Xem Nhiều 2/2023 #️ Sáng Kiến: Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Tập Vật Lý 8 # Top 2 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sáng Kiến: Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Tập Vật Lý 8 # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến: Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Tập Vật Lý 8 mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

PHÒNGGIÁODỤCVÀĐÀOTẠOHUYỆN KIM BÔITRƯỜNGTIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞLẬPCHIỆNG

HƯỚNG DẪN HỌC SINHGIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ 8

Tác giả:BÙI VĂN NHUẬNTrình độ chuyên môn:Đại học Sư phạm Vật lýChức vụ:Giáo viênĐơn vị công tác:Trường TH&THCS Lập Chiệng

Kim Bôi, năm học 2006 – 2017MỤC LỤC

32. Phương pháp tiếp cận sáng kiến1

54. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu2

6Chương II : Mô tả sáng kiến3

82. Các giải pháp thực hiện của sáng kiến8

93. Khả năng áp dụng nhân rộng của sáng kiến18

10Chương III: Kết luận chung và đề xuất19

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

2Tiểu học và trung học cơ sởTH&THCS

3Trung học phổ thôngTHPT

CHƯƠNG ITỔNG QUANMôn Vật lý có nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ chung của giáo dục THCS là giúp HS củng cố và phát triển những kết quả giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.Chương trình Vật lý 8 thuộc giai đoạn hai của chương trình Vật lý THCS. Chương trình Vật lý 8 có vị trí đặc biệt quan trọng vì lớp 8 là lớp kết thúc phần cơ học và nhiệt học ở cấp học này và do đó, nó có nhiệm vụ thực hiện trọn vẹn các mục tiêu đã được quy định chính thức trong chương trình môn Vật lý cấp THCS.Giải bài tập là một trong những hoạt động tự lực quan trọng của HS trong học tập môn Vật lý. Trong hệ thống bài tập vật lý ở trường THCS hiện nay, chủ yếu yêu cầu HS vận dụng những kiến thức đã học để giải thích, dự đoán một số hiện tượng trong thực tế hay tính toán một số đại lượng trong các trường hợp cụ thể. Nhưng những hiện tượng cụ thể đó thì rất nhiều, HS không thể nhớ hết được, điều quan trọng cần đạt được là HS phải biết cách lập luận, suy luận một cách chặt chẽ, chính xác, đúng quy tắc để có thể suy từ những kiến thức khái quát đã thu nhận được trong bài học lí thuyết để giải quyết các nhiệm vụ nêu ra trong bài tập, giáo viêncần hướng dẫn HS suy nghĩ, lập luận để tự tìm ra lời giải.Chính vì những lý do như trên, nên tôi xây dựng sáng kiến “Hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lý 8″để cùng các đồng chí, đồng nghiệp bàn về cách hướng dẫn học sinh suy nghĩ, lập luận để tìm ra lời giải cho mỗi dạng bài tập. Sáng kiến chú trọng đến một số bài tập điển hình thường gặp theo chương trình, chứ không có ý tuyển chọn những bài khó, lạ yêu cầu cao đối với HS.CHƯƠNG IIMÔ TẢ SÁNG KIẾN

1. Nêu vấn đề của Sáng kiếnMôn vật lý là bộ môn khoa học tự nhiên trong nhà trường THCS. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lý tìm ra nguyên nhân, khám phá ra các định luật vật lý và từđó vận dụng các công thức định luật đóđể giải quyết các bài tập vật lý nhằm phục vụ lợi ích cho con người.Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sựchuyển biến mạnh mẽ của kinh tế, xã hội,đối với ngành giáo dục để học sinh có một tri thức vững vàng,đòi hỏi người thầy phải sáng tạo tìm tòi ra những phương pháp dạy học sao cho học sinh tiếp thu một cách phù hợp nhất với từng địa phương cụ, thểđể học sinh tiếp thu được những thành tựu khoa học của thời đại.Song thực tế hiện nay không cóít khó khăn trong việc giảng dạy bộ môn vật lý,đó làđồ dùng thí nghiệm còn chưa đầy đủ

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Phương Pháp Giải Bài Tập Vật Lý 9

Trong việc nâng cao chất lư¬ợng giáo dục nói chung và chất lư¬ợng bộ môn nói riêng. Việc cải tiến ph¬ương pháp dạy học là một nhân tố quan trọng, bên cạnh việc bồi dư¬ỡng kiến thức chuyên môn, việc phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi vì xét cho cùng công việc giáo dục phải đ¬ược tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động, việc khơi dậy phát triển ý thức năng lực tư¬ duy, bồi dư¬ỡng phương pháp tự học là con đ¬ường phát triển tối ư¬u của giáo dục. Cũng nh¬ư trong học tập các bộ môn khác, học Vật lí lại càng cần phát triển năng lực tích cực, năng lực tư¬ duy của học sinh để không phải chỉ biết mà còn phải hiểu để giải thích hiện tư¬ợng Vật lí cũng nh¬ư áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các hoạt động trong cuộc sống gia đình và cộng đồng.

Trong khuôn khổ nhà trư¬ờng phổ thông, bài tập Vật lí thư¬ờng là những vấn đề không quá phức tạp, có thể giải đư¬ợc bằng những suy luận lô gíc, bằng tính toán hoặc thực nghiệm dựa trên cơ sở những quy tắc Vật lí, phư¬ơng pháp Vật lí đã quy định trong ch¬ương trình học. Như¬ng bài tập Vật lí lại là một khâu quan trọng trong quá trình dạy và học Vật lí .

Việc giải bài tập Vật lí giúp củng cố đào sâu, mở rộng những kiến thức cơ bản của bài giảng, xây dựng củng cố kỹ năng kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, là biện pháp quý báu để phát triển năng lực tư¬ duy của học sinh, có tác dụng sâu sắc về mặt giáo dục t¬ư tư¬ởng, đạo đức. Vì thế trong việc giải bài tập Vật lí mục đích cơ bản cuối cùng không phải chỉ tìm ra đáp số, tuy điều này cũng quan trọng và cần thiết, mục đích chính của việc giải là ở chỗ ngư¬ời làm bài tập hiểu đư¬ợc sâu sắc hơn các khái niệm, định luật Vật lí, vận dụng chúng vào những vấn đề thực tế trong cuộc sống, trong lao động.

Qua thực tế giảng dạy Vật lí ở tr¬ường THCS Vân Nham nói chung và Vật lí 9 nói riêng, tôi nhận thấy học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn lúng túng khi giải các bài tập Vật lí, điều này ít nhiều ảnh h¬ưởng đến chất l¬ượng dạy và học.

i tập vật lí. þ Hai phương pháp suy luận để giải các bài tập vật lí. þ Áp dụng phương pháp giải bài tập vật lí vào một số bài tập cơ bản. 2.3.2.1. Trình tự giải một bài tập vật lí. - Phương pháp giải một bài tập Vật lí phụ thuộc nhiều yếu tố: mục đích yêu cầu của bài tập, nội dung bài tập, trình độ của các em, v.v... Tuy nhiên trong cách giải phần lớn các bài tập Vật lí cũng có những điểm chung. - Thông thường khi giải một bài tập vật lí cần thực hiện theo trình tự sau đây: 2.3.2.1.1. Hiểu kỹ đầu bài. - Đọc kỹ dầu bài: bài tập nói gì? cái gì là dữ kiện? cái gì phải tìm? -Tóm tắt đầu bài bằng cách dùng các ký hiệu chữ đã qui ước để viết các dữ kiện và ẩn số, đổi đơn vị các dữ kiện cho thống nhất(nếu cần thiết ). 2.3.2.1.2. Phân tích nội dung bài tập, lập kế hoạch giải. - Tìm sự liên hệ giữa những cái chưa biết (ẩn) và những cái đã biết (dữ kiện) - Nếu chưa tìm được trực tiếp các mối liên hệ ấy thì có thể phải xét một số bài tập phụ để gián tiếp tìm ra mối liên hệ ấy. - Phải xây dựng được một dự kiến về kế hoạch giải. 2.3.2.1.3. Thực hiện kế hoạch giải. - Tôn trọng trình tự phải theo để thực hiện các chi tiết của dự kiến, nhất là khi gặp một bài tập phức tạp. - Thực hiện một cách cẩn thận các phép tính số học, đại số hoặc hình học. Nên hướng dẫn học sinh làm quen dần với cách giải bằng chữ và chỉ thay giá trị bằng số của các đại lượng trong biểu thức cuối cùng. - Khi tính toán bằng số, phải chú ý đảm bảo những trị số của kết quả đều có ý nghĩa. 2.3.2.1.4. Kiểm tra đánh giá kết quả. - Kiểm tra lại trị số của kết quả: Có đúng không? Vì sao? Có phù hợp với thực tế không? - Kiểm tra lại các phép tính: có thể dùng các phép tính nhẩm và dùng cách làm tròn số để tính cho nhanh nếu chỉ cần xét độ lớn của kết quả trong phép tính. - Nếu có điều kiện, nên phân tích, tìm một cách giải khác, đi đến cùng một kết quả đó. Kiểm tra xem còn con đường nào ngắn hơn không. Việc đưa ra cho học sinh trình tự giải bài tập như vậy sẽ giúp cho học sinh biết được các bước giải từ đó học sinh sẽ giải nhanh hơn vì không phải lúng túng xem mình làm công việc gì trước công việc gì sau có khi còn thực hiện thiếu bước. 2.3.2.2. Hai phương pháp suy luận để giải các bài tập vật lí. Xét về tính chất thao tác của tư duy, khi giải các bài tập vật lí, người ta thường dùng phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp. 2.3.2.2.1. Giải bài tập bằng phương pháp phân tích. những đại lượng đã biết thì bài toán đã được giải xong. Như vậy cũng có thể nói theo phương pháp này, ta mới phân tích một bài tập phức tạp thành những bài tập đơn giản hơn rồi dựa vào những quy tắc tìm lời giải mà lần lượt giải các bài tập đơn giản này. Từ đó tìm dần ra lời giải của các bài tập phức tạp nói trên. v Thí dụ ta hãy dùng phương pháp phân tích để giải bài tập sau: w Đề bài:" Người ta dùng một loại dây hợp kim đồng có tiết diện 10 mm2 và có điện trở suất là 0,4.10-4m để làm một lò sưởi điện sưởi ấm một gian phòng. Hỏi cần phải lấy chiều dài của dây dẫn này là bao nhiêu để duy trì nhiệt độ của phòng luôn luôn không đổi nếu mỗi giờ gian phòng này bị mất một nhiệt lượng bằng 2 970 000J qua các cửa sổ và các bức tường. Biết nguồn điện cung cấp cho lò sưởi có điện áp là 220V". w Hướng dẫn giải: - Đại lượng cần tìm ở đây là chiều dài của dây hợp kim. Ta tìm mối liên hệ giữa chiều dài của dây dẫn với các đại lượng khác trong bài. - Ta biết rằng muốn nhiệt độ của phòng luôn luôn không đổi thì trong mỗi giờ nhiệt lượng lò sưởi cung cấp phải bằng nhiệt lượng mà phòng mất đi. Nhiệt lượng do lò sưởi cung cấp tương đương với điện năng mà lò sưởi tiêu thụ. Điện năng lại phụ thuộc điện trở của dây hợp kim đồng. Điện trở này lại do chiều dài của dây qui định. a. Nếu gọi chiều dài của dây là l, điện trở của dây là R, điện trở suất của nó là và tiết diện của nó là S, thì chiều dài của dây dẫn liên hệ với điện trở của nó bằng công thức: = Do dó: (1) b. Trong biểu thức của chiều dài có một đại lượng mới chưa biết đó là điện trở R của dây. Điện trở này đo bằng tỉ số của hiệu điện thế U với cường độ dòng điện I qua dây: (2) c. Đại lượng mới chưa biết là cường độ dòng điện I thì liên hệ với các đại lượng khác bằng định luật Ôm và bằng công thức biểu diễn năng lượng A do dòng điện toả ra. Ta đã dùng định luật Ôm trong (2). Vậy mối liên hệ giữa I và A là: A = I.U.t trong đó t là thời gian dòng điện chạy qua dây; từ đó suy ra: (3) d. Trong công thức trên, điện năng tính ra Jun. Điện năng này tương đương với nhiệt lượng Q mà dòng điện cung cấp (và với nhiệt lượng mà gian phòng mất đi) trong thời gian t theo biểu thức: Q =A (4) ở vế phải của biểu thức (4), tất cả các đại lượng đều đã biết. Bây giờ cần thay thế biểu thức sau vào biểu thức trước và cứ thế đi dần từ biểu thức cuối lên biểu thức đầu: - Thay (4) vào (3) được: (3)' - Thay (3)' vào (2) được: (2)' - Thay (2)' vào (1) được (1)' -Thay các đại lượng trên bằng các trị số của chúng vào (1)' +Với:U = 220 V t = 1h = 3600s S = 10 mm2 = 10.10-4 m2 Q = 2 970 000 J = 0,4.10-4 m + Ta được: - Vậy chiều dài dây hợp kim đồng là 220m. 2.3.2.2.2. Giải bài tập bằng phương pháp tổng hợp. Theo phương pháp này, suy luận không bắt đầu từ các đại lượng cần tìm mà bắt đầu từ các đại lượng đã biết có nêu trong bài. Dùng công thức liên hệ các đại lượng này với các đại lượng chưa biết, ta đi dần đến công thức cuối cùng trong đó chỉ có một đại lượng chưa biết là đại lượng cần tìm. vTheo phương pháp tổng hợp, bài tập nêu trong ví dụ trên có thể giải như sau: a. Muốn nhiệt độ trong phòng luôn luôn không đổi thì nhiệt lượng do dòng điện qua lò sưởi toả ra trong một thời gian t nào đó (ở đây là 1giờ) phải bằng nhiệt lượng Q mà gian phòng mất đi trong thời gian đó. Theo định luật Jun - Len xơ thì. Q = I2.R.t (1) trong đó R là điện trở của dây dẫn của lò sưởi, I là cường độ dòng điện qua lò sưởi. b. Theo định luật Ôm, ta có: (2) c. Nhưng điện trở của dây dẫn lại phụ thuộc kích thước và bản chất của dây dẫn theo công thức: (3) trong đó là điện trở suất, là chiều dài của dây dẫn, S là tiết diện của dây dẫn. d. Thay các biểu thức (2) và (3) vào biểu thức (1), ta được: (4) - Từ đó rút ra: (1)' - Thay các đại lượng trên bằng trị số của chúng, ta được: - Vậy chiều dài dây hợp kim đồng là 220m. Như vậy dùng phương pháp tổng hợp, ta cũng tìm được chiều dài của dây lò sưởi như khi dùng phương pháp phân tích. Nhìn chung, khi giải bất kỳ một bài toán vật lí nào ta đều phải dùng cả hai phương pháp: phân tích và tổng hợp. Phép giải bắt đầu bằng cách phân tích các điều kiện của bài tập để hiểu được đề bài. Phải có một sự tổng hợp kèm theo ngay để kiểm tra lại mức độ đúng đắn của sự phân tích các điều kiện ấy. Muốn lập được kế hoạch giải, phải đi sâu vào phân tích nội dung vật lí của bài tập. Tổng hợp những dữ kiện đã cho với những quy luật vật lí đã biết, ta mới xây dựng được lời giải và kết quả cuối cùng. Như vậy ta có thể nói là trong quá trình giải bài tập vật lí ta đã dùng phương pháp phân tích - tổng hợp. Học sinh nắm vững hai phương pháp này thì có thể làm được nhiều dạng bài tập từ cơ bản đến phức tạp. 2.3.3. Áp dụng phương pháp giải bài tập vật lí vào một số bài tập cơ bản BÀI TOÁN 1. Một ấm điện có hai điện trở: R1 = 4 và R2 = 6. Nếu bếp chỉ dùng một điện trở R1 thì đun sôi ấm nước trong 10 phút. Tính thời gian cần thiết để đun sôi ấm nước trên khi: a, Chỉ dùng R2 b. Dùng R1 nối tiếp R2. c. Dùng R1 song song R2. (Biết không có sự mất nhiệt ra môi trường và mạng điện có hiệu điện thế không đổi). w Hướng dẫn giải: * Tìm hiểu các điều kiện đã cho của bài. - Cho biết giá trị của hai điện trở. - Thời gian đun sôi nước khi chỉ dùng điện trở R1, dùng cả R1,R2(mắc nối tiếp,song song). - Tóm tắt: R1 = 4; R2 = 6 t1 = 10 phút t2 ? t3 ? khi R1nt R2. t4 ? khi R1//R2. * Phân tích bài toán. -Bài toán này xuất phát từ định luật Jun-len xơ với biểu thức: Q =I2.R.t (1) trong đó nhiệt lượng mà nước thu vào bằng nhiệt lượng do các điện trở toả ra. - Theo điều kiện đầu bài thì nếu sử dụng biểu thức (1) của định luật Jun-len xơ, thì việc giải bài toán rất phức tạp hoặc không thực hiện được. Vậy ở bài toán này mối liên hệ giữa các đại lượng để tìm cấu trúc công thức rất quan trọng, đóng vai trò quyết định đến sự thành công. - Như ta đã biết từ công thức (1). Ta có thể viết được một số biểu thức tương đương trên cơ sở mối liên hệ của một số đại lượng trong công thức với các đại lượng khác, để việc tính toán không làm bài toán phức tạp. Thật vậy: vì U = I.R nên (1) Q = U.I.t (2) mặt khác theo định luật Ôm: I = nên (2) Q = (3) - Từ đây nên chọn công thức nào để giải bài toán, điều này đòi hỏi sự nhanh nhạy, suy diễn cao. Nếu chọn (2) thì vẫn còn đại lượng I chưa biết, do đó chọn công thức (3) - Cần biểu diễn các đại lượng cần tính. + Giá trị điện trở của ấm trong 4 trường hợp: 1/ R = R1 2/ R = R2 3/ R = R1 + R2 4/ hay R = -Với chú ý rằng nhiệt lượng mà dây điện trở của ấm toả ra trong 4 trường hợp là như nhau. - Hiệu điện thế trong các trường hợp là không đổi. * Bài giải. - Gọi thời gian đun sôi nước trong 4 trường hợp lần lượt là: t1, t2, t3, t4. - Do không có sự mất nhiệt ra môi trường nên nhiệt lượng cần để đun sôi nước bằng nhiệt lượng mà dây điện trở của ấm toả ra. - Áp dụng công thức: Q = (Theo công thức (3) ) cho các trường hợp ta có: a. Chỉ dùng dây R1: Q1 = (1) Chỉ dùng dây R2: Q2 = (2) từ (1) và (2) = b. Khi dùng R1 nối tiếp R2: Q3 = (3) từ (1) và (3) = c. Khi dùng R1 song song R2: Q4 = (4) từ (1), (2) và (4) BÀI TOÁN 2. Một vật sáng AB = 6cm đặt trước một thấu kinh hội tụ có tiêu cự f = 20cm. Vẽ ảnh của vật sáng AB, tính khoảng cách từ ảnh đến thấu kính và chiều cao của ảnh trong các trường hợp sau: a, Vật đặt cách thấu kính 30cm. b, Vật đặt cách thấu kính 12 cm. w Hướng dẫn giải: * Tìm hiểu các điều kiện đã cho của bài. Bài toán cho chiều cao của vật, tiêu cự của thấu kính, khoảng cách từ vật tới thấu kính (trong hai trường hợp) Tóm tắt: AB = 6cm; OF = OF' = f = 20cm; a, OA= 60cm ; A'B'=? OA'=? b, OA = 12cm; A'B'=? OA'=? * Phân tích bài toán. - Học sinh nắm vững cách vẽ ba tia sáng đặc biệt khi đi qua thấu kính hội tụ để vẽ ảnh A'B' của vật AB trong hai trường hợp trên. - Dựa vào kiến thức hình học chỉ ra các cặp tam giác đồng dạng: ý a, ta có (1) (2) Cho vế phải của (1) bằng vế phải của (2) rồi giải tính được A'F OA' thay vào (1) hoặc (2) tính được A'B' Với cách làm tượng tự ta cũng tính được ý b, * Bài giải. a, ta có (1) (2) Từ (1) và (2) OF'2+OF'A'F'=OAA'F' A'F'=OF'2:(OA-OF') = 202: ( 60-20) = 10 (cm) OA' = OF' +A'F' = 20+10 = 30(cm) Thay vào (2) A'B'= ABA'F': OF'= 6. 10: 20 = 3(cm) b, ta có (3) (4) Từ (3) và (4) (OF + A'F):OA = OF':(OF' - OA) A'F = 6.5 - 20 = 10cm OA'= A'F +OF = 10 + 20 = 30 (cm). Thay vào (3) ta được: A'B'= AB.OA':OA =6.30:12 = 15 (cm). 2.3.4.Hướng dẫn học sinh làm bài tập về nhà. Qua thực tế giảng dạy Vật lí ở trường THCS, tôi nhận thấy với cấu trúc của chương trình Vật lí THCS là hầu hết không có hoặc có rất ít các tiết bài tập, thêm nữa thời lượng của một tiết học trên lớp có hạn, học sinh chủ yếu tiếp thu kiến thức về lí thuyết một cách cơ bản hoặc giải các bài tập đơn giản và số tiết học chỉ có 1 tiết trên tuần đối với các khối lớp 6, 7, 8 và 2 tiết / tuần đối với lớp 9. Như vậy không có đủ lượng thời gian để giáo viên mở rộng và nâng cao kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh. Do đó bên cạnh việc tổ chức các chuyên đề thì một trong những biện pháp tốt nhất để rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh để học sinh có thể thường xuyên được luyện giải nhiều dạng bài tập khác nhau, cũng như tiếp xúc với các dạng bài tập có tính chất mở rộng và nâng cao, để từ đó học sinh có thể vận dụng một cách linh hoạt các cách giải từng dạng bài tập đó là : "Hướng dẫn học sinh học tập vật lí ở nhà." Việc học sinh tự học ở nhà có một ý nghĩa lớn lao về mặt giáo dục và giáo dưỡng. Nếu việc học ở nhà của học sinh được tổ chức tốt sẽ giúp các em rèn luyện thói quen làm việc tự lực, giúp các em nắm vững tri thức, có kỹ năng, kỹ xảo. Ngược lại nếu việc học tập ở nhà của học sinh không được quan tâm tốt sẽ làm cho các em quen thói cẩu thả, thái độ tắc trách đối với việc thực hiện nhiệm vụ của mình dẫn đến nhiều thói quen xấu làm cản trở đến việc học tập. Công việc học tập của học sinh ở nhà có những đặc điểm riêng sau: + Tiến hành trong một thời gian ngắn, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên, mặc dù đấy là công việc do chính giáo viên giao cho học sinh phải tự mình hoàn thành, tự kiểm tra công việc mình làm. + Công việc này được thực hiện tuần tự theo hứng thú, nhu cầu và năng lực của học sinh. + Dễ bị chi phối bởi ngoại cảnh khác. Có thể coi quá trình học tập của học sinh ở nhà bao gồm các giai đoạn : trước hết phải nhớ lại những điều đã học ở lớp sau đó rèn luyện sáng tạo. Mỗi giai đoạn có một nội dung công việc cụ thể. Việc học tập của học sinh ở nhà phụ thuộc phần lớn vào việc dạy học trên lớp của giáo viên. Vì vậy giáo viên cần phải căn cứ vào tình hình tiếp thu kiến thức của học sinh mà giao cho các em những công việc có tính chất bổ sung phục hồi tài liệu đã học như : nghiên cứu sách giáo khoa, vẽ hình . Trong khi dạy về vần đề nào đó cần suy nghĩ việc giao cho học sinh các bài tập ở nhà. Chính việc giao bài làm một cách có hệ thống đảm bảo cho việc học tập của học sinh có một quy luật chặt chẽ, nhờ đó mà học sinh có thể tự lực giải quyết các bài tập kể cả những bài tập khó, vì đã có sự chuẩn bị ở các bài tập dễ. Việc học sinh hoàn thành tốt các bài tập ở nhà không những chỉ giúp các em nắm vững tri thức đã học cũng như rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, mà còn giúp các em chuẩn bị tốt nhất cho việc tiếp thu kiến thức mới. Vì thế bên cạnh những bài làm phục hồi, luyện tập và sáng tạo trên cơ sở kiến thức đã học cần phải giao cho học sinh những bài làm mang những yếu tố chuẩn bị cho việc tiếp thu chi thức mới. Có như vậy mới đảm bảo được việc tiếp thu một cách tích cực, tự lực đối với những tri thức mới. Ta có thể giao bài tập về nhà cho học sinh bằng nhiều hình thức : + Giao bài tập trong thời gian truy bài đầu giờ. + Giao bài tập sau tiết học. + Giao bài tập theo hệ thống bài tập SGK, SBT, sách tham khảo + Giao bài tập theo dạng, theo chuyên đề . Một biện pháp quan trọng nữa để đảm bảo công tác hướng dẫn học ở nhà có kết quả là cần có những biện pháp kiểm tra, động viên, khích lệ kịp thời và phù hợp : + Kiểm tra vở ghi, vở bài tập. + Cho điểm khuyến khích những học sinh có nhiều cố gắng hoặc chuyển biến trong học tập, ... 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã áp dụng ở lớp 9A, B trường THCS Vân Nham cho bốn đối tượng học sinh (giỏi, khá, trung bình, yếu) Từ việc hướng dẫn học sinh phương pháp giải một bài tập vật lý nêu trên, trong năm học 2010 - 2011 tôi thấy đa số học sinh đã vận dụng một các linh hoạt vào việc giải bài tập, học sinh có khả năng tư duy tốt hơn, có kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải bài tập tốt hơn, linh hoạt hơn. Cụ thể thông qua khảo sát chất lượng học sinh sau khi "Hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài toán Vật lý 9" tôi thu được kết quả như sau: v Kết quả so sánh đối chứng. * Kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài. Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu - Kém SL % SL % SL % SL % 9A, B 53 1 1,9 11 20,7 26 49,1 15 28,3 3. KẾT LUẬN. * Trong quá trình giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường THCS nói chung và Vật lí 9 nói riêng việc hình thành cho học sinh phương pháp, kỹ năng giải bài tập Vật lí là hết sức cần thiết, để từ đó giúp các em đào sâu, mở rộng những kiến thức cơ bản của bài giảng, vận dụng tốt kiến thức vào thực tế, phát triển năng lực tư duy cho các em, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể là : + Giúp học sinh có thói quen phân tích đầu bài, hình dung được các hiện tượng Vật lí xảy ra trong bài toán sau khi tìm hướng giải. + Trong một bài tập giáo viên cần hướng cho học sinh nhiều cách giải (nếu có thể ). Để kích thích sự hứng thú, say mê học tập cho học sinh rèn thói quen tìm tòi lời giải hay cho một bài toán Vật lí. + Khắc sâu cho học sinh nắm chắc các kiến thức bổ trợ khác. Có như vậy việc giải bài tập Vật lí của học sinh mới thuận lợi và hiệu quả. * Đề tài này áp dụng vào thực tế giảng dạy môn Vật lí 9 ở trường THCS Vân Nham có nhiều thuận lợi vì đa số học sinh lớp 9 yêu thích môn Vật lí và được sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, của BGH nhà trường. Đặc biệt là sự hào hứng tiếp thu và thái độ đúng đắn của học sinh làm cho hiệu quả đạt được là tốt. Theo tôi đề tài này có thể áp dụng được cho các trường THCS trong huyện, tỉnh và cho cả bộ môn Vật lí THCS. * Trong quá trình áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này bản thân tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau: - Thứ nhất mỗi giáo viên phải nhận thức đúng đắn về vai trò, tác dụng của việc hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lí THCS nói chung và Vật lí 9 nói riêng. Từ đó luôn trăn trở tìm tòi sáng tạo và vận dụng các phương pháp hay vào việc giải bài tập Vật lí. - Thứ hai là đối với mỗi đối tượng học sinh khác nhau thì đưa ra bài tập ở mức độ khác nhau để cho tất cả học sinh đều được làm và làm được. Từ đó tất cả các em dần dần sẽ nắm được phương pháp giải bài tập và có kỹ năng làm bài tập. Nếu ra khó quá thì rất ít em làm được thì khi đó phương pháp ta đưa ra cho học sinh chỉ là lí thuyết xuông, giáo điều. - Thứ ba là chú trọng vào việc rèn cho học sinh ý thức tự giác làm bài tập ở lớp và ở nhà. Sau thời gian nghiên cứu tìm hiểu, được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường cũng như tổ chuyên môn tôi đã thực hiện thành công việc: " Hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập vật lí 9" với mong muốn: phát triển năng lực duy rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh lớp 9 trong việc học tập bộ môn Vật lí 9. Nhằm nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Tuy nhiên vì điều kiện thời gian, cũng như tình hình thực tế nhận thức của học sinh ở địa phương nơi tôi công tác và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế, nên việc thực hiện đề tài này chắc hẳn không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong các đồng chí và các bạn đồng nghiệp, trao đổi và góp ý để cho đề tài này được hoàn thiện hơn.Tôi xin trân trọng cảm ơn ! Vân Nham, ngày 15 tháng 3 năm 2011 Duyệt của BGH Người viết Nguyễn Văn Bảo Tµi liÖu tham kh¶o - Ph­¬ng ph¸p gi¶ng d¹y vËt lÝ. - NXB Gi¸o dôc. - SGV VËt lÝ 9. - NXB Gi¸o dôc. - SGK VËt lÝ 9. - NXB Gi¸o dôc. - H­íng dÉn lµm bµi tËp vµ "n tËp vËt lÝ 9. - NXB Gi¸o dôc. - Bµi tËp VËt lÝ THCS. - NXB §¹i häc Quèc gia TP HCM - Bµi tËp VËt lÝ chän läc dµnh cho häc sinh THCS. (PTS Vò Thanh KhiÕt - PTS Vò ThÞ Oanh - NguyÔn Phóc ThuÇn.) PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HỮU LŨNG TRƯỜNG THCS VÂN NHAM HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ 9 Người thực hiện: Tổ: Đơn vị: NGUYỄN VĂN BẢO KHOA HỌC TỰ NHIÊN TRƯỜNG THCS VÂN NHAM Năm 2011 Nội dung Trang 1 Lí do chọ đề tài 3 2 Giải quyết vấn đề 4 2.1 Cơ sở lí luận 4 2.2 Thực trạng 4 2.3 Các giải pháp thực hiện 5 2.4 Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm 14 3 Kết luận 15 Tài liệu tham khảo 16

Skkn Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Tập Định Lượng Phần Điện Học Vật Lý 9

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP ĐỊNH LƯỢNG PHẦN ĐIỆN HỌC MÔN VẬT LÝ 9 PHẦN I:

MỞ ĐẦU.

I)Lý do chọn đề tài: 1)Cơ sở lý luận: Cùng với sự đổi mới phát triển của đất nước- Nền giáo dục của Việt Nam có những biến đổi sâu sắc về mục tiêu, nội dung sách GK và cả phương pháp giáo dục, một trong những đổi mới cơ bản hiện nay là đổi mới mục tiêu dạy học ở trường phổ thông THCS. Định hướng được thể chế hóa trong luật giáo dục điều 24.2: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn lụyên kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”Là một giáo viên Vật lý khối THCS, Tôi nhận thức được ,bộ môn vật lý THCS có vai trò quan trọng bởi các kiến thức kĩ năng có nhiều ứng dụng trong đời sống và kỹ thuật. Nó cung cấp những kiến thức Vật lý phổ thông cơ bản có hệ thống và toàn diện, những kiến thức này phải phù hợp với trình độ hiểu biết hiện đại theo tinh thần kỹ thuật tổng hợp, tạo điều kiện hướng nghiệp gắn với cuộc sống. Nhằm chuẩn bị tốt cho các em tham gia vào lao động sản xuất hoặc tiếp tục học lên phổ thông trung học. Đồng thời môn Vật lý góp phần phát triển năng lực tư duy khoa học, rèn luyện kỹ năng cơ bản có tính chất kỹ thuật tổng hợp góp phần xây dựng thế giới quan khoa học rèn luyện phẩm chất đạo đức của người lao động mới.Việc nắm những khái niệm, hiện tượng, định luật và việc giải bài tập điện học lớp 9 là rất quan trọng và cần thiết. Thực tế trong giảng dạy cho thấy, Việc giải bài tập định lượng của môn vật lý ở cấp THCS là một vấn đề làm cho nhiều học sinh cảm thấy khó và sợ , đặc biệt là các bài tập định lượng của phần điện học lớp 9.Chính vì những lý do trên,Tôi nghiên cứu về đề tài ” hướng dẫn HS giải bài

tập định lượng phần điện học môn vật lý 9″ 2)Cơ sở thực tiễn: Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 1

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Đối với môn Vật lý thì tới lớp 6 học sinh mới được tiếp xúc, nên no ùcòn khá mới mẻ đối với các em, vả lại tiết bài tập là rất ít so với tiết lý thuyết. Vẫn còn nhiều học sinh chưa tổng hợp được kiến thức Vật lý từ lớp 6, 7,8 ,9 .Các em chưa hiểu sâu , hiểu kĩ các kiến thức Vật lý, còn thụ động lĩnh hội kiến thức . Trong khi chữa bài tập, nhiều học sinh vẫn còn thờ ơ, nhiều học sinh chỉ cần kết quả đối chiếu , thậm chí vẫn còn học sinh chưa biết tóm tắt bài toán bằng các kí hiệu Vật lý , cách đổi ra đơn vị cơ bản …đặc biệt là chưa giải thích được các hiện tượng Vật lý trong đời sống và kĩ thuật . Là một giáo viên, ai cũng muốn mình có giờ dạy giỏi , một giáo viên giỏi , muốn cho học sinh ham mê , hứng thú học tập , muốn cho học sinh giải bài tập Vật lý một cách hứng thú và thành thạo . Muốn đạt được mục tiêu này là cả một vấn đề nan giải với người trực tiếp dạy bộ môn .Xuất phát từ những lý do trên cùng với băn khoăn , trăn trở bấy lâu nay của bản thân .Tôi xin trình bày đề tài ” Hướng dẫn HS giải bài tập dịnh lượng phần điện học môn vật lý 9 ” trong một tiết học.

II) Mục đích,đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1)Mục đích nghiên cứu: Tôi nghiên cứu về vấn đề này giúp HS có thể giải được các bài tập định lượng của môn Vật lý và coi đây là một công việc nhẹ nhàng. -Tìm ra con đường phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng , hiệu quả giáo dục. tạo cơ sở Thực hiện mục tiêu nhiệm vụ năm học. 2) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về việc hướng dẫn HS giải bài tập định lượng vật lý THCS được áp dụng trong năm học 2008 -2009 tại trường THCS phong Thủy. -Đối tượng : học sinh khối 9 của trường THCS Phong Thủy. 3) Nhiệm vụ nghiên cứu: – Tìm ra phương pháp dạy học phù hợp đối tượng HS với chuẩn kiến thức kỉ năng cơ bản theo quyết định 16 chương trình GD- ĐT.

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 2

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 3

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Nghị quyết TW4 khóa VII xác định: “khuyến khích tự học phải áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để giáo dục cho học sinh khả năng tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Nghị quyết TƯ2 Khóa VIII tiếp tục khẳng định mục tiêu giáo dục đào tạo trong giai đoạn mới là ” Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” và phải “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học. đảm bảo điều kiện tự học tự nghiên cứu cho học sinh”. Vấn đề được đặt ra là dạy như thế nào? học như thế nào?để nâng cao chất lượng ,đáp ứng với nhu cầu xã hội ngày càng đổi mới.Bởi vậy để giúp học sinh thực sự vận dụng kiến thức vật lý cho việc giải bài tập thì điều quan trọng trước tiên là phải hướng dẫn cho học sinh biết cách phân tích các hiện tượng vật lý được nêu ra trong bài toán, nhận rõ sự diễn biến của hiện tượng, xác định được các tính chất, nguyên nhân, quy luật phổ biến chi phối sự diễn biến của hiện tượng. Dù là bài tập định lượng hay định tính thì cũng phải bắt đầu từ sự phân tích định tính trước khi đưa ra những công thức tính toán cho phù hợp. Nhiều khi học sinh thuộc những định nghĩa, định lý, quy tắc nhưng vẫn không giải bài tập được nguyên nhân là không biết lập luận để vận dụng chúng. Khi ta yêu cầu học sinh vận dụng các kiến thức vật lý để giải bài tập có nghĩa là yêu cầu các em thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức mà các em đã học vào một trường hợp cụ thể. Hiện tượng cụ thể trong thực tế rất đa dạng và nhiều hiện tượng trải qua nhiều giai đoạn bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân, nhiều quy luật. Cần phải phân tích được sự phức tạp đó và thực hiện lập luận một cách đúng quy tắc thì kết quả thu được mới chắc chắn. Bởi vậy việc rèn luyện cho học sinh biết phân tích, suy luận là rất quan trọng, cần thiết, phải làm một cách kiên trì, có kế hoạch tạo thói quen, thành nếp suy nghĩ của học sinh, không để cho học sinh hoàn toàn mò mầm một cách tự phát. Đối với học sịnh THCS chưa thể giới thiệu cho các em một cách tường minh các phương pháp suy luận, lô gíc hay các phương pháp nhận thức vật lý. Nhưng bản thân giáo viên thì phải biết để hướng dẫn cho học sinh thực hiện Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 4

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

theo phương pháp đó mỗi khi có cơ hội. Qua nhiều lần như vậy sẽ hình thành ở học sinh thói quen, nếp suy nghĩ khoa học. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG 1.Thực trạng Bên cạnh một số HS giỏi khá vẫn còn nhiều em chưa tự mình giải được một bài tập vật lý đơn giản hoặc có những HS nắm được lý thuyết nhưng kỉ năng vận dụng lý thuyết vào giải toán vật lý còn chậm và yếu.Nhiều học sinh chỉ cần kết quả đối chiếu ,hay dựa vào bài tập mẫu của Thầy và giải một cách râp khuôn, thậm chí vẫn còn học sinh chưa biết tóm tắt bài toán bằng các kí hiệu Vật lý , cách đổi ra đơn vị cơ bản …đặc biệt là chưa giải thích được các hiện tượng Vật lý trong đời sống và kĩ thuật . 2. Nguyên nhân của những hạn chế: -Phần nhiều bài tập về nhà không có sự chỉ đạo của giáo viên. – Hiện nay số tiết bài tập ở trên lớp là rất ít, thậm chí là không có. -Tình trạng phổ biến hiện nay là học sịnh học tập thụ động, máy móc, còn giáo viên chỉ chú trọng đến các bài toán khó nên học sinh thường chỉ thuộc mấy công thức vật lý rồi áp dụng để tính toán một cách máy móc mặc dù không hiểu rõ hiện tượng vật lý, ý nghĩa của các công thức đó. -Trên lớp giáo viên thường dành các tiết bài tập chữa những bài khó vì thời lượng 45′. Thực tế trong quá trình giảng dạy để khắc phục tình trạng trên thì Tôi đã hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm lấy lời giải.bằng cách đưa ra được những câu hỏi hướng dẫn thích hợp, bản thân phải giải bài tập theo bốn bước một cách tỉ mỉ, lường hết những khó khăn hay vấp của HS rồi căn cứ vào đó mà đặt câu hỏi hướng dẫn. * Về phía giáo viên: Vẫn còn một số giáo viên dạy theo phương pháp đổi mới chưa nhuần nhuyễn, dẫn đến học sinh lĩnh hội kiến thức còn thụ động, một số giờ học vẫn còn nghèo nàn, tẻ nhạt, chưa hiểu rõ, hiểu sâu ý đồ của sách giáo khoa. Bài tập chỉ yêu cầu các em giải một cách thụ động hoặc giáo viên giải hộ cho các em, chưa phát huy tính tích cực, sáng tạo, tự lực của học sinh. Chính vì vậy mà một số giáo viên chưa thực sự chú trọng đến việc lập kế hoạch dạy chu đáo. Thông thường là rất đơn sơ, cho các em giải một số bài tập ở trong sách, không có bài tập điển hình và tổng hợp. * Về phía học sinh: Vẫn còn nhiều học sinh chưa tổng hợp được kiến thức Vật lý từ lớp 6, 7, 8 các em chưa hiểu sâu, hiểu kĩ các kiến thức Vật lý, còn thụ động lĩnh hội kiến thức. Trong khi chữa bài tập, nhiều học sinh vẫn còn thờ ơ, nhiều học sinh chỉ cần kết quả đối chiếu, thậm chí vẫn còn học sinh chưa biết tóm tắt bài toán bằng các kí hiệu Vật lý, cách đổi ra đơn vị cơ bản …đặc biệt là giải thích các hiện tượng Vật lý trong đời sống và kĩ thuật. Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 5

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

CHƯƠNG III

CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Ví dụ 1: Cho hai điện trở R1 = 10  ; R2 = 14  hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch là 12V. Tính cường độ dòng điện chạy trong mạch. B1: Giáo viên yêu cầu HS đọc kỹ đề bài. Vẽ hình ra giấy nháp nếu cần R1 R2

�U �

B2; B3:

Tóm tắt đề dựa vào đầu bài toán. R1 = 10  R2 = 14  U = 12V I =? Phân tích tìm hướng giải.

U , nhưng qua công thức ta thấy đề bài chỉ cho U, còn R đề bài chưa cho (ta phải R

tìm R). để tìm R thì ta phải áp dụng CT nào? (đây là câu hỏi diễn ra trong óc HS). HS phải tìm R theo các bước như trên, qua đây ta thấy CT: R = R 1+R2. Vậy công việc đầu tiên là phải đi tính R. Khi tính được R ta sẽ tính được I. B4:

Bắt tay vào giải:

Khi giải ta tính đến đại lượng nào thì ghi lời giải của đại lượng đó. Công thức R = R1+R2 là CT tính điện trở tương đương nên lời giải sẽ là: – Điện trở tương đương của đoạn mạch là. R = R1+ R2 = 10 + 14 = 24(  ). – Cường độ dòng điện chạy trong mạch là. I

Đáp số: 0,5 A. B5:Giải xong thì ta tiến hành thử lại và biện luận nếu thấy kết quả chưa phù hợp. – Thử lại: bằng cách tính toán ta sẽ thử lại được kết quả của bài toán. – Biện luận nếu thấy kết quả không phù hợp. Ví dụ 2: Cho hai điện trở R1 = 10  ; R2 = 15  , cường độ dòng điện trong mạch chính là 2A. Tính cường độ dòng điện chạy trong mỗi đoạn mạch rẽ. B1: Giáo viên yêu cầu HS đọc kỹ đề bài. Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 8

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

�U � Tóm tắt đề dựa vào đầu bài toán. R1 = 10  R2 = 15  I = 2A I1 = ?I2 = ? B2; B3: Phân tích tìm hướng giải. Căn cứ vào phần tóm tắt để phân tích: Ta dựa vào phương pháp phân tích. Bắt đầu từ đại lượng cần tìm (I 1;I2). Muốn tính đươc I thì phải sử dụng công thức nào? I

I1 

Muốn tìm U1; U2 ta phải dựa vào công thức nào? Dựa vào tính chất của đoạn mạch song song U = U1 = U2. Vậy ta phải đi tìm U. Tìm U bằng CT nào? U = IR. RR

Vậy từ việc phân tích ta thấy công việc đầu tiên là phải tìm Rtđ

U

U1; U2

Bắt tay vào tìm lời giải và giải:

Khi giải ta tính đến đại lượng nào thì ghi lời giải của đại lượng đó. Công thức R td 

R 1R 2 là CT tính điện trở tương đương nên lời giải sẽ là: R1  R 2

– Điện trở tương đương của đoạn mạch là. Rtd 

Tính được Rtđ ta sẽ tính U. – hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch song song là. U = IR = 2.6 = 12(V). Để sử dụng được U1; U2 thì ta phải lập luận để dùng chúng. Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 9

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Đáp số: 1,2A; 0,8A. B5:Giải xong thì ta tiến hành thử lại và biện luận nếu thấy kết quả chưa phù hợp. Thử lại: vì mạch song song mà I1 =1,2 A và I2 = 0,8 A nên I = I1 + I2 = 1,2 + 0,8 = 2(A) Kết quả đúng theo yêu cầu bài ra – Thử lại: bằng cách tính toán ta sẽ thử lại được kết quả của bài toán. – Biện luận nếu thấy kết quả không phù hợp. Ví dụ 3: Một bếp điện có ghi 220V – 1000W, được dùng ở hiệu điện thế 220V. Biết bếp sử dụng 30 phút mỗi ngày. Tính điện trở của bếp và nhiệt lượng mà bếp toả ra, mỗi ngày sử dụng với thời gian trên. Tính điện năng mà bếp tiêu thụ trong một tháng(30 ngày). B1: Giáo viên yêu cầu HS đọc kỹ đề bài. Vẽ hình ra giấy nháp nếu cần Tóm tắt đề dựa vào đầu bài toán. 220V – 1000W U = 220V. t1 = 30phút = 11800 s t2 = 30ph x 30ng = 900ph=15h R= ? Q= ? A= ? B2; B3:

Phân tích tìm hướng giải. Căn cứ vào phần tóm tắt để phân tích:

Ta dựa vào phương pháp phân tích. Bắt đầu từ đại lượng cần tìm (R). Muốn tính đươc R thì phải sử dụng công thức nào? R= U2 P

đề bài đã cho U phải lập luận để lấy P

Muốn tìm Q ta phải dựa vào công thức nào? ( HS phải liệt kê tất cả các công thức tính Q, và qua biến đổi toán học ta được công thức Q =

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy

Trường THCS Phong Thủy

10

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Tính A bằng CT nào? HS sẽ tìm được CT : A = P t. Vậy qua việc phân tích ta đã tìm được hướng giải bài toán.

B4:

Bắt tay vào tìm lời giải và giải:

Ta phải lập luận để sử dụng P. – Vì bếp sử dụng ở hiệu điện thế 220V nên công suất của bếp là 1000W. Có U; P ta tính được R. – Điện trở của bếp là:

Cuối cùng là tính A. – Điện năng mà bếp tiêu thụ trong 1 tháng là. A= Pt = 1000. 15 = 15.000 (wh) = 15 (kwh.) Đáp số: 48,4  ; 1.800.000 J; 15 kwh. B5:Giải xong thì ta tiến hành thử lại và biện luận nếu thấy kết quả chưa phù hợp. – Thử lại: bằng cách tính toán ta sẽ thử lại được kết quả của bài toán. – Biện luận nếu thấy kết quả không phù hợp.

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 11

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

PHẦN III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ TỔNG KẾT I) KẾT QUẢ THỰC HIỆN :

Qua 1 học kì áp dụng phương pháp dạy học trên kết quả đạt được: A) – Điểm TBM Điểm

lớp

khá

TB

yếu,kém

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

B) Điểm kiểm tra HKI Măc dù đề của phòng GD ra thực hiện kiểm tra chung cho tất cả các trường , có bài tập định lượng của đề A khó hơn so với chương trình các em HS lớp 9(mức độ đại trà).Nhưng nhờ trong quá trình dạy học bản thân Tôi đã áp dụng hình thức dạy học như đã trình bày ở trên nên kết quả đạt được: Điểm lớp

Khối 9

145

TB

yếu,kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

17,2 47

32,4

57 39,3

98

67,6

6

17,1

6

5

13.5

7

26

17,9

25

Vì trong quá trình giảng dạy áp dụng phương pháp dạy học như đã trình bày ở trên chưa được tinh xảo cho nên kết quả chưa đạt theo nguyện vọng cá nhân,nhưng chất lượng khảo sát môn vật lý học kì I năm học 2008-2009 khá đảm bảo so với các trường bạn. II) BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

1- Thấm nhuần phương pháp dạy học đổi mới. Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy Trường THCS Phong Thủy 12

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 13

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

Nguyễn Thị Thúy ý kiến của Hội Đồng KH Trường THCS Phong Thủy

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 14

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 *Nhiệm vụ năm học *SGK vật lý 9 *SGVvật lý 9 *STK vật lý 9 *Sách 234 bài tập vật lí THCS *Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn vật lý *Sách 500 bài tập vật lí THCS *Sách các bài tập vật lý nâng cao *Tài liệu : Phương pháp giải BT vật lý THCS

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 15

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Hướng dẫn HS Giải bài tập định lượng phần điện học vật lý 9

MỤC LỤC

Tiêu đề PhÇn I

Më ®Çu Néi dung. Ch¬ng I. C¬ së lý luËn Ch¬ng II.Thùc tr¹ng

PhÇn II

PhÇn III

Ch¬ng III.C¸c gi¶i ph¸p thùc hiÖn

6

Bµi häc kinh nghiÖm vµ tæng kÕt

13

Giáo viên : Nguyễn Thị Thúy 16

Trang

Trường THCS Phong Thủy

Trang

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 7 Giải Bài Toán Tìm X Trong Đẳng Thức Chứa Dấu Giá Trị Tuyệt Đối

KINH NGHIỆM: " HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 7 GIẢI BÀI TOÁN TÌM X TRONG ĐẲNG THỨC CHỨA DẤU GIÁ TRỊ TUYỆT ĐỐI" A. MỞ ĐẦU : 1. Lý do chọn đề tài: Khi dạy học môn toán 7 , tôi nhận thấy học sinh còn nhiều vướng mắc khi giải bài toán tìm x có chứa dấu giá trị tuyệt đối . Đa số học sinh khi giải còn thiếu lô gíc ,chặt chẽ , thiếu trường hợp . Lí do là các vận dụng tính chất , định nghĩa giá trị tuyệt đối chưa chắc .Các em chưa phân biệt được các dạng toán và áp dụng tương tự vào bài toán khác . Mặt khác nội dung kiến thức ở lớp 6 & 7 ở dạng này để áp dụng còn hạn chế nên không thể đưa ra đầy đủ các phương pháp giải một cách có hệ thống và phong phú được . Mặc dù chương trình sách giáo khoa sắp xếp rất hệ thống và lô gíc, có lợi thế về dạy học đặt vấn đề trong dạng toán tìm x này.Chính vì vậy, để khắc phục cho học sinh những sai lầm khi giải bài toán tìm x trong đẳng thức chứa dấu giá trị tuyệt đối.Tôi đã suy nghĩ , tìm tòi và áp dụng vào trong giảng dạy thấy có hiệu quả cao . Nên tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm " Hướng dẫn học sinh lớp 7 giải bài toán tìm x trong đẳng thức chứa dấu giá trị tuyệt đối " với mục đích giúp cho học sinh tự tin hơn trong làm toán. 2. Mục tiêu của đề tài: a/ Mục đích: Nhằm giải đáp những vướng mắc khi giải bài toán tìm x có chứa dấu tuyệt đối cho học sinh một cách lô gíc và có khoa học. b/ Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 7 của trường thcs Nguyễn Huệ có học lực dưới mức giỏi. c/ Phương pháp nghiên cứu: Thông qua bài kiểm tra khảo sát đầu năm, kiểm tra vấn đáp những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà các em đã được học. Qua đó giúp tôi nắm được những ''lỗ hổng" kiến thức của các em. Rồi tìm hiểu nguyên nhân và lập kế hoạch khắc phục. d/ Phạm vi: Học sinh khối 7 trường THCS Nguyễn Huệ. e/ Thời gian: Tháng 9 năm 2010 - Tháng 11 năm 2010. B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Cơ sở lý luận: Lớp 7 là cơ sở hạ tầng của bậc trung học cơ sở. Kiến thức toán học lớp 6 & 7 là những cơ sở bước đầu của bậc trung học cơ sở. Nắm vững kiến thức, kỹ năng toán học ở lớp 7 là điều kiện thuận lợi để học tốt ở các lớp trên. 2. Cơ sở thực tiễn: Bản thân tôi là giáo viên vào ngành được 10 năm. Trong những năm qua tôi được phân công giảng dạy môn toán ở nhiều khối lớp từ 6 đến 9. Tham gia dạy bồi dưỡng học sinh giỏi. Khi dạy học môn toán 7 , tôi nhận thấy học sinh còn nhiều vướng mắc khi giải bài toán tìm x có chứa dấu giá trị tuyệt đối . Đa số học sinh khi giải còn thiếu lô gíc ,thiếu chặt chẽ , thiếu trường hợp. Chất lượng môn toán của học sinh còn hạn chế, học sinh giỏi còn ít. Với học sinh lớp 7 ở trường THCS Nguyễn Huệ đa số các em là con nông dân nên điều kiện dành cho các em học tập là ít ,đặc biệt là vào mùa thu hoạch càfe .Nên gặp bài toán này các em làm được rất ít ,hoặc làm thì thường mắc những sai lầm sau: Ví dụ 1 : tìm x , biết Ví dụ 2 : tìm x ,biết : 2 -5 = 1 Nhiều học sinh chưa đưa về dạng cơ bản để giải mà nhanh chóng xét hai trường hợp giống như ví dụ 1 Ví dụ 3 : tìm x biết -x = 2 (1) Học sinh đã làm như sau: Nếu x-10 suy ra x-1 -x =2 Nếu x-1<0 suy ra 1-x-x=2 Với cách giải này các em không xét tới điều kiện của x Có em đã thực hiện (1) suy ra =x+ 2 x-1= x+2 hoặc x-1= -x-2 Trong trường hợp này các em mắc sai lầm ở trường hợp không xét điều kiện của x+2 Như vậy trong các cách làm trên các em làm chưa kết hợp chặt chẽ điều kiện hoặc làm bài còn chưa ngắn gọn *Kết quả điều tra khảo sát Khi chưa hướng dẫn, tôi ra đề cho học sinh lớp 7 trường THCS Nguyễn Huệ như sau : Tìm x , biết a, = 2 ( 3 điểm) b, 2 -5 = 1 ( 3 điểm) c, - x= 2 ( 2 điểm) d, += 3 ( 2 điểm) Tôi thấy học sinh còn lúng túng về cách giải ,chưa nắm vững phương pháp giải đối với từng dạng bài , chưa kết hợp được kết quả với điều kiện xảy ra , chưa lựa chọn được phương pháp giải nhanh gọn và hợp lí . Kết quả đạt được như sau : Giỏi Khá Trung bình Yếu và kém 3% 9% 43% 45% Kết quả thấp là do học sinh còn vướng mắc những điều tôi đã nói ở trênvà phần lớn các em chưa làm được câu c,d . II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: II.1/ . Các giải pháp thực hiện Điều khó khăn khi dạy học sinh lớp 7 là các em chưa được học giải phương trình , bất phương trình, các phép biến đổi tương đương , hằng đẳng thức .Nên giải bài toán tìm x trong đẳng thức chứa dấu giá trị tuyệt đối có những phương pháp xây dựng thì chưa thể hướng dẫn được học sinh vì thế các em cần nắm vững các kiến thức sau : 1, Yêu cầu học sinh nắm vững cách giải bài toán tìm x cơ bản dạng A(x) = B(x) dạng này cần nắm vững quy tắc bỏ dấu ngoặc ,chuyển vế 2, Định lí và tính chất về giá trị tuyệt đối . = A khi A0 -A khi A<0 = , 0 3, Định lí về dấu nhị thức bậc nhất. II.2/. Các biện pháp tổ chức thực hiện Để giải bài toán tìm x mà biểu thức có chứa dấu giá trị tuyệt đối .Tôi đã sử dụng các kiến thức cơ bản như quy tắc ,tính chất ,định nghĩa về giá trị tuyệt đối hướng dẫn học sinh phân chia từng dạng bài , phát triển từ dạng cơ bản sang dạng khác . Từ phương pháp giải dạng cơ bản , dựa vào định nghĩa tính chất về giá trị tuyệt đối tìm tòi các phương pháp giải các dạng khác đối với mỗi dạng bài ,loại bài . Biện pháp cụ thể như sau: 1/.Một số dạng cơ bản 1.1 Dạng cơ bản = B với B0 a, Cách tìm phương pháp giải Đẳng thức có xảy ra không ? Vì sao ? Nếu đẳng thức xảy ra cần áp dụng kiến thức nào để bỏ dấu giá trị tuyệt đối ( áp dụng tính chất giá trị tuyệt đối của hai số đối nhau thì bằng nhau ) b. Phương pháp giải Ta lần lượt xét A(x) = B hoặc A(x) = -B c.Ví dụ Ví dụ 1 🙁 Bài 25 (a) sách giáo khoa trang 16 tập 1) Tìm x , biết = 2,3 GV: Đặt câu hỏi bao quát chung cho bài toán : Đẳng thức có xảy ra không ? vì sao? ( Đẳng thức có xảy ra vì 0 và 2,30 ) Cần áp dụng kiến thức nào để giải , để bỏ được dấu giá trị tuyệt đối ( áp dụng tính chất giá trị tuyệt đối của hai số đối nhau thì bằng nhau ) Bài giải = 2,3 x-1,7= 2,3 ; hoặc x-1,7 = -2,3 + Xét x-1,7= 2,3 x= 2,3 + 1,7 x= 4 + Xét x-1,7 = -2,3 x = -2,3 +1,7 x=-0,6 Vậy x=4 hoặc x=-0,6 Từ ví dụ đơn giản ,phát triển đưa ra ví dụ khó dần Ví dụ 2 : ( bài 25b SGK trang 16 tập 1) Tìm x biết Với bài này tôi đặt câu hỏi 'Làm sao để đưa về dạng cơ bản đã học ' Từ đó học sinh biến đổi đưa về dạng Bài giải x - = hoặc x -= - + Xét x - = x = + Xét x -= - x = Vậy x = hoặc x = Ví dụ 3 Tìm x ,biết 3 -17 =16 Làm thế nào để đưa về dạng cơ bản đã học ? Từ đó học sinh đã biến đổi đưa về dạng cơ bản đã học = 11 Bài giải 3 -17 =16 3 = 33 = 11 9-2x =11 hoặc 9-2x = -11 + Xét 9-2x =11 -2x = 2 x= -1 + Xét 9-2x = -11 -2x = - 20 x= 10 Vậy x = -1 hoặc x = 10 1.2 Dạng cơ bản = B(x) ( trong đó biểu thức B (x) có chưá biến x a, Cách tìm phương pháp giải Cũng đặt câu hỏi gợi mở như trên , học sinh thấy được đẳng thức không xảy ra khi B(x) <0. Vậy cần áp dụng kiến thức nào để có thể dựa vào dạng cơ bản đế suy luận tìm ra cách giải bài toán trên không ? Có thể tìm ra mấy cách ? b, Phương pháp giải Cách 1 : ( Dựa vào tính chất ) = B(x) Với điều kiện B(x) 0 ta có A(x) = B(x) hoặc A(x) = - B(x) sau đó giải hai trường hợp với điều kiện B(x) 0 Cách 2 : Dựa vào định nghĩa xét các quá trình của biến của biểu thức chứa dấu giá trị tuyệt đối . = B(x) +Xét A(x) 0 x? Ta có A(x) = B(x) ( giải tìm x để thoả mãn A(x) 0 ) + Xét A(x) < 0 x? Ta có A(x) = - B(x) ( giải tìm x để thoả mãn A(x) < 0) + Kết luận : x = ? Lưu ý : Qua hai dạng trên tôi cho học sinh phân biệt rõ sự giống nhau ( đều chứa một dấu giá trị tuyệt đối ) và khác nhau ( =m 0 dạng đặc biệt của dạng hai) Nhấn mạnh cho học sinh thấy rõ được phương pháp giải loại đẳng thức chứa một dấu giá trị tuyệt đối , đó là đưa về dạng =B (Nếu B0 đó là dạng đặc biệt,còn B<0 thì đẳng thức không xảy ra . Nếu B là biểu thức có chứa biến là dạng hai và giải bằng cách 1 ) hoặc ta đi xét các trường hợp xảy ra đối với biểu thức trong giá trị tuyệt đối. c, Ví dụ Ví dụ 1 Tìm x ,biết : = x- 2 Cách 1 : Với x-20 x2 ta có 8-2x = x-2 hoặc 8-2x = -( x-2 ) + Nếu 8-2x = x-2 -3x = -10 x = (Thoả mãn) + Nếu 8 - 2x = -( x-2) 8- 2x = -x +2 x= 6 (Thoả mãn) Vậy x = hoặc x = 6 Cách 2 :+ Xét 8-2x 0 x 4 ta có 8-2x = x-2 x= (Thoả mãn) + Xét 8-2x 4 ta có -(8-2x) = x-2 x= 6(Thoả mãn) Vậy x = hoặc x = 6 Ví dụ 2 Tìm x ,biết -x = 5 Cách 1 : -x = 5 = x+5 Với x+5 0 x-5 ta có x-3 = x+5 hoặc x-3 =-( x+5) + Nếu x-3 = x+5 0x = 8 ( loại ) + Nếu x-3 =-( x+5) x-3 = -x-5 2x= -2 x=-1 ( Thoả mãn) Vậy x = -1 Cách 2 : -x = 5 + Xét x-3 0 x 3 ta có x-3 -x= 5 0x= 8 ( loại ) + Xét x-3<0 x< 3 ta có -(x-3) -x = 5 -x+3 -x=5 2x= -2 x=-1 ( Thoả mãn) Vậy x= -1 1.3 Dạng + =0 a, Cách tìm phương pháp giải Với dạng này tôi yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức về đặc điểm của giá trị tuyệt đối của một số ( giá trị tuyệt đối của một số là một số không âm ) . Vậy tổng của hai số không âm bằng không khi nào ? ( cả hai số đều bằng không ) . Vậy ở bài này tổng trên bằng không khi nào ? ( A(x) =0 và B(x)=0 ) Từ đó ta tìm x thoả mãn hai điều kiện : A(x) =0 và B(x)=0 b, Phương pháp giải Tìm x thoả mãn hai điều kiện : A(x) =0 và B(x)=0 c, Ví dụ Tìm x , biết 1, + =0 2, + =0 Bài giải 1, + =0 =0 và=0 + Xét =0 x+2=0 x=-2 (1) + Xét =0 x2 +2x=0 x(x+2) =0 x=0 hoặc x+2 =0 x=-2 (2) Kết hợp (1)và (2) x=-2 2, + =0 =0 và =0 + Xét =0 x2 + x=0 x(x+1) =0 x=0 hoặc x+1 =0 x=-1 (1) + Xét =0 ( x+1)(x-2) =0 x+1=0 hoặc x-2 =0 x=-1 hoặc x=2 (2) Kết hợp (1) và (2) ta được x= -1 Lưu ý : Ở dạng này tôi lưu ý cho học sinh phải ghi kết luận giá trị tìm được thì giá trị đó phải thoả mãn hai đẳng thức =0 và =0 2. Dạng mở rộng = hay- =0 a, Cách tìm phương pháp giải Trước hết tôi đặt vấn đề để học sinh thấy đây là dạng đặc biệt ( vì đẳng thức luôn xảy ra vì cả hai vế đều không âm) , từ đó các em tìm tòi hướng giải . Cần áp dụng kiến thức nào về giá trị tuyệt đối để bỏ được đấu giá trị tuyệt đối và cần tìm ra phương pháp giải ngắn gọn . Có hai cách giải : Xét các trường hợp xảy ra của A(x) và B(x) (dựa vào định nghĩa )và cách giải dựa vào tính chất 2 số đối nhau có giá trị tuyệt đối bằng nhau để suy ra ngay A(x) =B(x) ; A(x) =-B(x) ( vì ở đây cả hai vế đều không âm do 0 và 0). Để học sinh lựa chọn cách giải nhanh ,gọn ,hợp lí để các em có ý thức tìm tòi trong giải toán và ghi nhớ được b, Phương pháp giải Cách 1 : Xét các trường hợp xảy ra của A(x) và B(x) để phá giá tị tuyệt đối Cách 2 : dựa vào tính chất 2 số đối nhau có giá trị tuyệt đối bằng nhau ta tìm x thoả mãn một trong hai điều kiện A(x) =B(x) hoặc A(x) =-B(x) c, Ví dụ Ví dụ 1 : Tìm x ,biết = x+4 = 2x-1 hoặc x+4 =-(2x-1) + Xét x+4 = 2x-1 x=5 + Xét x+4 =-(2x-1) x+4 = -2x +1 x=-1 Vậy x=5 hoặc x=-1 Ví dụ 2: Tìm x , biết + = 8 Bước 1 : Lập bảng xét dấu : Trước hết cần xác định nghiệm của nhị thức : x-2=0 x=2 và x+4 =0 x=-4 Trên bảng xét dấu xếp theo thứ tự giá trị của x phải từ nhỏ đến lớn . Ta có bảng sau: x -4 2 x-2 - - 0 + X+4 + + - 0 Cụ thể : Dựa vào bảng xét dấu ta có các trường hợp sau : + Nếu x<-4 ta có x-2<0 và x+4 <0 nên = 2-x và = -x-4 Đẳng thức trở thành 2-x -x-4 = 8 -2x = 10 x=-5 ( thoả mãn x< -4) + Nếu -4 x<2 ta có = 2-x và = x+4 Đẳng thức trở thành 2-x +x+ 4 = 8 0x= 2 (vôlí ) + Nếu x2 ta có =x-2 và = x+4 Đẳng thức trở thành x-2 + x+4 = 8 2x = 6 x = 3 (thoả mãn x2 ) Vậy x=-5 ; x=3 Lưu ý: Qua hai cách giải trên tôi cho học sinh so sánh để thấy được lợi thế trong mỗi cách giải . Ở cách giải 2, thao tác giải sẽ nhanh hơn , dễ dàng xét dấu trong các khoảng giá trị hơn , nhất là các dạng chứa 3 ; 4 dấu giá trị tuyệt đối ( nên ý thức lựa chọn cách giải) Ví dụ 3 : Tìm x ,biết (1) Nếu giải bằng cách 1 sẽ phải xét nhiều trường hợp xảy ra ,dài và mất nhiều thời gian . Còn giải bằng cách hai (lập bảng xét dấu ). x 1 3 6 x-1 + + + - 0 x-3 + - - 0 + x-6 - - - 0 + + Nếu x<1 thì (1) 1-x +3x-9 +30 -5x =8 x=14/3 (loại) + Nếu 1x<3 thì (1) x-1 +3x-9 +30 -5x =8 x=6 (loại) + Nếu 3x<6 thì (1) x-1 -3x+9 +30 -5x =8 x=30/7 (thoả mãn ) + Nếu x6 thì (1) x-1 -3x +9 +5x -30 =8x=10 (thoả mãn ) Vậy x= 30/7 ; x=10 Tuy nhiên với cách hai sẽ dể mắc sai sót về dấu trong khi lập bảng ,nên khi xét dấu các biểu thức trong dấu giá trị tuyệt đối cần phải hết sức lưu ý và tuân theo đúng quy tắc lập bảng . Một điều cần lưu ý cho học sinh đó là kết hợp trường hợp trong khi xét các trường hợp xảy ra để thoả mãn biểu thức 0 (tôi đưa ra ví dụ cụ thể để khắc phục cho học sinh ). Ví dụ 4 : Tìm x biết Lập bảng xét dấu x 4 9 x-4 0 + + - x-9 - - + 0 + Xét các trường hợp xảy ra , trong đó với x 9 thì đẳng thức trở thành x-4 + x-9 =5 Từ những dạng cơ bản đó đưa ra các dạng bài tập mở rộng khác về loại toán này: dạng lồng dấu ,dạng chứa từ ba dấu giá trị tuyệt đối trở lên. + Xét 4 x <9 ta có x-4 +9-x = 5 0x = 0 thoả mãn với mọi x sao cho 4 x<9 + Xét x < 4 ta có 4-x+9-x = 5 x = 4 (loại) Vậy 4x9 3.phương pháp giải và cách tìm phương pháp giải Sau khi giới thiệu cho học sinh hết các dạng bài tôi chốt lại cho học sinh : *Phương pháp giải : tìm x trong đẳng thức chứa dấu giá trị tuyệt đối Phương pháp 1 : Nếu =B ( B0) thì suy ra A=B hoặc A=-B không cần xét tới điều kiện của biến x Phương pháp 2 :Sử dụng tính chất và 0 để giải dạng Và = ,=B(x) Phương pháp 3 : Xét khoảng giá trị của biến ( dựa vào định nghĩa ) để bỏ dấu giá trị tuyệt đối , thường để giải với dạng =B(x) hay =+C *Cách tìm tòi phương pháp giải : Cốt lõi của việc giải bài toán tìm x trong đẳng thức có chứa dấu giá trị tuyệt đối đó là cách bỏ dấu giá trị tuyệt đối . + Trước hết xem bài có rơi vào dạng đặc biệt không ? ( có đưa về dạng đặc biệt được không). Nếu là dạng đặc biệt =B ( B0) hay =thì áp dụng tính chất giá trị tuyệt đối (giải bằng phương pháp 1 đã nêu ) không cần xét tới điều kiện của biến . + Khi đã xác định được dạng cụ thể ta nên suy nghĩ cách nào làm nhanh hơn, gọn hơn thì lựa chọn C KẾT LUẬN Khi áp dụng đề tài nghiên cứa này vào giảng dạy cho học sinh lớp tôi dạy .Tôi thấy học sinh làm dạng toán này nhanh gọn hơn.Học sinh không còn lúng trong khi gặp dạng toán này .Cụ thể khi làm phiếu kiểm tra với đề bài như sau: Tìm x, biết : a, = 5(3đ) b, 2+8 = 26 (3đ) c, 8 - = x+3 (4đ) Kết quả nhận được như sau : học sinh không còn lúng túng về phương pháp giải cho từng loại bài Biết lựa chọn cách giải nhanh , gọn ,hợp lí Hầu hết đã trình bày lời giải chặt chẽ Kết quả cụ thể như sau: Giỏi Khá Trung bình Yếu và kém 1.Bài học kinh nghiệm :Khi nghiên cứu đề tài này tôi rút ra một số bài học cho bản thân trong việc bồi dưỡng hai đầu cho học sinh yếu và học sinh khá - giỏi như sau: Hệ thống kiến thức bổ trợ cho dạng toán sắp dạy . Hệ thống các phương pháp cơ bản để giải loại toán đó. Khái quát hoá , tổng hợp hoá từng dạng , từng loại bài tập. Tìm tòi ,khai thác sâu kiến thức , sưu tầm và tích luỹ nhiều bài toán,sắpxếp theo từng loại ,dạng bài để khi dạy giúp các em nắm vững dạng toán. 15% 55% 25% 5% Tôi xin chân thành cảm ơn! Tài liệu tham khảo 1, Sách giáo khoa toán 7 - NXB giáo dục -2007 2, Nâng cao và phát trỉên toán 7 - NXB giáo dục 2003 của Vũ Hữu Bình 3, Toán bồi dưỡng học sinh lớp 7- NXB giáo dục 2006 của Vũ Hữu Bình 4 , Bài tập nâng cao và một số chuyên đề toán 7- NXB giáo dục 2005 của Bùi văn Tuyên

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến: Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Tập Vật Lý 8 trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!