Xem Nhiều 1/2023 #️ Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ # Top 10 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 1/2023 # Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Câu 1 trang 31 – SGK Ngữ văn 11 tập 2: Phân tích cách thức bác bỏ trong hai đoạn trích (SGK Ngữ văn 11, tập hai, trang 31).

a) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn văn của A. L. Ghéc-xen:

– Nội dung: Bác bỏ lối sống theo chủ nghĩa cá nhân.

– Cách bác bỏ: Dùng hình thức so sánh và lí lẽ để bác bỏ. Tác giả đã khéo léo so sánh lối sống cá nhân như là một khu vườn thơm được chăm sóc cẩn thận nhưng lại không thể chống được bão táp. Theo tác giá, người ta chẳng có gì “đáng thèm muốn” một cuộc sống như thế. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mỏng manh. Nó cần phải được trải qua những gian nan, thử thách.

b) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn trích của Ngô Thì Nhậm:

– Nội dung: Bác bỏ quan điểm kẻ sĩ không nên ra phụng sự công việc của thiên triều.

– Cách bác bỏ: Tác giả đưa ra hàng loạt những lập luận có tính chất lựa chọn, để từ đó hướng người nghe đến những lựa chọn đúng đắn, hợp lí. Lời lập luận vừa rất chặt chẽ, lại vừa giàu cảm xúc. Vì thế mà tính thuyết phục của đoạn bác bỏ rất cao.

Câu 2 trang 32 – SGK Ngữ văn 11 tập 2: Trong buổi hội thảo về kinh nghiệm học môn Ngữ Văn của lớp có hai quan niệm:

a) Muốn học giỏi môn Ngữ Văn chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ văn.

b) Không cần đọc nhiều sách, không cần học thuộc nhiều thơ văn, chỉ cần luyện nhiều về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ Văn.

Anh (chị) hãy bác bỏ một trong hai quan niệm đó, rồi đề xuất một vài kinh nghiệm học Ngữ Văn tốt nhất.

– Phân tích nguyên nhân (cả hai quan niệm trên đều bắt nguồn từ những suy nghĩ phiến diện, từ thái độ học tập, ý thức, động cơ,… rèn luyện, phấn đấu hạn chế,…)

– Chỉ ra những tác hại của những nhận thức sai lệch đó (ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập, tới sự rèn luyện phẩm chất đạo đức của thanh niên, học sinh,…).

– Đề xuất một vài suy nghĩ và hành động đúng đắn về vấn đề bàn luận.

* Bài viết (đoạn văn) cần viết sao cho luận cứ sáng sủa, rành mạch, sắp xếp hợp lí, dẫn chứng khoa học và chặt chẽ.

Ví dụ: Có ý kiến cho rằng: ” Muốn học giỏi môn Ngữ Văn chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ văn “. Đó là ý kiến chưa hoàn toàn đúng. Quan niệm trên hẳn nảy sinh từ những người có suy nghĩ phiến diện, có thái độ học tập không nghiêm túc. Hoặc cũng có thể do người có suy nghĩ đó hạn chế về hiểu biết, đặc biệt là với việc học văn. Nếu chỉ cần đọc nhiều sách, học thuộc nhiều thơ thì việc học văn sẽ trở nên lệch, nhạt nhẽo. Một người chăm chỉ đọc sách, còn cần rèn luyện tư duy, cách nói, cách viết để việc học văn thực sự khoa học, có hiệu quả. Hơn nữa vừa đọc nhiều sách, vừa kết hợp rèn luyện tư duy, cách nói, cách viết cũng chính là chúng ta đang vừa học vừa hành. Nhờ vậy việc học văn sẽ trở nên thú vị hơn, văn có thể phục vụ chúng ta trong cuộc sống…

Câu 3 trang 32 – SGK Ngữ văn 11 tập 2: Có quan niệm cho rằng: “Thanh niên, học sinh thời nay phải biết ăn diện, nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường,… thế mới là cách sống “sành điệu” của tuổi trẻ thời hội nhập“. Anh (chị) hãy lập dàn ý và viết bài nghị luận bác bỏ quan niệm trên.

* Lập dàn ý; bài văn cần triển khai được các ý sau:

– Dẫn dắt đưa ra quan niệm

– Giải thích thế nào là “sành điệu”

– Những biểu hiện của cách sống sành điệu

– Nguyên nhân dẫn đến lối sống ‘sành điệu” của giới trẻ

– Hậu quả của lối sống đó

– Giải pháp, cách khắc phục

– Liên hệ bản thân.

Gần đây có nhiều bạn đua đòi theo những lối ăn chơi không lành mạnh. Họ quan niệm rằng: “Thanh niên, học sinh thời nay phải biết ăn diện, nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường,… thế mới là cách sống “sành điệu” của tuổi trẻ thời hội nhập “. Đây là một vấn đề chúng ta rất cần quan tâm và cảnh báo mọi người.

Vậy như thế nào là “sành điệu”. Nhiều người nghĩ sành điệu là phải khác người. Cái áo phải quái dị hơn người, phải ngắn hơn người một tí, cái quần phải rộng thùng thình hay những lọn tóc phải vừa xanh vừa đỏ lại hoe vàng, thế mới là “sành điệu” Thực ra “sành điệu” là từ có nguồn gốc từ phương tây, ý chỉ những người hiểu biết cách ăn mặc phù hợp và tinh tế. Như thế, chắc hẳn “sành điệu” không phải là phải biết ăn diện, nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường,…Vậy, hẳn quan niệm trên là một quan niệm phiến diện, sai lầm cần phải chấn chỉnh lại.

Nhưng cách ăn mặc sành điệu thực sự tinh tế, phù hợp là như thế nào? Sành điệu theo thuần phong mĩ tục không có nghĩa chúng ta phải mặc áo dài hay áo the khăn xếp mà đến lớp. Cái áo dài hay áo the khăn xếp giờ đã trở thành quốc phục nen chỉ cần mặc trong các ngày lễ. Thế đấy các bạn ạ! Sự sang trọng và văn minh đâu chỉ hiểu đơn thuần là ta đang mặc cái gì, mà còn phải hiểu thêm, ta mặc nó theo cách nào. Cách mặc ấy cần phù hợp với lứa tuổi, với đặc trưng của dân tộc và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình! Không hiểu biết vể những điều này, chúng ta không bao giờ văn minh được, càng không thể nào vươn tới một cách ăn mặc vừa đẹp vừa lịch sự, lại vừa văn hóa nữa”. Chẳng hạn, nếu một cơ quan, một công ty mặc đồng phục lịch sự, kín đáo thì chúng ta cũng mặc như vậy; đến trường, là học sinh chúng ta nên mặc đồng phục, đeo thẻ… Khi đi chơi chúng ta có thể ăn mặc thoải mái hơn những cũng cần chú ý hoàn cảnh xung quanh để ăn mặc sao cho phù hợp. Chẳng hạn

không ai vô duyên đến mức mặc váy đỏ ngắn đến dự một đám tang, hoặc không nên mặc đồ hở hang vào chùa…

Lối sống sành điệu sai chuẩn đó có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do cách giáo dục của gia đình, do bản thân bạn đó thích ăn chơi, đua đòi. Quan trọng hơn cả là do sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình hiểu sai về cách ăn mặc sành điệu.

Là một học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần có cách hiểu đúng đắn về một khái niệm, biết cách ăn mặc phù hợp, chọn lối sống lành mạnh…như vậy là sành điệu. Cùng với đó, chúng ta cần biết tuyên truyền, giải thích cho các bạn chưa hiểu về lối sống sành điệu để các bạn lựa chọn được lối sống phù hợp.

Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 31 SGK Ngữ văn 11 tập 2) Phân tích cách thức bác bỏ trong hai đoạn trích trong SGK. Lời giải chi tiết:

a) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn văn của A. L. Ghéc-xen:

– Nội dung: Bác bỏ lối sống theo chủ nghĩa cá nhân.

– Cách bác bỏ: Dùng hình thức so sánh và lí lẽ để bác bỏ. Tác giả đã khéo léo so sánh lối sống cá nhân như là một khu vườn thơm được chăm sóc cẩn thận nhưng lại không thể chống được bão táp. Theo tác giá, người ta chẳng có gì “đáng thèm muốn” một cuộc sống như thế. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mỏng manh. Nó cần phải được trải qua những gian nan, thử thách.

b) Nghệ thuật bác bỏ trong đoạn trích của Ngô Thì Nhậm:

– Nội dung: Bác bỏ quan điểm kẻ sĩ không nên ra phụng sự công việc của thiên triều.

– Cách bác bỏ: Tác giả đưa ra hàng loạt những lập luận có tính chất lựa chọn, để từ đó hướng người nghe đến những lựa chọn đúng đắn, hợp lí. Lời lập luận vừa rất chặt chẽ, lại vừa giàu cảm xúc. Vì thế tính thuyết phục của đoạn rất cao.

– Nêu ý kiến cần bác bỏ.

– Phân tích nguyên nhân (cả hai quan niệm trên đều bắt nguồn từ những suy nghĩ phiến diện, từ thái độ học tập, ý thức, động cơ,…,…)

– Chỉ ra những tác hại của những nhận thức sai lệch đó (ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập, tới sự rèn luyện phẩm chất đạo đức của thanh niên, học sinh,…).

– Đề xuất một vài suy nghĩ và hành động đúng đắn về vấn đề bàn luận.

– Bài viết (đoạn văn) cần viết sao cho luận cứ sáng sủa, rành mạch, sắp xếp hợp lí, dẫn chứng khoa học và chặt chẽ.

Câu 3 Câu 3 (trang 32 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Có quan niệm cho rằng: “Thanh niên, học sinh thời nay phải biết ăn diện, nhuộm tóc, hút thuốc lá, uống rượu, vào các vũ trường,… thế mới là cách sống “sành điệu” của tuổi trẻ thời hội nhập”.

“Gần đây có nhiều bạn đua đòi theo những lối ăn chơi không lành mạnh. Những bộ mốt dị thường được các cô cậu choai choai diện đến trường hay đi chơi đâu đó. Cách ăn mặc kiểu ấy không phù hợp với lứa tuổi học sinh, với truyền thống văn hóa của dân tộc cũng như với hoàn cảnh của gia đình. Thiết nghĩ đây là một vấn đề chúng ta rất cần cảnh báo.

Ngày nay các cô cậu học trò và thậm chí cá một bộ phận không nhỏ người dân ta cứ đua nhau mà chạy theo hai từ “sành điệu”. Họ cứ nghĩ sành điệu là phải khác người. Cái áo phải quái dị hơn người, phải ngắn hơn người một tí, cái quần phải rộng thùng thình hay những lọn tóc phải vừa xanh vừa đỏ lại hoe vàng, thế mới là “sành điệu” (?). Thực ra những người như thế chẳng hiểu gì. Ngay từ nơi phát nguồn của nó (phương Tây) từ sành điệu nghĩa là chỉ những người hiểu biết cách ăn mặc phù hợp và tinh tế. Vậy phải chăng chỉ vì một thuật ngữ mà chúng ta đang bị mất đi thuần phong mĩ tục trong ăn mặc.

Thực tế không phải thế! Các cô cậu trút bỏ chiếc áo sơ mi trắng để mặc vào chiếc áo phông không cổ nghênh ngang đến trường với những hình thù quái dị không đứng đắn thực ra là để ra oai với bạn bè. Đó là kết quả của việc gia đình giáo dục không đúng.

Bàn đi rồi bàn lại! Vậy chẳng có lẽ dân tộc mình không có một cách ăn mặc nào sành điệu (hiểu theo đúng nghĩa) hay sao! Tôi vội nhớ lại loáng thoáng trong lớp học có mấy lần một bạn nữ nào lên tiếng: “Các thầy cô lúc nào cũng nhắc về ăn mặc, chẳng nhẽ tụi mình lại vận áo dài hay áo the khăn xếp mà đến lớp” Ôi! Cái hiểu biết của cô nữ sinh nọ mới nông cạn làm sao. Nước mình vốn giàu truyền thống, cách ăn mặc của người mình chuộng về kín đáo và lịch sự. Nếu bạn thấy cả một cơ quan, nam nhân viên ai cũng vận quần đen áo trắng bạn sẽ thấy rất rõ điều này. Hoặc ở một nhà hàng nọ, nơi ăn mặc nhiều khi tuỳ hứng vô cùng, thế mà ông chủ vẫn yêu cầu nhân viên của mình mặc đồng phục lịch sự và kín đáo để còn “làm ăn được lâu dài”. Cái áo dài hay áo the khăn xếp giờ đã trở thành quốc phục. Tuy hàng ngày ta ít mặc vì bất tiện nhưng sao ta không học cách người phương Tây say sưa bình bàn về nó. Bởi những thứ thuộc về trang phục thử hỏi có cái gì vừa đẹp vừa có sức sống bền lâu trong lòng dân tộc như chiếc áo dài. Chẳng lẽ cha ông ta hàng ngàn đời nay lại không có một chút khái niệm gì về tư duy thẩm mĩ hay sao?

Thế đấy các bạn ạ! Sự sang trọng và văn minh đâu chỉ hiểu đơn thuần là ta đang mặc cái gì, mà còn phải hiểu thêm, ta mặc nó theo cách nào. Cách mặc ấy liệu có phù hợp với lứa tuổi không, có phù hợp với đặc trưng của dân tộc hay không và có phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình mình không chứ! Không hiểu biết vể những điều này, chúng ta không bao giờ văn minh được, càng không thể nào vươn tới một cách ăn mặc vừa đẹp vừa lịch sự, lại vừa văn hóa nữa”.

(Theo Ngô Tuần)

chúng tôi

Soạn Bài Thao Tác Lập Luận Bình Luận

Câu 1 (trang 71 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Câu 2 (trang 71 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

a, Trong đoạn trích, Nguyễn Trường Tộ có đưa ra những nhận định, đánh giá đúng – sai, hay – dở (Ai hiểu luật được sẽ làm quan,… Bất cứ một hình phạt nào ở trong nước không vượt ra ngoài luật…) đồng thời cũng có bàn bạc mở rộng (Biết rằng đạo làm người không gì lớn bằng trung hiếu…). Tất cả những lập luận đều nhằm hướng tới khẳng định vai trò của pháp luật và việc giáo dục luật pháp trong xã hội.

b, Nguyễn Trường Tộ rõ ràng có lí do để đề nghị lập khoa luật bởi trên thực tế, muốn trị nước phải dựa vào luật chứ không phải vào những lời nói suông trên giấy về trung hiếu lễ nghĩa và rằng luật pháp là công bằng và cũng là đạo đức.

Câu 3 (trang 71 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Câu 4 (trang 71 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Đề xuất và chứng tỏ được ý kiến nhận định, đánh giá của mình là xác đáng.

Luyện tập

Câu 1 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Mục đích ba kiểu bài này khác nhau.

Câu 2 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Chủ đề lập luận: Vấn đề giao thông và tai nạn giao thông ở nước ta.

– Mục đích thuyết phục: hướng đến đề xuất “chúng ta cần một chương trình truyền thông hiệu quả hơn để “những lưới hái tử thần”, “không còn nghênh ngang trên đường phố”.

– Các lập luận được triển khai chặt chẽ, có hệ thống và giàu sức thuyết phục.

Câu 3 (trang 73 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Nêu được vai trò và ý nghĩa to lớn của pháp luật trong mỗi lĩnh vực của đời sống.

– Hiểu biết và tôn trọng chính sách pháp luật.

– Giáo dục pháp luật cho học sinh nói riêng và mọi công dân nói chung.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Giải Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Phân Tích Sbt Ngữ Văn 11 Tập 1

1. Tìm ít nhất một ví dụ để chứng tỏ rằng, trong bài Chí thành (xem bài Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận, bài tập 2, trang 21 trong sách này), Nguyễn Bá Học đã sử dụng thao tác lập luận phân tích, chính vì thế mà bài văn của ông càng thêm rõ ràng, chặt chẽ.

Trả lời:

Chẳng hạn, trong luận điểm đầu tiên của thân bài, tác giả đã sử dụng thao tác lập luận phân tích để phân biệt rõ người chí thành với người không chí thành.

Trong luận điểm nói về người có lòng chí thành, tác giả lại dùng thao tác phân tích để cho thấy chí thành có thể làm cho con người trở nên tốt đẹp như thế nào trong tư cách của một người con đối với cha mẹ, một bề tôi đối với đất nước, một người anh đối với em, một người vợ đối với chồng, một người bạn đối với bằng hữu, một con người đối với đồng loại của mình. Qua đó, lời khuyên của tác giả đối với học trò càng thêm thấm thía. Người đọc không thể không thấy rõ rằng, dù là ai, người thường hay thánh hiền, Tiên, Phật, cũng cần phải chí thành, và dù trong cương vị, trong tư cách nào cũng có thể đạt tới sự chí thành.

a) Bàn về một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

b) Người viết có sử dụng thao tác lập luận phân tích.

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

1. Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyên vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước, tiếng để muôn đời.

2. […] Đời Trần, quân Nguyên đánh đâu được đấy, chiếm nước Tàu và nửa châu Âu, thê mà ba lần bị ông Trần Hưng Đạo đánh tan. Bình dân như ông Lê Lợi và ông Nguyễn Huệ đã đánh đuổi quân Tàu làm cho nước ta độc lập.

Người già như ông Lí Thường Kiệt quá 70 tuổi mà vẫn đánh Đông dẹp Bắc, bao nhiêu lần đuổi giặc cứu dân.

Thiếu niên như Đổng Thiên Vương chưa đến 10 tuổi mà đã ra tay cứu nước, cứu nòi. Trần Quốc Toản mới 15, 16 tuổi đã giúp ông Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên.

Phụ nữ thì có Bà Trưng, Bà Triệu ra tay khôi phục giang san.

Những vị anh hừng ấy vì nước, vì dân mà làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa. Nhờ những vị anh hùng dân tộc ấy mà nước ta được tự do, độc lập, lừng lẫy ở Á Đông. (…)

3. Sử ta dạy cho ta bài học này:

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.

Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.

Vậy nay ta phải đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây – Nhật, khôi phục lại độc lập, tự do.

(Hồ Chí Minh, Nên học sử ta, báo Việt Nam độc lập, ngày 1- 2 – 1942, dẫn từ Thơ văn Hồ Chí Minh (tác phẩm chọn lọc dùng trong nhà trường), NXB Giáo dục, 1999)

3. Sử dụng thao tác lập luận phân tích để làm rõ vẻ đẹp của một từ ngữ, một hình ảnh, hoặc một vài câu thơ mà anh (chị) yêu thích.

Trả lời: Tham khảo các đoạn trích sau đây:

a) Chỉ với hai câu đề, hình ảnh của bà Tú đã hiện lên như chân dưng một cuộc đời, một duyên phận:

Quanh năm buôn bán ớ mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Chẳng biết tài hoa tạo nên chữ nghĩa hay tình thương đã tự tìm ra tiếng nói của nó, mà chữ nào ở đây cũng sắc nét, củng đượm tình. Bà Tú đang nổi lên hay đang chìm đi trong cái nhộn nhạo nhốn nháo của chợ đời ? Bà hiện ra trong vòng công việc hay công việc đã cột chặt lấy bà trong cái vòng triền miên mà mòn mỏi của nó ? Hai chữ “quanh năm” không chỉ là độ dài của thòi lượng mà gợi ra cái vòng không kì hạn của thời gian. Hai chữ “mom sông” vẽ ra một không gian ngỡ như tương phản, nào ngờ lại tương hợp với thời gian. Tương phản vì nó là một thẻo đất hẹp nhô hắn ra lòng sông. Lại tương hợp vì nó gợi ra cái thế tồn tại chông chênh của bà Tú. Cả thời gian lẫn không gian đều như hùa với nhau làm nặng nề thêm cái gánh nặng nhọc nhằn đè lên vai người vợ ấy. Câu thứ hai vừa phơi bày ra cái gánh nặng kia vừa như giải thích cái lí do khiến người vợ hiền thảo phải hằng ngày “xuất gia” chường mặt ra với đời. Và đó là một gánh éo le : “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Xuân Diệu đã thật tinh tế khi phát hiện ra những đắng xót trong cái cách đếm chồng. Con thì có thể đếm, còn chồng chỉ có một, sao lại đếm. Khi hạ chữ “một” trước chữ “chồng” ông Tú đã […] cay đắng nhận ra mình cũng chỉ là một thứ con trong cái gánh nặng của vợ. Và cũng có một nỗi cay cực không kém chất chứa trong hai từ “nuôi đủ”. Người chồng nói chữ “đủ” mà đắng lòng xót dạ. Không chi đủ về quân số (năm với một), đủ về thành phần (cả con lẫn chồng), mà còn đủ cả mọi nhẽ mọi bề (nhu cầu đòi hỏi), đủ mùi đủ vẻ (khi hơn thua, lúc thành bại). Cái gánh nhọc nhằn đè trên vai bà Tú là thế “đầu này là năm đứa con, đầu kia là ông chồng”. Chữ “chồng” dằn xuống cuối câu bằng tất cả nỗi hố thẹn của người chồng xem chừng đã làm đầu gánh như chúi hắn xuống vậy.

Mới chỉ là câu đề thôi mà thi đề “Thương vợ” ngỡ đã đủ đầy. Hình tuy mới phác mà nét đã sắc, tình tuy mới bộc bạch mà đã ngập tràn. Nó thật xứng đáng là cặp câu hay nhất của bài thơ.

(Chu Văn Sơn, về bài “Thương vợ”, Tuyển rập mười năm tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, NXB Giáo dục, 2003, tr.l 15 – 116)

b) Lấy nơi sinh sống đặt tên cho lãnh địa dân tộc mình là lẽ thường tình. Nhiều nước có tên gọi gắn với “đất” (land). Tô Cách Lan (Scotland) là đất của những người nói tiếng Gaelic”, Phần Lan (Finland) là “đất của những người nói tiếng Finnic”, Hà Lan (Holland) là “vùng đất cây cối rậm rạp” và cũng là ”những vùng đất thấp” (Netherlands), Ba Lan (Poland) là “đất của dân tộc Poles”. Nhưng người Việt dùng từ “nước” để chỉ lãnh thổ dân tộc: nước Việt Nam.

Trong tiếng Việt, từ làng nước để chỉ những người cùng làng. Thú vị là từ làng cũng gắn với “những dải nước lớn”, vì ngỉiòi Việt cô “quần cư quanh những dái nước lớn (cũng như đồng bào miền núi thường quần cư bên bờ suối, bờ sông) mà ngày xưa gọi là lang và sau này khi tiếng Việt đã có thanh điệu, cơ sở quần cư ấy được gọi là làng” (Nguyễn Kim Thản).

Nơi ở của người Việt gắn chặt với nguồn nước nên tổ tiên ta đã dùng từ nước (water) đặt tên cho đơn vị hành chính lớn nhất của mình, nước là quốc gia (state). Đồng thời, theo quy luật lấy con người làm trung tâm và lấy những sự vật gần gũi nhất quanh ta để đặt tên nhiều hiện tượng khác, từ nước được người Việt dùng theo nghĩa bóng rất nhiều, những cách dùng từ ngữ hiếm thấy ở những dân tộc khác.

Bắt đầu một ngày, mặt Ười nhô lên khỏi biến được người Việt gọi là “mặt trời mọc” giống như cây mọc từ đất, hoa sen, hoa súng mọc từ nước, trong khi các dân tộc Anh, Nga, Pháp nói là “mặt trời đi lên” (to rise, podnimatsja, se lever). Chuyển từ ngày sang đêm, mặt trời buông xuống rồi biến mất, giống như khi ta lặn xuống nước không ai thấy nữa. Vậy là người Việt nói “mặt trời lặn”.

Trong tiếng Việt, từ nước có tính độc lập cao, nó kết hợp được với tính từ, động từ, danh từ theo những trật tự khác nhau, để mang những ý nghĩa thật là thú vị. Hàng nước đâu chỉ có bán nước, còn bán cả kẹo bột, kẹo vừng, mấy gói thuốc lào, dăm bao thuốc lá. Người uống nước có thể mua thêm cút rượu nhắm suông kẹo lạc, kẹo vừng,… Từ nước đã thay cho nhiều mặt hàng ăn uống lặt vặt.

Nước thì có bề mặt phản chiếu, nên có thể dùng từ nước để chí những gì trên bề mặt có màu sắc: nước da trắng hồng, nước bóng, nước mạ, nước kền, nước son, màu chiếc xe đã xuống nước không còn như lúc mới.

Những con nước lên xuống, rồi một sông nước chảy đôi dòng, dẫn tói những tình huống mà con người phải xử trí hằng ngày, hoặc nói năng ngang bằng sổ thẳng hoặc theo nước đôi muốn hiểu thế nào thì hiểu.

Tinh huống trong cuộc đòi giống như tình thế trong cuộc cờ. Vậy nên nước còn dùng để nói về nước cờ, thế cờ, “Cờ đang dở cuộc không còn nước” (Nguyễn Khuyến). Nhiều lúc dù có xoay xở hết nước vẫn không thoát khỏi nước bí trong cuộc cờ, củng như trong cuộc đời, nếu như không có những lời mách nước. Kẻ được nước, ớ vị thế cao thì lấn nước, người kia mất nước, ở vị thế thấp đành chịu nước lép. Thậm chí nếu hết đường binh thì chí còn nước chịu thua. Nước đời là vậy.

Dòng nước chảy gợi nên sự chuyển động khiến ta liên tướng tới cách thức đi đimg, hành xử tìm ra đường đi nước bước trong công việc. Ngựa chạy được ví

như nước chảy, có lúc đi nước kiệu, lúc lại phi nước đại. về gần đích, vận động viên chạy nước rút. Cuối năm, nhà máy, xí nghiệp cũng mở cuộc đua nước rút hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch.

Ấy là chúng ta chưa nói về nghĩa bóng của từ nước trong thành ngữ, tục ngữ Việt.

(Theo Nguyễn Đức Dân, Nước – một từ đặc Việt, báo Tuổi trẻ, 28 – 12 – 2009)

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!