ nước đá lâu chảy, người ta thường để nước đá vào các hộp xốp kín vì trong xốp có các khoảng không khí nên dẫn nhiệt kém.

    – Chọn B

    Về mùa hè ở một số nước Châu Phi rất nóng, người ta thường mặc quần áo trùm kín cả người; còn ở nước ta về mùa hè người ta lại thường mặc quần áo ngắn. Tại sao ?

    Phương pháp giải

    Ở các nước châu Phi nhiệt độ vào mùa hè khá cao nên cần mặc quần áo trùm kín để giữ nhiệt độ ổn định cho cơ thể

    Hướng dẫn giải

    – Mùa hè, ở nhiều nước châu Phi nhiệt độ ngoài trời cao hơn nhiệt độ cơ thể do đó cần mặc áo trùm kín để hạn chế sự truyền nhiệt từ không khí vào cơ thể.

    – Còn ở nước ta về mùa hè, môi trường xung quanh vừa ẩm vừa có nhiệt độ thường thấp hơn lớp không khí tiếp xúc với da. Vì vậy người ta thường mặc áo ngắn, mỏng để da dễ dàng tiếp xúc với không khí mát hơn ở xung quanh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc bay hơi mồ hôi để giải phóng bớt nhiệt lượng ra môi trường.

    Tại sao vào mùa hè, không khí trong nhà mái tôn nóng hơn trong nhà mái tranh ; còn mùa đông, không khí trong nhà mái tôn lại lạnh hơn trong nhà mái tranh.

    Phương pháp giải

    Tôn có khả năng dẫn nhiệt tốt hơn tranh (lá) nên mái nhà bằng tôn sẽ làm không khí trong nhà lạnh hơn vào mùa đông và nóng hơn vào mùa hè

    Hướng dẫn giải

    – Mái tôn dẫn nhiệt tốt hơn mái tranh, vì vậy vào mùa hè, môi trường xung quanh có nhiệt độ rất cao, nhà mái tôn dẫn nhiệt tốt nên không khí trong nhà mái tôn nóng hơn trong nhà máy tranh.

    – Còn về mùa đông, môi trường xung quanh có nhiệt độ rất thấp, nhà mái tôn dẫn nhiệt tốt nên không khí trong nhà máy tôn lại lạnh hơn trong nhà mái tranh.

    Tại sao muốn giữ cho nước chè nóng lâu, người ta thường để ấm vào giỏ có chèn bông, trấu hoặc mùn cưa ?

    Phương pháp giải

    Bông, trấu hay mùn cưa đều là các chất dẫn nhiệt kém nên thường dùng để giữ ấm nước trong ấm chè (trà)

    Hướng dẫn giải

    Vì bông, trấu và mùn cưa dẫn nhiệt kém giúp cho nước chè ít tỏa nhiệt ra môi trường và nóng lâu hơn.

    Hãy thiết kế một thí nghiệm dùng để so sánh độ dẫn nhiệt của cát và của mùn cưa với các dụng cụ sau đây :

    – Cát;

    – Mùn cưa;

    – Hai ống nghiệm;

    – Hai nhiệt kế;

    – Một cốc đựng nước nóng.

    Phương pháp giải

    Để trả lời câu hỏi này cần nắm được đặc tính dẫn nhiệt của các chất

    Hướng dẫn giải

    Cho cát, mùn cưa vào đầy mỗi ống nghiệm.

    Đặt mỗi ống nghiệm vào một cốc đựng nước nóng, 1 nhiệt kế đặt trong ống nghiệm.

    Quan sát chỉ số của nhiệt kế.

    Nếu nhiệt kế nào có cột chất lỏng dâng lên trước thì chất đó dẫn nhiệt tốt hơn.

    Có hai ấm đun nước kích thước giống nhau, một làm bằng nhôm, một làm bằng đồng.

    a) Nếu đun cùng một lượng nước bằng hai ấm này trên những bếp tỏa nhiệt như nhau thì nước ở ấm nào sôi trước. Tại sao?

    b) Nếu sau khi nước sôi. ta tắt lửa đi, thì nước ở ấm nào nguội nhanh hơn? Tại sao?

    Phương pháp giải

    Vì đồng dẫn nhiệt tốt hơn nhôm nên làm nước mau sôi hơn khi đun và cũng làm nước mau nguội hơn khi tắt lửa

    Hướng dẫn giải

    Nhôm dẫn nhiệt kém hơn đồng, vì vậy:

    a) Nếu đun cùng một lượng nước bằng 2 ấm này trên những bếp tỏa nhiệt như nhau thì nhiệt truyền từ ngọn lửa qua ấm đồng vào nước nhanh hơn ấm nhôm nên nước ở ấm đồng sôi trước.

    b) Nếu sau khi nước sôi, ta tắt lửa đi, thì nhiệt truyền từ nước sôi qua ấm đồng ra môi trường xung quanh nhanh hơn nước ở ấm nhôm, nên nước ở ấm đồng lại nguội nhanh hơn.

    Bạn đang xem bài viết “Phương Pháp Giải Bài Tập Vật Lí Phần Nhiệt Lớp 8” / 2023 trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!