Xem Nhiều 2/2023 #️ Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 80 Sbt Ngữ Văn 8 # Top 3 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 2/2023 # Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 80 Sbt Ngữ Văn 8 # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 80 Sbt Ngữ Văn 8 mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 trang 80 SBT Ngữ Văn 8 tập 1. Từ năm 2005, Việt Nam đã có Nghị định 45 quy định xử phạt hành chính những hành vi hút thuốc lá ở những nơi công cộng.. Soạn bài Ôn dịch, thuốc lá SBT Ngữ Văn 8 tập 1 – Soạn bài Ôn dịch thuốc lá

1. Câu 1, trang 121, SGK.

Phân tích ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản: Ôn dịch, thuốc lá. Có thể sửa thành Ôn dịch thuốc lá hoặc Thuốc lá là một loại ôn dịch được không? Vì sao?

Trả lời:

Bản thân thuốc lá không có tội tình gì nên trước hết cần hiểu ửiuốc lá là cách nói tắt của “bệnh nghiện thuốc lá”, “tệ nghiện thuốc lá”

2. Vì sao trước lúc nói đến tác hại cụ thể của việc hút thuốc lá, tác giả lại mượn lời của Trần Hưng Đạo nói về các kiểu tấn công của giặc ?

Trả lời:

Để gây ấn tượng mạnh tác giả đã so sánh việc thuốc lá tấn công loài người như giặc ngoại xâm , đánh phá bằng cách ” gặm nhấm như tằm ăn dâu” . ” Dâu” ví như con người, sức khoẻ con người , ” tằm” so sánh với khói thuốc lá. Với ” tằm ăn dâu” dù chậm vẫn còn nhìn thấy. Còn thuốc lá, cụ thể là khói thuốc lá phá hoại cơ thể, sức khoẻ con người bằng cách gặm nhấm âm thầm, bí mật không dễ gì nhìn thấy và ngăn chặn được . Nhấn mạnh mức độ nguy hiểm của khói thuốc lá đối với con người, đồng thời dễ thuyết phục người đọc ở những lập luận tiếp theo.

Giống như nhan đề văn bản, ở đây, tác giả cũng dùng phép so sánh sự vật (sự việc) đùng để so sánh (cách tấn công của giặc) được đưa lên trước gây ấn tượng mạnh. Quan hệ giữa sự vật được so sánh (cách tấn công của thuốc lá) và sự vật dùng để so sánh dường như lỏng lẻo (ở trong hai câu cách nhau bằng một dấu chấm qua dòng), song người đọc vẫn nhận ra được một cách sâu sắc những phương diện so sánh ở đây : Thuốc lá cũng là giặc, song loại giặc này rất nguy hiểm vì nó không “đánh như vũ bão” làm cho con người “lăn đùng ra chết” mà cứ “gặm nhấm như tằm ăn dâu”.

Trước khi giải thích rõ thuốc lá “gặm nhấm” cái gì ở con người thì tác gia nhân mạnh cái kiểu gặm nhấm từ từ ấy đặc biệt nguy hiểm ở chỗ làm cho người ta không biết sợ hãi, không biết đề phòng, không cần và không dễ nhận biết.

3. Đọc kĩ văn bản trích sau đây và trả lời các câu hỏi.

Với khói từ điếu thuốc mình hút, người hút đã hít vào hơn một nghìn chất. Phần lớn các chất trong đó như khí a-mô-ni-ắc, ô-xít các-bon và hắc ín, đều rất nguy hiểm đối với sức khoẻ. Chất ni-cô-tin trong là thuốc còn độc hại hơn . Đó là một thứ ma tuý. Nhiều người hút đã quen nó tới mức không thể nào nhịn nổi. Bởi vậy, họ lại tiếp tục hút […]

Cơ thể được cấu tạo bằng hàng tỉ tế bào, tất cả những tế bào ấy đều cần ô xi. Nhờ không khí ta thở, ô xi xuyên thấm vào phổi. Máu tiếp nhận ô xi và chuyển tới toàn bộ cơ thể. Ở những người hút thuốc lá, một số chất có thể ngăn cản phổi thực hiện chức năng của nó. Bồ hóng và hắc ín của khói thuốc lá làm phổi và các ống dẫn của nó đọng cáu ghét. Điều đó thường dẫn đến các bệnh đường họng và những cơn ho. Nếu những tế bào bị công kích, chúng sẽ phắt triển nhanh và điều đó cuối cùng có thể gây nên ung thư.

Ô-xít các-bon và ni-cô-tin của khói thuốc làm hại đến sự vận chuyển của ô xi trong toàn bộ cơ thể. Chúng tới khắp nơi cùng với máu. Chúng có thể làm cho máu đặc thêm rất nhiều. Đôi khi, máu trở nền quá đặc khiến cho sự vận chuyển máu nghẽn tắc hoàn toàn. Đó là nguyên nhân tạo nên một cơn ho nhồi máu cơ tim […].

Khi bắt đầu hút, người ta không hiểu rằng ni-cô-tin là một chất ma tuý và (khi đã dùng) sẽ khó từ bỏ nó. Vậy thì tốt nhất là phải chống lại thói tò mò và tuyệt không bao giờ bắt đầu hút.

(C. Luy-xác-đô – H. Pô-tơ-lê, Tiếng Pháp lớp đệ ngũ,NXB Ha-chi-ê, Pa-ri, 1998)

Câu hỏi :

a) xHãy nêu lên mối quan hệ giữa ba phần của văn bản và thử đặt tiêu đề cho mỗi phần.

b) Từ ma tuý trong văn bản trích được dùng với hàm nghĩa nào ? Nghĩa này có gì giống và khác với nghĩa của từ ma thường gặp trong báo chí hiện nay ?

c) Hãy viết lại câu văn thứ ba của phần một, không dùng đâu hai chấm mà vẫn giữ được nguyên ý và mối liên hệ chặt chẽ giữa các vế của câu.

d) Văn bản trích đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào ? Mối quan hệ giữa các phương thức biểu đạt ấy.

Trả lời:

a) cả ba phần đều nêu lên tác hại của thuốíc lá và đi theo hướng tổng hợp – phân tích – tổng hợp. Có thể đặt tiêu đề cho phần cuối lầ Không được hút điếu thuốc đầu tiên. Em tự đặt nhan đề cho hai phần còn lại.

b) Từ ma tuý trong văn bản trích được dùng theo nghĩa :

“Tên gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện.” (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Từ điển tiếng Việt trang 583). Từ nghĩa chung này, em tự tìm chỗ giống và khác với nghĩa của từ ma tuý thường gặp trong báo chí hiện nay.

c) Có thể thay dấu hai chấm bằng chữ vì; em có thể tìm thêm các cách viết khác.

d) Phần hai chủ yếu dùng phương thức thuyết minh để giải thích tác hại của khói thuốc lá đối với hoạt động của hai cơ quan hết sức quan trọng của cơ thể là phổi và tim. Song xét cả bài, đây là một bài nghị luận mà luận điểm chủ yếu là Không nên hút thuốc, dù là điếu thuốc đầu tiên.

4. Thế nào là hút thuốc lá bị động (còn gọi là hút thuốc lá thụ động) ? Hút thuốc lá bị động có nguy hiểm không ? Thử nêu ra một số biện pháp để bản thân, bạn bè và gia đình không rơi vào tình trạng hút thuốc lá bị động.

Theo em, cần phải làm gì để hạn chế và tiến tới xoá bỏ tác động tiêu cực của việc hút thuốc lá bị động ?

Hút thuốc lá thụ đông hoặc hít khói thuốc thụ động (tiếng Anh, passive smoking, seconhand smoking hoặc exposure to environmental tobacco smoke, viết tắt ETS) là hình thức hít khói thuốc lá từ không khí mà không trực tiếp hút thuốc lá hoặc hút thuốc lào và cũng bị tác hại gián tiếp dẫn đến những nguy cơ về bệnh ung thư phổi. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo không có ngưỡng an toàn cho việc hút thuốc lá thụ động.

Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (IARC) đã xếp khói thuốc lá vào các chất gây ung thứ bậc 1. Trong nhóm này xếp những chất mà chỉ cần khối lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư, không có hạn mức, nghĩa là hoàn toàn có hại, dù chỉ là một khối lượng nhỏ, cho mình và cho người khác.

Khói thuốc được coi là độc hại nhất trong môi trường cư trú. Khi hút, người hút thường thở ra hai luồng khói chính và phụ và 20% khói thhuốc bị hút vào trong luồng chính, 80% còn lại được gọi là luồng phụ khi kéo thuốc (giữa hai lần hít vào) và khi tắt thuốc… Luồng khói phụ toả ra nhiều chất độc hại hơn.

Khói thuốc cấu tạo từ một hỗn hợp khí và bụi. Theo WHO, trong khói thuốc có khoảng 4000 chất hoá học; trong đó có 40 chất được xếp vào loại gây ung thư gồm những chất như ni-cô-tin, ô-xít các-bon, a-mô-ni-ắc, hắc ín… ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết, gây ra nhũng bệnh tim mạch, giảm trí nhớ và các bệnh ung thư.

Khói thuốc có thể tồn tại trong không khí hơn hai giờ, ngay cả khi không còn nhìn thấy hoặc ngửi thấy nữa. Do đó, những người thường xuyên sống hoặc làm việc cạnh người dùng thuốc lá có thể tiếp nhận lượng khói thuốc tương dương với hút 5 điếu mỗi ngày. Theo Hiệp hội Ung thư Mĩ, cứ mỗi giờ ở cùng phòng với một người hút thuốc lá, nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 100 lần so với việc sống 20năm trong toà nhà chứa chất độc Asen…

5. Bài tập 1, trang 122, SGK.

Vì sao tác giả đã đưa ra những số liệu đế so sánh tình hình hút thuốc lá ở nước ta với các nước Âu – Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị : Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này?

6. Từ năm 2005, Việt Nam đã có Nghị định 45 quy định xử phạt hành chính những hành vi hút thuốc lá ở những nơi công cộng. Theo em, vì những lí do nào mà cho đến nay, Nghị định ấy vẫn chưa có hiệu lực rõ rệt trong cuộc sống ? cần thực hiện những biện pháp gì để khắc phục tình trạng nói trên ?

Trả lời:

Đây là đề mở, các em có thể thẳng thắn nêu ý kiến của mình, chẳng hạn :

– Nghị định 45 chưa có hiệu lực vì chưa quy định chế tài xử phạt cụ thể, vì công tác tuyên truyền còn yếu chưa làm cho toàn xã hội thấy tác hại của việc hút thuốc lá (chủ động cũng như bị động)…

– Về biện pháp, không nên đề xuất những kế hoạch to tát, thiếu tính khả thi. Trước hết là đề xuất những biện pháp có thể thực hiện được trong phạm vi gia đình, trường lớp, trong quan hệ bạn bè…

7. Bài tập 2, trang 122, SGK.

Trả lời:

Cảm nghĩ có thể đa dạng, song cần nêu hai ý :

– Đã dính vào hê-rô-in thì dù là con cái của tỉ phú cũng có khi không thể nào chạy chữa được (mà) kết thúc là cái chết bi thảm.

– Các gia đình giàu có cần cảnh giác, chớ để cuộc sống dư dật trở thành điều kiện cho ma tuý làm hư hỏng con cái.

Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

Trả lời:

Để gây ấn tượng mạnh tác giả đã so sánh việc thuốc lá tấn công loài người như giặc ngoại xâm , đánh phá bằng cách ” gặm nhấm như tằm ăn dâu” . ” Dâu” ví như con người, sức khoẻ con người , ” tằm” so sánh với khói thuốc lá. Với ” tằm ăn dâu” dù chậm vẫn còn nhìn thấy. Còn thuốc lá, cụ thể là khói thuốc lá phá hoại cơ thể, sức khoẻ con người bằng cách gặm nhấm âm thầm, bí mật không dễ gì nhìn thấy và ngăn chặn được . Nhấn mạnh mức độ nguy hiểm của khói thuốc lá đối với con người, đồng thời dễ thuyết phục người đọc ở những lập luận tiếp theo.

Giống như nhan đề văn bản, ở đây, tác giả cũng dùng phép so sánh sự vật (sự việc) đùng để so sánh (cách tấn công của giặc) được đưa lên trước gây ấn tượng mạnh. Quan hệ giữa sự vật được so sánh (cách tấn công của thuốc lá) và sự vật dùng để so sánh dường như lỏng lẻo (ở trong hai câu cách nhau bằng một dấu chấm qua dòng), song người đọc vẫn nhận ra được một cách sâu sắc những phương diện so sánh ở đây : Thuốc lá cũng là giặc, song loại giặc này rất nguy hiểm vì nó không “đánh như vũ bão” làm cho con người “lăn đùng ra chết” mà cứ “gặm nhấm như tằm ăn dâu”.

Trước khi giải thích rõ thuốc lá “gặm nhấm” cái gì ở con người thì tác gia nhân mạnh cái kiểu gặm nhấm từ từ ấy đặc biệt nguy hiểm ở chỗ làm cho người ta không biết sợ hãi, không biết đề phòng, không cần và không dễ nhận biết.

Câu hỏi :

Trả lời:

a) cả ba phần đều nêu lên tác hại của thuốíc lá và đi theo hướng tổng hợp – phân tích – tổng hợp. Có thể đặt tiêu đề cho phần cuối lầ Không được hút điếu thuốc đầu tiên. Em tự đặt nhan đề cho hai phần còn lại.

b) Từ ma tuý trong văn bản trích được dùng theo nghĩa :

“Tên gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện.” (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Từ điển tiếng Việt trang 583). Từ nghĩa chung này, em tự tìm chỗ giống và khác với nghĩa của từ ma tuý thường gặp trong báo chí hiện nay.

c) Có thể thay dấu hai chấm bằng chữ vì; em có thể tìm thêm các cách viết khác.

d) Phần hai chủ yếu dùng phương thức thuyết minh để giải thích tác hại của khói thuốc lá đối với hoạt động của hai cơ quan hết sức quan trọng của cơ thể là phổi và tim. Song xét cả bài, đây là một bài nghị luận mà luận điểm chủ yếu là Không nên hút thuốc, dù là điếu thuốc đầu tiên.

Hút thuốc lá thụ đông hoặc hít khói thuốc thụ động (tiếng Anh, passive smoking, seconhand smoking hoặc exposure to environmental tobacco smoke, viết tắt ETS) là hình thức hít khói thuốc lá từ không khí mà không trực tiếp hút thuốc lá hoặc hút thuốc lào và cũng bị tác hại gián tiếp dẫn đến những nguy cơ về bệnh ung thư phổi. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo không có ngưỡng an toàn cho việc hút thuốc lá thụ động.

Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (IARC) đã xếp khói thuốc lá vào các chất gây ung thứ bậc 1. Trong nhóm này xếp những chất mà chỉ cần khối lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư, không có hạn mức, nghĩa là hoàn toàn có hại, dù chỉ là một khối lượng nhỏ, cho mình và cho người khác.

Khói thuốc được coi là độc hại nhất trong môi trường cư trú. Khi hút, người hút thường thở ra hai luồng khói chính và phụ và 20% khói thhuốc bị hút vào trong luồng chính, 80% còn lại được gọi là luồng phụ khi kéo thuốc (giữa hai lần hít vào) và khi tắt thuốc… Luồng khói phụ toả ra nhiều chất độc hại hơn.

Khói thuốc cấu tạo từ một hỗn hợp khí và bụi. Theo WHO, trong khói thuốc có khoảng 4000 chất hoá học; trong đó có 40 chất được xếp vào loại gây ung thư gồm những chất như ni-cô-tin, ô-xít các-bon, a-mô-ni-ắc, hắc ín,… ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết, gây ra nhũng bệnh tim mạch, giảm trí nhớ và các bệnh ung thư.

Khói thuốc có thể tồn tại trong không khí hơn hai giờ, ngay cả khi không còn nhìn thấy hoặc ngửi thấy nữa. Do đó, những người thường xuyên sống hoặc làm việc cạnh người dùng thuốc lá có thể tiếp nhận lượng khói thuốc tương dương với hút 5 điếu mỗi ngày. Theo Hiệp hội Ung thư Mĩ, cứ mỗi giờ ở cùng phòng với một người hút thuốc lá, nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 100 lần so với việc sống 20năm trong toà nhà chứa chất độc Asen…

Trả lời:

Đây là đề mở, các em có thể thẳng thắn nêu ý kiến của mình, chẳng hạn :

– Nghị định 45 chưa có hiệu lực vì chưa quy định chế tài xử phạt cụ thể, vì công tác tuyên truyền còn yếu chưa làm cho toàn xã hội thấy tác hại của việc hút thuốc lá (chủ động cũng như bị động),…

– Về biện pháp, không nên đề xuất những kế hoạch to tát, thiếu tính khả thi. Trước hết là đề xuất những biện pháp có thể thực hiện được trong phạm vi gia đình, trường lớp, trong quan hệ bạn bè,…

Trả lời:

Cảm nghĩ có thể đa dạng, song cần nêu hai ý :

chúng tôi

Giải Vbt Ngữ Văn 8 Ôn Dịch Thuốc Lá

Ôn dịch thuốc lá

Câu 1 (Câu 1 trang 121 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

Trả lời:

a. Sắc thái biểu cảm của cách dùng dấu phẩy trong nhan đề của văn bản “Ôn dịch thuốc lá”: Tác giả coi vấn nạn thuốc lá nguy hiểm như ôn dịch. Dấu phấy đặt giữa ngăn cách để hấn mạnh thái độ căm ghét, nguyền rủa loại ôn dịch đó. Ngoài ra việc ngắt hai vế câu tạo sự ngắn gọn, súc tích, nhưng vẫn nhấn mạnh được mức độ nguy hiểm của nạn hút thuốc.

b. Vẫn có thể sửa tên nhan đề thành “ôn dịch thuốc lá” hoặc thuốc lá là một loại ôn dịch” tuy nhiên sẽ giảm tính biểu đạt, biểu cảm của tên nhan đề.

Câu 2 (Câu 2 trang 121 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

Trả lời:

– Tác giả trích dẫn lời của Trần Hưng Đạo bàn về đánh giặc trước khi phân tích tác hại của thuốc lá bởi ông cho rằng thuốc lá cũng là một loại giặc cần phải tiêu diệt. Thuộc lá không đánh như vũ bão mà nó “gặm nhấm như tằm ăn dâu”, tác hại của thuốc lá không nhìn thấy ngay nên mức độ nguy hiểm khôn lường. Cho nên thuốc lá thậm chí còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.

Tác dụng trong lập luận: Dẫn ra lời nói của một nhà quân sự tài ba để tạo sự đúng đắn, khách quan, chân thực cho lập luận. Lấy lối so sánh của nhà quân sự đại tài nói tới vấn nạn thuốc lá tạo sự liên tưởng độc đáo, sáng sáng tạo, làm cho lập luận chặt chẽ, tạo liên tưởng thú vị bằng lối lập luận sắc bén.

Câu 3:

Trả lời:

a. Khói thuốc lá chứa những độc tố gây nguy hại cho sức khỏe con người:

– Phá hủy vòm họng, phế quản, phổi, gây ho hen, viêm phế quản

– Không cho máu, hồng cầu tiếp cận với oxi

– Gây ung thư, các bệnh tim mạch

– Người hít phải khói thuốc cũng bị nhiễm độc, viêm phế quản, đau tim mạch, bị ung thư.

b. Từ nghiện thuốc lá có thể dẫn tói nhiều tệ nạn khác: Trộm cắp, ma túy.

Câu 4 (Câu 4 trang 122 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

Trả lời:

Tác giả đưa ra một con số tương đồng đó la tỉ lệ thanh niên hút thuốc ở nước ta ngang với tỉ lệ của thành phố Âu Mĩ. Sau đó lại đưa ra một loạt con số không tương đồng để cho ta ngầm hiểu về sự cách biệt giữa nước ta với các nước phát triển Âu – Mĩ, họ đã quyết liệt và tìm ra giải pháp còn chúng ta thì chưa. Đây là một thực trạng đáng báo động cần sớm tìm ra giải pháp và hành động. Vì thế việc so sánh như vậy nhằm khẳng định tính khẩn trương, nguy cấp trong việc giải quyết vấn đề.

Câu 5:

Trả lời:

Những biện pháp khác:

– Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền đối với thế hệ trẻ đặc biệt ở trong nhà trường.

– Nâng cao tính tự giác, tích cực trong việc thực hiện chiến dịch nói không với thuốc lá

– Tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người dân bớt thời gian rảnh rỗi.

– Nhà nước có biện pháp cứng rắn xử lí nghiêm minh tình trạng người dân hút thuốc lá.

Câu 6 (Bài luyện tập 1 trang 122 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

Trả lời:

⇒ Nhận xét: Nguyên nhân hút thuốc có thể xuất phát cả về chủ quan (tò mò, kích thích, ra vẻ người lớn) và khách quan (nể bạn, xã giao)

Những nguyên nhân từ chủ quan xuất hiện nhiều hơn ở độ tuổi 11-15, khi ấy các em ở tuổi vị thành niên, lứa tuổi tâm sinh lí ham khám phá, chưa làm chủ được bản thân. Những người ở độ tuổi 16 – 20, tuy cũng bắt nguồn từ yếu tố chủ quan còn còn có sự ảnh hưởng nhiều hơn của yếu tố khách quan bởi độ tuổi này đã đần trưởng thành.

Câu 7 (Bài luyện tập 2 trang 122 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

Trả lời:

Cái chết thương tâm của chàng thanh niên Ra-pha-en đơ Rốt-sin là lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với thanh niên hiện nay cũng như với các bậc phụ huynh đã dạy con chưa đúng cách. Tài sài không phải do chính bàn tay mình làm ra cho nên chàng thanh niên ấy chưa biết nâng niu, trân trọng nó. Từ một người được hưởng tài sản kếch xù vì chơi bạch phiến quá liều đã gục chết thương tâm ở vỉa hè. Điều này khiến ta vừa cảm thấy đáng thương lại vừa đáng trách. Những bậc làm cha mẹ cũng hãy biết dạy con đúng cách, biết quý trọng đồng tiền, dạy con cách làm ra và trân trọng lấy nó thay vì cho chúng được hưởng sẵn thành quả.

Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 8 (VBT Ngữ Văn 8) khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 84 Sbt Ngữ Văn

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 trang 84 SBT Ngữ Văn 8 tập 1. Ghép từng đôi câu đơn sau đây thành một câu ghép, dùng các quan hệ từ thích hợp với quan hệ ý nghĩa cho sẵn trong ngoặc đơn sau từng đôi câu đó.. Soạn bài Câu ghép (tiếp theo) SBT Ngữ Văn 8 tập 1 – Soạn bài Câu ghép (tiếp theo)

1. Bài tập 1, trang 124, SGK.

(Thanh Tịnh, Tôi đi học) b) Nếu trong pho lịch sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân và đồng thời trong tâm linh loài người xoá hết những dấu vết họ còn lưu lại thì cái cảnh tượng nghèo nàn sẽ đến bực nào ! (Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương) c) Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông miếu của ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng vẫn lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu thơm. (Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ) d) Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông Lương. (Nguyễn Đình Thi) e) Hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau […]. Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm. Trả lời:

Để làm bài tập này, cần đối chiếu từng câu ghép với những điều nói ở phần Ghi nhớ ong SGK (trang 112, trang 123).

Ví dụ : Câu ghép (a) có ba vế câu. Quan hệ giữa vế câu thứ nhất với vế câu thứ hai là quan hệ nguyên nhân, vế câu thứ nhất chỉ kết quả, vế câu thứ hai chỉ nguyên nhân. Quan hệ giữa vế câu thứ hai với vế câu thứ ba là quan hệ giải thích. Vế câu thứ hai biểu thị điều được giải thích, còn vế câu thứ ba dùng để giải thích điều được nói ở vế câu thứ hai.

Quan hệ ý nghĩa giữa những vế câu trong các câu ghép còn lại là quan hệ điều kiện, quan hệ tăng tiến, quan hệ tương phản, quan hệ tiếp nối, quan hệ nguyên nhân.

2. Bài tập 2, trang 124 – 125, SGK.

Đọc các đoạn trích trong sách giáo khoa và trả lời câu hỏi.

– Biển luôn thay đổi tuỳ theo màu sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề . Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận giữ. – Vào mùa sương, ngày ở Hạ Long như ngắn lại. Buổi sớm, mặt trời lên ngang cột buồm, sương tan, trời mới quang. Buổi chiều, nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống mặt biển.

a) Tìm câu ghép trong những đoạn trích trên.b) Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong mỗi câu ghép.c) Có thể tách mỗi vế câu nói trên thành một câu đơn không ? Vì sao?

Trả lời:

Bài tập này có ba câu hỏi với mục đích sau đây : Câu hỏi (a) yêu cầu nhận diện câu ghép, câu hỏi (b) yêu cầu xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, câu hỏi (c) yêu cầu nhận xét về việc dùng câu ghép khác dùng câu đơn như thế nào.

– Hướng giải đáp câu hỏi (b) :

Đê biết quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu là quan hệ gì, cần căn cứ vào nội dung của câu mở đầu mỗi đoạn trích. Các câu ấy trình bày một ý khái quát về quan hệ giữa màu nước biển với sắc mây trời hay giữa ngày (thời gian có ánh sáng mặt trời) với mùa sương trên vịnh Hạ Long.

– Hướng giải đáp câu hỏi (c) :

Không nên tách mỗi vê câu ưong các câu ghép đã cho ở đây ra thành một câu đơn, vì mối quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ở đây rất chặt chẽ : ý được nêu của vế câu này là điều kiện hay nguyên nhân của ý được nêu trong vế câu kia.

3. Bài tập 3, trang 125, SGK.

(Nam Cao, Lão Hạc) Trả lời:

Bài tập này có mục đích đánh giá cách dùng câu ghép gắn với một trường hợp cụ thể.

Mỗi “câu ghép rất dài” ở đây là một câu ghép gồm nhiều bộ phận có quan hệ với nhau rất phức tạp. về phương diện lập luận, không nên tách các bộ phận trong từng “việc” của lão Hạc ra thành câu riêng, vì các việc nhỏ trong đó gắn kết với nhau làm thành “hai việc”, về giá trị biểu hiện thực tế việc tạo những câu dài như vậy còn nhằm phản ánh cách nói dài dòng của lão Hạc, như tác giả đã nói lúc ban đầu.

4. Bài tập 4, trang 125 -126, SGK.

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

a) Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép thứ hai là quan hệ gì? Có nên tách mỗi vế của câu thành một câu đơn không? Vì sao?b) Thử tách mỗi vế trong các câu ghép thứ nhất và thứ ba thành một câu đơn. So sánh cách viết ấy với cách viết trong đoạn trích, qua mỗi cách viết, em hình dung nhân vật nói như thế nào ?

Trả lời:

Dựa vào gợi ý ở những bài tập trên, em tự làm bài tập này.

5. Trong các câu ghép sau đây, quan hệ từ (in đậm) nào chỉ kiểu quan hệ ý nghĩa nào trong số các quan hệ ý nghĩa nêu bên dưới.

a) Nếu ông trả lời đúng ngựa của ông đi một ngày được mây bước, tôi sẽ cho ồng biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

(Em bé thông minh) b) Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. c) Tôi không muốn trả lời mẹ tôi vì tôi muốn khóc quá. d) Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhả vào cạnh anh Dậu. (Ngô Tất Tố, Tắt đèn) e) Giá tôi không trêu chị Cốc thì đầu đến nỗi Choắt việc gì. g) Đến hoàng cung, con bảo cha đứng đợi ở ngoài còn mình thì nhân lúc mấy tên lính canh vô ý, lẻn vào sân rồng khóc um lên. (Em bé thông minh)

Các quan hệ ý nghĩa :

– Quan hệ nguyên nhân.

– Quan hệ điều kiện.

– Quan hệ giả thiết.

– Quan hệ tiếp nối.

– Quan hệ tương phản.

Trả lời:

Các kiểu quan hệ nêu trong bài tập thường được diễn đạt bằng các quan hệ từ cho sau đây :

– Quan hệ nguyên nhân được diễn đạt bằng các quan hệ từ : vì, do, tại, bổi, nhờ.

– Quan hệ điều kiện được diễn đạt bằng quan hệ từ : nếu.

– Quan hệ giả thiết được diễn đạt bằng quan hệ từ : giá.

– Quan hệ tiếp nối được diễn đạt bằng quan hệ từ : rồi.

– Quan hệ tương phản được diễn đạt bằng các quan hệ từ : tuy hay nhưng hay tuy… nhưng.

6. Ghép từng đôi câu đơn sau đây thành một câu ghép, dùng các quan hệ từ thích hợp với quan hệ ý nghĩa cho sẵn trong ngoặc đơn sau từng đôi câu đó.

a) Các bạn ấy chăm học. Các bạn ấy chắc sẽ đạt kết quả tốt. (Quan hệ nguyên nhân)

b) Chúng ta học tập chăm chỉ. Chắc chúng ta sẽ đạt kết quả tốt. (Quan hệ điều kiện)

c) Gia đình bạn ấy có nhiều khó khăn. Bạn ấy vẫn cố gắng học tập đều đặn và có kết quả tốt. (Quan hệ tương phản)

Trả lời:

Tham khảo gợi ý ở lời giải bài tập 5.

7*. Điền vào chỗ trống những từ thích hợp để tạo câu ghép theo kiểu quan hệ cho sẵn sau từng câu.

a) Gió /…/ to, diều bay /…/cao. (Quan hệ tăng tiến)

b) Nước biển vùng này trong và ít sóng… người đến tắm rất đông. (Quan hệ nguyên nhân)

c) Gió mối lúc một mạnh thêm /…/ sóng mối lúc một thêm cao. (Quan hệ bổ sung)

d) Chiếc xe dùng lại /…/ mọi người lần lượt xuống xe. (Quan hệ tiếp nối)

Trả lời:

Tham khảo gợi ý ở lời giải bài tập 5.

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 80 Sbt Ngữ Văn 8 trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!