Xem Nhiều 1/2023 #️ Tài Liệu Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7 # Top 5 Trend | Caffebenevietnam.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tài Liệu Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7 # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tài Liệu Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7 mới nhất trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7 ================================================================ ĐỀ TÀI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM LỜI GIẢI CHO BÀI TOÁN CHỨNG MINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NGƯỢC TRONG MÔN HÌNH HỌC LỚP 7 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn chuyên đề: Trong chương trình hình học THCS các bài tập yêu cầu chứng minh chiếm tỉ lệ lớn nên yêu cầu giáo viên giảng dạy cần hướng dẫn học sinh tìm cách chứng minh bài toán chứ không đơn thuần là giúp học sinh có được lời giải bài toán. Thông qua việc hướng dẫn của giáo viên giúp học sinh tự đúc kết được phương pháp chứng minh, tiến tới có được phương pháp học tập bộ môn hình học. Với chương trình hình học 6, học sinh mới chỉ làm quen với các khái niệm mở đầu về hình học. Học sinh được tiếp cận kiến thức bằng con đường quy nạp không hoàn toàn, từ quan sát, thử nghiệm, đo đạc, vẽ hình để đi dần đến kiến thức mới. Học sinh nhận thức các hình và mối liên hệ giữa chúng bằng mô tả trực quan với sự hỗ trợ của trực giác, của tưởng tượng là chủ yếu. Lên lớp 7 học sinh bước đầu làm quen với các mối quan hệ vuông góc, song song, bằng nhau… Với yêu cầu về kĩ năng từ thấp đến cao đòi hỏi phải có sự suy luận lôgíc hợp lý, khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác thông qua các bài tập chứng minh. Việc làm quen và tiếp cận với bài toán chứng minh đối với học sinh lớp 7 còn mới mẻ nên đại đa số học sinh chưa biết chứng minh như thế nào và bắt đầu từ đâu. Nếu vấn đề này không được khắc phục ngay từ lớp 7 thì HS sẽ không thể tiếp thu được kiến thức hình học ở các lớp trên. Do vậy vai trò của giáo viên giảng dạy lúc này rất quan trọng. Giáo viên là người hướng dẫn, phân tích giúp học sinh tìm ra cách chứng minh bài toán hình học từ đó hình thành kĩ năng phân Phạm Thị Nhài 2 THCS Hồng Thuận Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7 ================================================================ tích, tổng hợp kiến thức và kĩ năng trình bày lời giải. Từ đó hình thành phương pháp học toán cho HS. Với các lý do trên nên tôi chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7”. 2. Cơ sở lí luận của đề tài: Trong trường THCS môn toán được coi là môn khoa học luôn được chú trọng nhất và cũng là môn có nhiều khái niệm trừu tượng. Đặc biệt phải khẳng định là phân môn hình học có nhiều khỏi niệm trừu tượng nhất, kiến thức trong bài tập lại phong phú, rất nhiều so với nội dung lý thuyết mới học. Bên cạnh đó yêu cầu bài tập lại cao, nhiều bài toán ở dạng chứng minh đòi hỏi phải suy diễn chặt chẽ lô gíc và có trình tự. SGK hình học 7, các kiến thức được trình bày theo con đường kết hợp trực quan và suy diễn, lập luận. Bằng đo dạc, vẽ hình, gấp hình, quan sát …học sinh dự đoán các kết luận hình học và tiếp cận các định lý. Nhờ đó giúp HS có hứng thú học tập, chịu khó tìm tòi khám phá kiến thức. Sách giáo khoa hình học 7 tiếp tục bổ sung kiến thức mở đầu của hình học phẳng lớp 6. làm quen với các khái niệm mới: Hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, quan hệ bằng nhau của hai tam giác, tam giác cân, tam giác đều, định lí Pitago, quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác, các đường đồng quy trong tam giác. Chương trình hình học 7 là bước chuyển tiếp quan trọng về tư duy để giúp HS học tốt được chương trình hình học 8 và 9. Hệ thống các bài tập đa dạng phong phú được thể hiện dưới nhiều hình thức, phần lớn là các bài tập chứng minh, từ đó đòi hỏi HS phải có phương pháp phân tích hợp lí để tìm được lời giải cho bài toán. Vì vậy việc hướng dẫn học sinh cách Phạm Thị Nhài 3 THCS Hồng Thuận Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7 ================================================================ phân tích tìm lời giải cho bài toán là hết sức quan trọng để khơi dậy hứng thú học tập, giúp học sinh học toán nhẹ nhàng hào hứng, đạt kết quả tốt hơn. 3. Cơ sở thực tiễn của chuyên đề a)Đối với giáo viên: Cơ bản là có tinh thần tự bồi dưỡng thường xuyên, liên tục để nâng cao trỡnh độ chuyên môn nghệp vụ. Có trách nhiệm đối với học sinh, đối với trường lớp Phương pháp giảng dạy đó có sự đổi mới hơn theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, từng bước áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ giáo viên còn lúng túng trong việc phân tích, hướng dẫn cho HS tìm ra lời giải cho bài toán. GV thường phân tích xuôi chiều từ giả thiết đến kết luận, khiến HS không hiểu tại sao và nguyên nhân nào đưa đến lời giải của bài toán vì thế không vận dụng được vào giải các bài toán khác, do đó HS không biết cách học toán, cụ thể là cách suy nghĩ để tìm lời giải cho một bài toán. Đặc biệt là các bài toán chứng minh trong môn hình học, khiến HS tiếp thu một cách thụ động, thiếu tự nhiên, thiếu tính sáng tạo, dẫn đến kết quả học tập thấp. b)Đối với học sinh: Một bộ phận học sinh, khoảng 20% rất tích cực học tập, rèn luyện, có động cơ học tập đúng đắn nên đó c kết quả học tập tốt. Một bộ phận lớn học sinh, khoảng 35% cú kết quả học tập trung bình, trong số này có khoảng 15% nếu có phương pháp học phù hợp thì sẽ đạt mức khá . Số còn lại (45%) học yếu, trên lớp hầu như không tiếp thu được bài học,. trong đó phần lớn là do các em không có phương pháp học toán phù hợp, không có kĩ năng phân tích, tìm lời giải cho bài toán. Qua tìm hiểu tôi thấy nguyên nhân do trong quá trình dạy học thầy cô giáo chưa hướng dẫn học sinh phương pháp học tập đúng đắn, các hình thức tổ chức Phạm Thị Nhài 4 THCS Hồng Thuận Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7 ================================================================ các hoạt động dạy học trong giờ học chưa phong phú nên chưa kích thích được học sinh hứng thú học tập. II. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng của chuyên đề: 1.Mục tiêu Thông qua chuyên đề tôi muốn trao đổi thêm về phương pháp giảng dạy hình học 7 để có hiệu quả giảng dạy cao nhất. Giúp cho học sinh có hướng suy nghĩ tìm tòi lời giải cho một bài toán chứng minh hình học, nhằm dần hình thành kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức, Giúp phát triển tư duy và rèn khả năng tự học cho HS, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 2.Phạm vi Có rất nhiều con đường, nhiều phương pháp để tìm lời giải cho một bài toán hình học, nhưng vì điều kiện thời gian chuyên đề chỉ đề cập đến một phương pháp quan trọng và phổ biến trong việc tìm cách chứng minh bài toán hình học: Phương pháp phân tích ngược trong môn hình học 7. 3. Đối tượng HS khối 7, môn hình học 7. III.NỘI DUNG 1. Các bài toán chứng minh trong hình học 7 thường gồm: – Chứng minh bằng nhau: Đoạn thẳng bằng nhau, góc bằng nhau, tam giác bằng nhau…ứng dụng để: So sánh góc, đoạn thẳng, CM trung điểm của đoạn thẳng, tia phân giác của góc… – Chứng minh song song: – Chứng minh vuông góc. – Chứng minh thẳng hàng. Phạm Thị Nhài 5 THCS Hồng Thuận Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7 ================================================================ – Chứng minh các đường thẳng đồng quy – Chứng minh các yếu tố cố định,…. 2. Phương pháp chung để tìm lời giải bài toán a) Tìm hiểu nội dung bài toán + Giả thiết là gì? Kết luận là gì? Hình vẽ minh họa ra sao? Sử dụng kí hiệu như thế nào? + Phát biểu bài toán dưới những dạng khác nhau để hiểu rõ bài toán. + Dạng toán nào? + Kiến thức cơ bản cần có là gì? b) Xây dựng chương trình giải: Chỉ rõ các bước giải theo một trình tự thích hợp. c) Thực hiện chương trình giải: Trình bày bài làm theo các bước đã được chỉ ra. Chú ý các sai lầm thường gặp trong tính toán, biến đổi. d) Kiểm tra và nghiên cứu lời giải + Xem xét có sai lầm không, có phải biện luận kết quả không + Nghiên cứu bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn để,… 3. Phương pháp chứng minh bài toán hình học theo hướng phân tích đi lên * Ngoài việc tuân thủ theo bốn bước chung, ta đi sâu vào hai bước: Tìm hiểu và xây dựng chương trình giải. – Bài toán yêu cầu phải chứng minh điều gì? ( Kết luận A) – Đề chứng được kết luận A ta phải chứng minh được điều gì? ( Kết Luận X) – Để chứng minh được kết luận X ta dựa vào dấu hiệu nào, chứng minh điều gì? ( Kết luân Y)…. Phạm Thị Nhài 6 THCS Hồng Thuận Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7 ================================================================ -Quá trình phân tích trên dừng lại khi đã sử dụng được giả thiết của bài toán và các kiến thức đã học trước đó. Sơ đồ phân tích bài toán như sau: Để chứng minh A Phải cm X Phải cm Y Phải cm …. Phải cm Z (CM được từ GT) Lưu ý: Khi trình bày lời giải, học sinh phải tiến hành theo hướng ngược lại. 4. Kết quả đạt được sau khi thực hiện chuyên đề Trước khi xây dựng chuyên đề này tôi tiến hành khảo sát học sinh khối 7 về chứng minh bài toán hình học, kết quả là: Số lượng học sinh được kiểm Tỉ lệ học sinh biết chứng minh (mức độ tra chuẩn KTKN) 67 35 HS chiếm 52,2% Sau khi thực hiện chuyên đề kết quả đạt được như sau: Số lượng học sinh được kiểm Tỉ lệ học sinh biết chứng minh (mức độ tra chuẩn KTKN) 67 47 HS chiếm 70,1% 5. Các ví dụ cụ thể: Ví dụ 1: Cho tam giác ABC, M là trung điểm của BC. Trên tia đối của tia MA lấy điểm E sao cho ME = MA. Chứng minh rằng a) AB = CE b) AC

Đề Tài: Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7

ĐỀ TÀI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM LỜI GIẢI CHO BÀI TOÁN CHỨNG MINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NGƯỢC TRONG MÔN HÌNH HỌC LỚP 7 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn chuyên đề: Trong chương trình hình học THCS các bài tập yêu cầu chứng minh chiếm tỉ lệ lớn nên yêu cầu giáo viên giảng dạy cần hướng dẫn học sinh tìm cách chứng minh bài toán chứ không đơn thuần là giúp học sinh có được lời giải bài toán. Thông qua việc hướng dẫn của giáo viên giúp học sinh tự đúc kết được phương pháp chứng minh, tiến tới có được phương pháp học tập bộ môn hình học. Với chương trình hình học 6, học sinh mới chỉ làm quen với các khái niệm mở đầu về hình học. Học sinh được tiếp cận kiến thức bằng con đường quy nạp không hoàn toàn, từ quan sát, thử nghiệm, đo đạc, vẽ hình để đi dần đến kiến thức mới. Học sinh nhận thức các hình và mối liên hệ giữa chúng bằng mô tả trực quan với sự hỗ trợ của trực giác, của tưởng tượng là chủ yếu. Lên lớp 7 học sinh bước đầu làm quen với các mối quan hệ vuông góc, song song, bằng nhau… Với yêu cầu về kĩ năng từ thấp đến cao đòi hỏi phải có sự suy luận lôgíc hợp lý, khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác thông qua các bài tập chứng minh. Việc làm quen và tiếp cận với bài toán chứng minh đối với học sinh lớp 7 còn mới mẻ nên đại đa số học sinh chưa biết chứng minh như thế nào và bắt đầu từ đâu. Nếu vấn đề này không được khắc phục ngay từ lớp 7 thì HS sẽ không thể tiếp thu được kiến thức hình học ở các lớp trên. Do vậy vai trò của giáo viên giảng dạy lúc này rất quan trọng. Giáo viên là người hướng dẫn, phân tích giúp học sinh tìm ra cách chứng minh bài toán hình học từ đó hình thành kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức và kĩ năng trình bày lời giải. Từ đó hình thành phương pháp học toán cho HS. Với các lý do trên nên tôi chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7”. 2. Cơ sở lí luận của đề tài: Trong trường THCS môn toán được coi là môn khoa học luôn được chú trọng nhất và cũng là môn có nhiều khái niệm trừu tượng. Đặc biệt phải khẳng định là phân môn hình học có nhiều khỏi niệm trừu tượng nhất, kiến thức trong bài tập lại phong phú, rất nhiều so với nội dung lý thuyết mới học. Bên cạnh đó yêu cầu bài tập lại cao, nhiều bài toán ở dạng chứng minh đòi hỏi phải suy diễn chặt chẽ lô gíc và có trình tự. SGK hình học 7, các kiến thức được trình bày theo con đường kết hợp trực quan và suy diễn, lập luận. Bằng đo dạc, vẽ hình, gấp hình, quan sát …học sinh dự đoán các kết luận hình học và tiếp cận các định lý. Nhờ đó giúp HS có hứng thú học tập, chịu khó tìm tòi khám phá kiến thức. Sách giáo khoa hình học 7 tiếp tục bổ sung kiến thức mở đầu của hình học phẳng lớp 6. làm quen với các khái niệm mới: Hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, quan hệ bằng nhau của hai tam giác, tam giác cân, tam giác đều, định lí Pitago, quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác, các đường đồng quy trong tam giác. Chương trình hình học 7 là bước chuyển tiếp quan trọng về tư duy để giúp HS học tốt được chương trình hình học 8 và 9. Hệ thống các bài tập đa dạng phong phú được thể hiện dưới nhiều hình thức, phần lớn là các bài tập chứng minh, từ đó đòi hỏi HS phải có phương pháp phân tích hợp lí để tìm được lời giải cho bài toán. Vì vậy việc hướng dẫn học sinh cách phân tích tìm lời giải cho bài toán là hết sức quan trọng để khơi dậy hứng thú học tập, giúp học sinh học toán nhẹ nhàng hào hứng, đạt kết quả tốt hơn. 3. Cơ sở thực tiễn của chuyên đề a)Đối với giáo viên: Cơ bản là có tinh thần tự bồi dưỡng thường xuyên, liên tục để nâng cao trỡnh độ chuyên môn nghệp vụ. Có trách nhiệm đối với học sinh, đối với trường lớp Phương pháp giảng dạy đó có sự đổi mới hơn theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, từng bước áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ giáo viên còn lúng túng trong việc phân tích, hướng dẫn cho HS tìm ra lời giải cho bài toán. GV thường phân tích xuôi chiều từ giả thiết đến kết luận, khiến HS không hiểu tại sao và nguyên nhân nào đưa đến lời giải của bài toán vì thế không vận dụng được vào giải các bài toán khác, do đó HS không biết cách học toán, cụ thể là cách suy nghĩ để tìm lời giải cho một bài toán. Đặc biệt là các bài toán chứng minh trong môn hình học, khiến HS tiếp thu một cách thụ động, thiếu tự nhiên, thiếu tính sáng tạo, dẫn đến kết quả học tập thấp. b)Đối với học sinh: Một bộ phận học sinh, khoảng 20% rất tích cực học tập, rèn luyện, có động cơ học tập đúng đắn nên đó c kết quả học tập tốt. Một bộ phận lớn học sinh, khoảng 35% cú kết quả học tập trung bình, trong số này có khoảng 15% nếu có phương pháp học phù hợp thì sẽ đạt mức khá . Số còn lại (45%) học yếu, trên lớp hầu như không tiếp thu được bài học,. trong đó phần lớn là do các em không có phương pháp học toán phù hợp, không có kĩ năng phân tích, tìm lời giải cho bài toán. Qua tìm hiểu tôi thấy nguyên nhân do trong quá trình dạy học thầy cô giáo chưa hướng dẫn học sinh phương pháp học tập đúng đắn, các hình thức tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ học chưa phong phú nên chưa kích thích được học sinh hứng thú học tập. II. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng của chuyên đề: 1.Mục tiêu Thông qua chuyên đề tôi muốn trao đổi thêm về phương pháp giảng dạy hình học 7 để có hiệu quả giảng dạy cao nhất. Giúp cho học sinh có hướng suy nghĩ tìm tòi lời giải cho một bài toán chứng minh hình học, nhằm dần hình thành kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức, Giúp phát triển tư duy và rèn khả năng tự học cho HS, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 2.Phạm vi Có rất nhiều con đường, nhiều phương pháp để tìm lời giải cho một bài toán hình học, nhưng vì điều kiện thời gian chuyên đề chỉ đề cập đến một phương pháp quan trọng và phổ biến trong việc tìm cách chứng minh bài toán hình học: Phương pháp phân tích ngược trong môn hình học 7. 3. Đối tượng HS khối 7, môn hình học 7. III.NỘI DUNG 1. Các bài toán chứng minh trong hình học 7 thường gồm: – Chứng minh bằng nhau: Đoạn thẳng bằng nhau, góc bằng nhau, tam giác bằng nhau…ứng dụng để: So sánh góc, đoạn thẳng, CM trung điểm của đoạn thẳng, tia phân giác của góc… – Chứng minh song song: – Chứng minh vuông góc. – Chứng minh thẳng hàng. – Chứng minh các đường thẳng đồng quy – Chứng minh các yếu tố cố định,…. 2. Phương pháp chung để tìm lời giải bài toán a) Tìm hiểu nội dung bài toán + Giả thiết là gì? Kết luận là gì? Hình vẽ minh họa ra sao? Sử dụng kí hiệu như thế nào? + Phát biểu bài toán dưới những dạng khác nhau để hiểu rõ bài toán. + Dạng toán nào? + Kiến thức cơ bản cần có là gì? b) Xây dựng chương trình giải: Chỉ rõ các bước giải theo một trình tự thích hợp. c) Thực hiện chương trình giải: Trình bày bài làm theo các bước đã được chỉ ra. Chú ý các sai lầm thường gặp trong tính toán, biến đổi. d) Kiểm tra và nghiên cứu lời giải + Xem xét có sai lầm không, có phải biện luận kết quả không + Nghiên cứu bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn để,… 3. Phương pháp chứng minh bài toán hình học theo hướng phân tích đi lên * Ngoài việc tuân thủ theo bốn bước chung, ta đi sâu vào hai bước: Tìm hiểu và xây dựng chương trình giải. – Bài toán yêu cầu phải chứng minh điều gì? ( Kết luận A) – Đề chứng được kết luận A ta phải chứng minh được điều gì? ( Kết Luận X) – Để chứng minh được kết luận X ta dựa vào dấu hiệu nào, chứng minh điều gì? ( Kết luân Y)…. -Quá trình phân tích trên dừng lại khi đã sử dụng được giả thiết của bài toán và các kiến thức đã học trước đó. Sơ đồ phân tích bài toán như sau: Để chứng minh A Phải cm X Phải cm Y Phải cm …. Phải cm Z (CM được từ GT) Lưu ý: Khi trình bày lời giải, học sinh phải tiến hành theo hướng ngược lại. 4. Kết quả đạt được sau khi thực hiện chuyên đề Trước khi xây dựng chuyên đề này tôi tiến hành khảo sát học sinh khối 7 về chứng minh bài toán hình học, kết quả là: Số lượng học sinh được kiểm tra Tỉ lệ học sinh biết chứng minh (mức độ chuẩn KTKN) 67 35 HS chiếm 52,2% Sau khi thực hiện chuyên đề kết quả đạt được như sau: Số lượng học sinh được kiểm tra Tỉ lệ học sinh biết chứng minh (mức độ chuẩn KTKN) 67 47 HS chiếm 70,1% 5. Các ví dụ cụ thể: Ví dụ 1: Cho tam giác ABC, M là trung điểm của BC. Trên tia đối của tia MA lấy điểm E sao cho ME = MA. Chứng minh rằng AB = CE AC

Đề Tài Hướng Dẫn Học Sinh Phân Tích Đề Bài Và Giải Bài Toán Bằng Cách Lập Hệ Phương Trình

– Trong xu hướng phát triển chung, xã hội luôn đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp đào tạo con người. Chính vì vậy, việc dạy và học cũng không ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Trước tình hình đó, mỗi giáo viên cũng phải luôn tìm tòi, sáng tạo, tìm ra phương pháp dạy mới phù hợp với đối tượng học sinh để phát huy cao nhất tính chủ động, sáng tạo, tích cực của người học, nâng cao năng lực phân tích, tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện và hoàn thành các kỹ năng vận dụng thành thạo các kiến thức một cách chủ động, sáng tạo trong thực tế cuộc sống.

– Đối với lứa tuổi học sinh THCS nói chung và đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 9 nói riêng. Mặc dù tuổi các em không phải còn nhỏ nhưng khả năng phân tích, suy luận còn rất nhiều hạn chế nhất là đối với đối tượng học sinh học yếu và lười học. Chính vì vậy nên trong những dạng toán của môn đại số lớp 9 thì dạng toán giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình đối với các em là dạng khó.

II/ LÝ DO CHỦ QUAN.

ư sau: -Vòi 1 chảy một mình trong mấy giờ ? h/s trả lời -Hai vòi chảy chung trong mấy giờ ? Gv vẽ sơ đồ phân tích ra : vòi 1: 9 giờ 2 vòi: giờ Thời gian k/lượng c/việc (7) vòi 1: 9 giờ 9.x ( bể ) (8) sau đó 2 vòi: giờ . ( bể ) (9) Khi đó chảy đầy bể = 100% ( bể ) = 1 -Trong 9 giờ vòi 1 chảy được bao nhiêu phần bể ? h/s trả lời – gv ghi xuống bên dưới sơ đồ . -Trong giờ 2 vòi chảy được bao nhiêu phần bể ? h/s trả lời – gv ghi xuống bên dưới sơ đồ . -Vậy ta có phương trình (2) như thế nào ? h/s: 9.x + . = 1 -Từ đó ta có hpt nào ? h/s: Giải -Gv yêu cầu hs lập luận để lập hpt dựa vào các bước của bảng phân tích. h/s lần lượt đứng trả lời. -Yêu cầu h/s giải hpt tìm được nghiệm : (TM) -Yêu cầu 1 h/s đứng trả lời bài toán: Vậy nếu ngay từ đầu chỉ mở một mình vòi thứ hai thì sau 8 giờ sẽ đầy bể. Gv nhấn mạnh lại: Khi trả lời phải chú ý: Thời gian hoàn thành công việc của người 1 là: Thời gian hoàn thành công việc của người 2 là: */ Bài toán 4: ( Bài 2 – Đề kiểm tra chương III- Sách nâng cao Toán 9, Tập 2 – Nhà xuất bản Hà Nội ). ” Hai đội công nhân cùng làm một đoạn đường trong 24 ngày thì xong. Mỗi ngày đội thứ hai làm được khối lượng công việc nhiều gấp đôi đội thứ nhất. Hỏi nếu làm một mình thì mỗi đội làm xong đoạn đường đó trong bao lâu ? ” */ Gv cùng h/s phân tích: -Yêu cầu 1 h/s đọc đề bài toán. -Bài toán thuộc dạng nào ? Tương tự các ví dụ trên : Gv dùng hệ thống câu hỏi – h/s trả lời – Gv ghi vào bảng Thời gian hoàn thành công việc (giờ) Năng suất làm việc trong 1 giờ Hai đội (5) 24 (6) Đội 1 (3) (1) x (đk: 0 < x <) Đội 2 (4) (2) y (đk: 0 < y < ) -Vậy lập được pt (1) như thế nào ? h/s: -Bài toán cho biết thêm điều gì ? h/s: Mỗi ngày đội thứ hai làm được khối lượng công việc nhiều gấp đôi đội thứ nhất. – Em hiểu điều đó như thế nào ? h/s: Năng suất của đội hai làm gấp đôi năng suất của đội 1. -Vậy ta có phương trình 2 lập như thế nào ? h/s: y = 2.x -Từ đó ta có hpt nào ? h/s: Giải -Gv yêu cầu hs lập luận để lập hpt dựa vào các bước của bảng phân tích. h/s lần lượt đứng trả lời. -Yêu cầu h/s giải hpt được nghiệm : (TM) -Yêu cầu 1 h/s đứng trả lời bài toán. Gv nhấn mạnh lại: Khi trả lời phải chú ý: Thời gian hoàn thành công việc của người 1 là: Thời gian hoàn thành công việc của người 2 là: */ Bài toán 5: ( Bài 3 – Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm 2007 -2008 tỉnh Đăk Lăk) ” Hai máy cày cùng làm việc trong 5 giờ thì xong cánh đồng. Nếu máy thứ nhất làm việc trong 6 giờ và máy thứ hai làm việc trong 10 giờ thì hai máy cày được 10% cánh đồng. Hỏi mỗi máy cày làm việc riêng thì cày xong cánh đồng trong mấy giờ ? */ Gv cùng h/s phân tích: -Yêu cầu 1 h/s đọc đề bài toán. -Bài toán thuộc dạng nào ? -Bài toán có gì khác so với các bài toán trước ? h/s: Bài toán không cho thời gian hoàn thành công việc của hai đội. -Vậy bài toán cho điều gì ? h/s: Cho hai máy cày cùng làm việc trong 5 giờ thì cày xong cánh đồng. -Vậy thời gian cày xong cả cánh đồng của 2 máy là bao lâu ? h/s: Thời gian cày xong cả cánh đồng của 2 máy là: 5.18 = 90 giờ. Tương tự các ví dụ trên : Gv dùng hệ thống câu hỏi – h/s trả lời – Gv ghi vào bảng Thời gian hoàn thành công việc (giờ) Năng suất làm việc trong 1 giờ Hai máy (5) 90 (6) Máy 1 (3) (1) x (đk: 0 < x <) Máy 2 (4) (2) y (đk: 0 < y <) -Vậy lập được pt (1) như thế nào ? h/s: -Bài toán cho biết thêm điều gì ? h/s trả lời: Thời gian làm Khối lượng c/việc (7) máy 1: 6 giờ 6.x (cánh đồng ) (8) máy 2: 10 giờ 10.y ( cánh đồng ) (9) thì 2 máy làm được 10% = ( cánh đồng ) -Vậy với thời gian đó thì mỗi máy làm được bao nhiêu phần cánh đồng ? h/s trả lời – Gv ghi lên tóm tắt. -Vậy ta có phương trình 2 lập như thế nào ? h/s: -Từ đó ta có hpt nào ? h/s: Giải: Gv yêu cầu hs lập luận để lập hpt dựa vào các bước của bảng phân tích. h/s lần lượt đứng trả lời. -Yêu cầu h/s giải hpt được nghiệm : (TM) -Yêu cầu 1 h/s đứng trả lời bài toán. Gv nhấn mạnh lại: Khi trả lời phải chú ý: Thời gian hoàn thành công việc của người 1 là: Thời gian hoàn thành công việc của người 2 là: Như vậy thông qua các ví dụ trên ta thấy: Sau này khi các em giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình dạng ” Làm chung – Làm riêng” chỉ cần lập được bảng phân tích là các em có thể dựa vào đó để lập luận lập được hpt, ngoài ra cách gọi ẩn gián tiếp khiến cho hệ phương trình các em lập được cũng dễ dàng giải hơn. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng hầu như tất cả các bài tập giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình dạng ” Làm chung – Làm riêng” đều có thể áp dụng cách phân tích bằng bảng để lập hệ phương trình. 4/ Kết quả sau khi thực hiện: Năm học 2006-2007: Lớp Sĩ số Số h/s biết cách phân tích bài toán để lập hpt Số h/s chưa biết cách phân tích bài toán để lập hpt Số lượng % Số lượng % 9A1 38 30 78,9% 8 21,1% 9A2 40 29 72,5% 11 27,5% Năm học 2007-2008: Lớp Sĩ số Số h/s biết cách phân tích bài toán để lập hpt Số h/s chưa biết cách phân tích bài toán để lập hpt Số lượng % Số lượng % 9A1 42 38 90,5% 4 9,5% 9A2 45 35 77,8% 10 22,2% Năm học 2008-2009: Lớp Sĩ số Số h/s biết cách phân tích bài toán để lập hpt Số h/s chưa biết cách phân tích bài toán để lập hpt Số lượng % Số lượng % 9A1 42 40 95,2% 2 4,8% */ TÓM LẠI Qua các ví dụ trên, ta thấy giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình dạng ” Làm chung – Làm riêng” không phải là dạng toán quá khó, mà chỉ cần biết cách phân tích bài toán và gọi ẩn một cách hợp lý là học sinh có thể nhìn vào bảng phân tích để lập luận lập được hệ phương trình và có thể giải được bài toán từ đó khiến các em yêu thích bộ môn hơn. Sau khi thực hiện SKKN trong ba năm học gần đây, tôi thấy số học sinh nắm được cách lập hệ phương trình và giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình dạng ” Làm chung – Làm riêng” đã tăng lên rõ rệt. Đa số các em đã có chiều hướng tích cực, ham làm bài tập, các em trước đây lười học và lười làm bài tập thì giờ đây đã có sự chuẩn bị tốt hơn, tiết học cũng thấy sôi nổi, hào hứng hơn, học sinh nào cũng muốn được phát biểu để phân tích và lập hệ phương trình chứ không còn đơn điệu một mình thầy cô giải như trước kia nữa. Học sinh bàn luận với nhau về cách phân tích và giải các bài tập khác trong sách bài tập, sách tham khảo không chỉ trong tiết học mà còn cả ở cả ngoài giờ học, không khí học tập sôi nổi hơn tạo tâm lí tốt cho các thầy các cô khi bước vào tiết dạy. Học sinh biết vận dụng các kiến thức của Toán học vào thực tế cuộc sống một cách năng động, sáng tạo, linh hoạt cũng là một trong những yêu cầu và nhiệm vụ mà người học Toán cần rèn luyện và tích lũy hơn nữa. 5/ Ưu – nhược điểm +/ ƯU ĐIỂM -Là giáo viên trẻ, thời gian công tác còn ít nhưng với lòng nhiệt tình ham học hỏi, tôi luôn tìm tòi, sáng tạo tìm ra các phương pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh trong từng dạng toán. -SKKN có thể áp dụng nhiều cho đối tượng học sinh học Yếu; Trung bình và Khá đang chiếm đa số trong các lớp học +/ HẠN CHẾ -Học sinh ở địa bàn đa số là con nhà nông, điều kiện kinh tế khó khăn, thời gian ở nhà phần lớn là giúp đỡ gia đình nên giành cho tự học là còn ít. -Phong trào học ở địa phương chưa cao, đa phần phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc học của con em mình, ngoài ra còn một phần lớn các em đua đòi, ham chơi nên ý thức học tập còn yếu. -Phương pháp dạy này chưa phát huy nhiều đối với học sinh Giỏi. Phần IV NHỮNG ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ Căn cứ vào nhiệm vụ đã đề cập và kết quả nghiên cứu sau nhiều năm của đề tài, tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến chủ quan của bản thân về phương pháp dạy giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình dạng ” Làm chung – Làm riêng” nói riêng và của bộ môn nói chung nhằm góp phần giúp học sinh nắm được cách giải, từ đó khiến các em yêu thích bộ môn hơn và góp phần nâng cao chất lượng của bộ môn: */ Đối với lãnh đạo nhà trường: – Tăng cường các chuyên đề về phương pháp giải của từng dạng toán để phù hợp với các đối tượng học sinh của trường. – Đổi mới cách sinh hoạt của tổ bộ môn, chú trọng hơn đến phương pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh chứ không nên mang nặng tính hình thức. – Nếu có thể cho áp dụng SKKN trong toàn khối 9 để kiểm tra tính thực tế. – Tạo điều kiện tối đa cho giáo viên được nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. */ Đối với giáo viên: – Luôn tìm tòi, sáng tạo trong dạy học, tìm ra những phương pháp mới phù hợp với đối tượng học sinh từ đó nâng cao chất lượng bộ môn. – Đổi mới cách giải bài tập, gây hứng thú học tập cho học sinh học môn Toán. – Tận tâm hơn với nghề dạy học, tôn trọng những kết quả đạt được của học sinh dù là nhỏ nhất. Phần V KẾT LUẬN CHUNG Đề tài “Hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình dạng ” Làm chung – Làm riêng” thông qua cách phân tích đề bài, gọi ẩn một cách hợp lý không chỉ giúp các em học sinh Trung bình, Yếu tìm ra cách giải bài toán một cách đơn giản, dễ trình bày lập luận mà còn rèn luyện cho học sinh khả năng quan sát, suy luận, phát triển tư duy, óc sáng tạo, giúp các em có kĩ năng vận dụng kiến thức Toán học vào thực tế cuộc sống. Để giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo hơn thì giáo viên phải tìm ra những cách giải hay hơn, sâu sắc hơn. Chính vì vậy giáo viên cần chuẩn bị kĩ lưỡng và công phu cho tiết dạy, ngoài ra giáo viên còn cần phải khéo léo sử dụng các câu hỏi tạo ra tình huống có vấn đề, học sinh phát hiện kiến thức để lôi cuốn học sinh vào tiết học một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Mặc dù bản thân tôi đã có cố gắng nhiều trong quá trình viết SKKN nhưng vì thời gian có hạn, quá trình công tác và kinh nghiệm còn ít nên không thể tránh được những thiếu sót. Kinh nghiệm của bản thân còn mang nặng tính chủ quan và hơi phiến diện. Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô và đồng nghiệp có tâm huyết để đề tài của tôi được hoàn thiện và có thể áp dụng vào thực tiễn. Xin chân thành cảm ơn! Bình Hòa, Ngày 12 tháng 10 năm 2009 Người viết Phaïm Höõu Caûnh

Tài Liệu Skkn Hướng Dẫn Học Sinh Thực Hiện Tốt Cách Giải Bài Toán Có Lời Văn

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HIỆN TỐT CÁCH GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN – LỚP 5 Dạng toán: ” Toán chuyển động đều” I/ ĐẶT VẤN ĐỀ : Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn, đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn: Nó phát triển tư duy, trí tuệ, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tính suy luận, tính khoa học toàn diện, chính xác, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo dục tính nhẫn nại, ý chí vượt khó khăn. Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra cho người thầy là làm thế nào để giờ dạy – học toán có hiệu quả cao, học sinh phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học. Theo tôi, các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí, mục đích và nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của bài học môn toán. Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến thức, cách giải toán đơn thuần mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một cách khoa học, hiệu quả. Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạy học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả”. Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 1 / 21 nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng. Trong chương trình môn toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng . Thông qua việc giải toán, học sinh tiểu học thấy được nhiều khái niệm trong toán học như các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học . . . đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải toán sẽ rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới, có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm và độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt được và khắc phục những mặt thiếu sót. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5 (Dạng: Toán chuyển động đều)” với mong muốn đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học toán và giúp học sinh lớp 5 biết cách giải bài toán có lời văn đạt hiệu quả cao hơn. Nhưng trong thực tế giảng dạy môn Toán – giải bài toán có lời văn, bản thân tôi cũng gặp nhiều khó khăn như sau: II/ KHÓ KHĂN: – Đa số học sinh xem môn toán là môn học khó khăn, dễ chán. Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 2 / 21 – Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều : một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. – Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán. Từ những khó khăn trên, để giúp học sinh có kĩ năng giải bài toán có lời văn ở lớp 5, với dạng bài toán ” chuyển động đều ” đạt hiệu quả, bản thân tôi đã thực hiện và tổ chức các hoạt động như sau: III / – GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC: Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp. Việc hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ năng tính vì bài toán là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm, quan hệ toán học. Giải toán không chỉ là nhớ mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý nghĩa của phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi biết làm tính thông thạo. Chính vì vậy dạy và học tốt về giải bài toán có lới văn có ý nghĩa quyết định thành công của dạy và học môn toán, do đó người giáo viên phải xác định rõ mục tiêu của việc dạy giải các bài toán có lời văn và cần phải đạt được các tri thức, kĩ năng sau : 1/ Học sinh nhận biết ” cái đã cho” và ” cái phải tìm” trong mỗi bài toán, mối quan hệ giữa các đại lượng có trong mỗi bài toán, chẳng hạn : khi dạy toán về chuyển động đều thì mối quan hệ đó thể hiện ở quãng đường đi bằng tích của vận tốc với thời gian đi đường. 2/ Học sinh giải được các bài toán hợp với một số quan hệ thường gặp giữa các đại lượng thông dụng. Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 3 / 21 3/ Học sinh giải được một số bài toán điển hình được hình thành từ lớp 4 đến lớp 5 như sau : * Tìm số trung bình cộng của hai số hoặc nhiều số. * Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó. *Tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số. * Giải toán về tỉ số phần trăm. * Bài toán cơ bản về chuyển động đều cùng chiều (hoặc ngược chiều) * Giải toán có nội dung hình học 4/ Học sinh biết trình bày bài giải đúng quy định theo yêu cầu bài toán. Để đạt được những mục tiêu trên cần thông qua quá trình phát triển từng bước, giáo viên phải thực hiện thường xuyên, liên tục một số biện pháp như sau : A- Những biện pháp thực thi : 1/ Cho học sinh nhận biết các yếu tố của bài toán : a) Cho học sinh nhận biết nguồn gốc thực tế và tác dụng phục vụ thực tiễn cuộc sống của bài toán. Ví dụ : Cần tính năng suất lúa trên một diện tích đất trồng; tính bình quân thu nhập hàng tháng theo đầu người hay gia đình em ( Toán 5 trang 160 – 161, . . .) b) Cho học sinh nhận rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các đại lượng trong bài toán. Ví dụ: Khi giải bài toán chuyển động đều, học sinh dựa vào ” cái đã cho”, ” cái phải tìm ” và mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian để tìm đại lượng chưa biết. Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 4 / 21 c) Tập cho học sinh biết xem xét các đối tượng toán học và tập diễn đạt các kết luận dưới nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ : ” số bạn trai bằng 1/3 số bạn gái ” cũng có nghĩa là “số bạn gái gấp 3 lần số bạn trai”; “đáy nhỏ bằng 2/3 đáy lớn” cũng có nghĩa là “đáy lớn gấp rưởi đáy nhỏ” hoặc “đáy lớn gấp 1,5 lần đáy nhỏ “. 2/- Phân loại bài toán có lời văn : Để giải được bài toán thì học sinh phải hiểu đề bài, hiểu các thành phần của nó . Những cái đã cho và những cái cần tìm thường là những số đo đại lượng nào đấy được biểu thị bởi các phép tính và các quan hệ giữa các số đo. Dựa vào đó mà có thể phân loại các bài toán. a) Phân loại theo đại lượng : Với mỗi loại đại lượng có một loạt bài toán có lời văn về đại lượng đó như: * Các bài toán về số lượng. * Các bài toán về khối lượng của vật. * Các bài toán về các đại lượng trong hình học b) Phân loại theo số phép tính : * Bài toán đơn : là bài toán mà khi giải chỉ cần một phép tính – ở lớp 5, loại này thường dùng nêu ý nghĩa thực tế của phép tính, nó phù hợp với quá trình nhận thức. Ví dụ : Để dạy phép cộng số đo thời gian, có bài toán “Một ô tô đi từ Hà Nội đến Thanh Hoá hết 3 giờ 15 phút, rồi đi tiếp đến Vinh hết 2 giờ 35 phút. Hỏi ô tô đó đi cả quảng đường từ Hà Nội đến Vinh hết bao nhiêu thời gian ? (Ví dụ 1- trang 131 sách Toán 5). Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 5 / 21 Từ bản chất bài toán, học sinh hình thành phép cộng: 3 giờ 15 phút + 2 giờ 35 phút = 5 giờ 50 phút. * Bài toán hợp: là bài toán mà khi giải cần ít nhất 2 phép tính trở lên. Loại bài toán này dùng để luyện tập, củng cố kiến thức đã học. Ở lớp 5, bài toán này có mặt ở hầu hết các tiết học toán. Hai cách phân loại này đóng vai trò không lớn trong quá trình dạy học. c) Phân loại theo phương pháp giải : Trong thực tế, nhiều bài toán có nội dung khác nhau nhưng có thể sử dụng cùng một phương pháp suy luận để giải, vì thế có thể coi “có cùng phương pháp giải” là một tiêu chí để phân loại bài toán có lời văn. Các bài toán có cùng phương pháp giải dẫn đến cùng một mô hình toán học tức là cùng một dạng bài toán. Ví dụ 1: Mua 12 quyển vở hết 240.000 đồng. Hỏi mua 30 quyển vở như thế hết bao nhiêu tiền ? Ví dụ 2: Để hút hết nước ở một cái hồ, phải dùng 3 máy bơm làm việc liên tục trong 4 giờ. Vì muốn công việc hoàn thành sớm hơn nên người ta đã dùng 6 máy bơm như thế. Hỏi sau mấy giờ sẽ hút hết nước ở hồ ? Ví dụ 3: Một gia đình gồm 3 người (bố, mẹ và con). Bình quân thu nhập hàng tháng là 800.000 đồng mỗi người. Nếu gia đình đó có thêm 1 con nữa mà tổng thu nhập của gia đình không thay đổi thì bình quân thu nhập hàng tháng của mỗi người bị giảm đi bao nhiêu tiền? Đối với học sinh, khi giải 3 bài toán này, giáo viên luôn chú ý hỏi xem bài toán thuộc dạng nào? (quan hệ tỉ lệ), giải bằng cách nào trong Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 6 / 21 hai cách đã học ( cách “rút về đơn vị” hoặc “tìm tỉ số”). Nếu học sinh khá, giỏi, giáo viên có thể yêu cầu giải bài tập ở ví dụ 2, ví dụ 3 bằng 2 cách. Việc tìm ra nhiều cách giải khác nhau sẽ giúp học sinh có dịp so sánh các cách giải đó, chọn ra được cách hay hơn và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm để giải toán. Quá trình tìm tòi những cách giải khác nhau của bài toán cũng là quá trình rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo và khả năng suy nghĩ linh hoạt cho học sinh. Như vậy, sự phân loại theo phương pháp giải chính là sự phân loại theo mối quan hệ giữa những “cái đã cho” và những “cái cần tìm” trong bài toán. 3/ Hình thành và phát triển các năng lực quan sát, ghi nhớ, tuởng tuợng, tư duy qua các bài toán : a) Dạy học sinh biết quan sát các mô hình, sơ đồ, từ đó cũng dễ dàng tìm ra cách giải. Ví dụ: Lớp học có 40 học sinh, số học sinh nữ nhiều hơn số học sinh nam là 8 em. Hỏi có bao nhiêu học sinh nam? bao nhiêu học sinh nữ ? (dạng toán ” Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” ). Ta có thể diễn đạt bằng một trong các sơ đồ sau: * Sơ đồ 1: Số h/s nam ? Số h/s nữ hơn h/s nam 8 ? Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 7 / 21 Số h/s nữ Tổng số học sinh : 40 * Sơ đồ 2 : ? Nam 8 40 học sinh Nữ ? * Sơ đồ 3 : Nam ? 40 h/s Nữ 8 ? b) Tập cho học sinh có năng lực ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ máy móc để học thuộc và nắm vững các quy tắc, công thức, chẳng hạn như: muốn so sánh hai số thập phân hay muốn cộng (trừ, nhân, chia) một số thập phân với một số thập phân, . . . công thức tính chu vi, diện tích, thể tích các hình đã học, . . . c) Phát triển trí tưởng tượng của học sinh qua các bài toán có lời văn: Ví dụ: Ở bài toán về chuyển động đều cùng chiều, khi 2 đối tượng chuyển động đuổi kịp nhau thì học sinh phải biết được là đối tượng có Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 8 / 21 vận tốc lớn hơn đã đi hơn đối tượng có vận tốc nhỏ một khoảng cách đúng bằng khoảng cách ban đầu của hai đối tượng chuyển động. d) Tập cho học sinh quen với các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái hóa, cụ thể hóa. Học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ, hình vẽ là dịp để kết hợp các thao tác trừu tượng hoá và cụ thể hoá. Trong quá trình giải bài tập, học sinh phải vận dụng một cách tổng hợp nhiều thao tác tư duy và đây chính là mặt mạnh của việc dạy toán qua giải các bài toán có lời văn. Ví dụ 1: Một ô tô đi được quãng đường dài 170km hết 4 giờ. Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô đó đi được bao nhiêu kí-lô-mét ? ( Toán 5 – trang 138) Tóm tắt ? km 170 km Bài giải: Trung bình mỗi giờ ô tô đi được là : 170 : 4 = 42,5 ( km ) Đáp số : 42,5 km Ví dụ 2: Hình tam giác ABC có ba cạnh dài bằng nhau, mỗi cạnh dài 1,2m. Hỏi chu vi của hình tam giác đó bằng bao nhiêu mét ? (Toán 5 trang 155) Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 9 / 21 Tóm tắt A 1,2m 1,2m B C 1,2m Bài giải Chu vi hình tam giác : 1,2 X 3 = 3,6 ( mét ) Đáp số : 3,6 mét 4/ Hình thành và phát triển những phẩm chất cần thiết để học sinh có phương pháp học tập, làm việc khoa học, sáng tạo: Các phẩm chất đó là: * Hình thành nề nếp học tập, làm việc có kế hoạch. * Rèn luyện tính cách cẩn thận, chu đáo trong học tập. * Rèn luyện tính chính xác trong diễn đạt. * Rèn luyện ý thức vượt khó khăn trong học tập. Để có được những phẩm chất nói trên, học sinh cần phải lập ra thời gian biểu học tập, sinh hoạt ở nhà. Đối với bài toán khó, giáo viên cần động viên khuyến khích các em tự lực vượt khó, không nản, không chép Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 10 / 21 bài của bạn. Ngoài ra, giáo viên phải xây dựng nhóm học tập ” đôi bạn cùng tiến ” tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn còn yếu về cách học tập, củng cố lại kiến thức trước các giờ học và vào thời gian rảnh tại nhà. Kết quả học tập được giáo viên theo dõi để giúp đỡ và uốn nắn kịp thời. B – Quy trình thực hiện khi dạy giải toán có lời văn: * Bước 1 : Đọc kỹ đề toán. Có đọc kỹ đề học sinh mới tập trung suy nghĩ về ý nghĩa, nội dung của bài toán và đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán. Từ đó rèn cho học sinh thói quen chưa hiểu đề toán thì chưa tìm cách giải. * Bước 2: Phân tích – tóm tắt đề toán: Bài toán cho ta biết gì? Hỏi gì ( tức là yêu cầu gì)? – Đây chính là trình bày lại một cách ngắn gọn phần đã cho và phần phải tìm của bài toán được thể hiện dưới dạng câu văn ngắn gọn hoặc dưới sơ đồ các đoạn thẳng. * Bước 3: Tìm cách giải bài toán Thiết lập trình tự giải, lựa chọn phép tính thích hợp. * Bước 4: Trình bày bài giải. Trình bày lời giải (nói – viết) phép tính tương ứng, đáp số, kiểm tra lời giải ( khi giải xong cần thử lại xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi bài toán, có phù hợp với điều kiện của bài toán không?) – trong một số trường hợp, nên thử xem có cách giải khác gọn hơn, hay hơn không? Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 11 / 21 C – Huớng dẫn cụ thể cách giải bài toán ở dạng ” Toán chuyển động đều ” Đối với dạng toán này, có các dạng bài nổi bật sau: Loại toán chuyển động thẳng đều có 1 đối tượng chuyển động: Đầu tiên giáo viên giới thiệu sơ lược khái niệm vận tốc giúp học sinh biết được ý nghĩa của đại lượng vận tốc: vận tốc của một chuyển động cho biết mức độ chuyển động nhanh hay chậm của chuyển động đó trong một đơn vị thời gian. a)- Vận dụng các công thức theo sơ đồ sau: v=s : t t=s : v s=v x t v = vận tốc ; s = quãng đường ; t = thời gian Như vậy, khi biết hai trong ba đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian ta có thể tính được đại lượng thứ ba nhờ các công thức trên. Ví dụ: Một xe máy đi qua chiếc cầu dài 1250m hết 2 phút. Tính vận tốc của xe máy với đơn vị km/giờ (Toán 5 trang 144) Hướng dẫn cách giải – Gọi 1 học sinh đọc đề bài – Giáo viên: Đề bài cho biết những gì? – Giáo viên: Bài toán yêu cầu chúng ta tính gì? Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 12 / 21 – Giáo viên: Để tính vận tốc của xe máy chúng ta làm thế nào? – Giáo viên: Vậy quãng đường phải tính theo đơn vị nào mới phù hợp? – Giáo viên: Hãy đổi đơn vị cho phù hợp rồi tính vận tốc của xe máy. – Yêu cầu học sinh tự làm bài. Cách giải – Cách 1: Vận tốc của xe máy là : 1250 : 2 = 625 m/phút 625 m/phút = 0,625 km/phút Vận tốc của xe máy tính ra km/giờ là: 0,625 x 60 = 37,5 ( km/giờ ) Đáp số : 37,5 km/giờ – Cách 2: 1250 m = 1,25 km 2 phút = 1 30 giờ Vận tốc của xe máy là: 1,25 x 1 30 = 37,5 ( km/giờ ) Đáp số : 37,5 km/giờ Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 13 / 21 Qua các thao tác hướng dẫn trên, tôi đã hình thành dần kĩ năng giải toán cho học sinh trong các giờ dạy toán đối với tất cả các dạng bài. Từ phương pháp dạy như trên, giáo viên có thể áp dụng với tất cả những loại bài như sau: b)- Chuyển động trên dòng nước: Ta vận dụng theo công thức * Vận tốc xuôi dòng = Vận tốc thực + Vận tốc dòng nước *- Vận tốc ngược dòng = Vận tốc thực – Vận tốc dòng nước * Vận tốc xuôi dòng – Vận tốc ngược dòng = Vận tốc dòng nước nhân với 2 Ví dụ 1 : Một chiếc thuyền có vận tốc khi nước lặng là 12km/giờ. Nếu dòng nước có vận tốc là 3km/giờ. Hãy tính: – Vận tốc khi thuyền xuôi dòng. – Vận tốc của thuyền khi ngược dòng. Hướng dẫn cách giải Yêu cầu học sinh vận dụng công thức để tính – Vận tốc khi thuyền xuôi dòng: 12 + 3 = 15 km/giờ – Vận tốc của thuyền khi ngược dòng: 12 – 3 = 9 km/giờ Đáp số : Xuôi dòng 15 km/giờ Ngược dòng 9 km/giờ Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 14 / 21 Ví dụ 2 : Một chiếc thuyền xuôi dòng từ A đến B với vận tốc 27 km/giờ. Tính vận tốc của thuyền khi ngược dòng, biết vận tốc của thuyền gấp 8 lần vận tốc dòng nước. Hướng dẫn cách giải – Giáo viên : Gọi 1 học sinh đọc đề – Giáo viên : Yêu cầu học sinh gạch 1 gạch dưới yếu tố đề bài cho biết, 2 gạch dưới yếu tố cần tìm. – Giáo viên gợi ý tóm tắt đề toán: Ta có : V xuôi dòng = V thuyền + V dòng nước Theo đề bài ta có sơ đồ: Vận tốc thuyền 27km/ giờ Vận tốc dòng nước – Yêu cầu học sinh tự giải : * Tính vận tốc dòng nước * Tính vận tốc của thuyền * Tính vận tốc khi thuyền ngược dòng. Giải Vận tốc dòng nước: ( 8 + 1 ) = 3 (km/giờ) Vận tốc của thuyền: 27 – 3 = 24 (km/giờ) Vận tốc của thuyền khi ngược dòng: 24 – 3 = 21 (km/giờ) Đáp số: 21 Km/giờ Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 15 / 21 Loại toán chuyển động đều có hai đối tượng chuyển động ( hoặc nhiều hơn): – Chuyển động cùng chiều: Muốn tính thời gian “đuổi kịp” của 2 chuyển động cùng chiều, cùng lúc, ta lấy khoảng cách ban đầu giữa hai chuyển động chia cho hiệu hai vận tốc. t đuổi kịp = v2 s  v1 t đuổi kịp : thời gian để 2 chuyển động gặp nhau S A B v2  C v1  Lưu ý: Khoảng cách S là khoảng cách ban đầu giữa 2 chuyển động khi chúng xuất phát cùng một lúc Ví dụ: Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12 km/giờ. Sau 3 giờ, một xe máy cũng đi từ A đến B với vận tốc 36 km/giờ. Hỏi kể từ lúc xe máy bắt đầu đi, sau bao lâu xe máy đuổi kịp xe đạp? Hướng dẫn cách giải Giáo viên gợi ý học sinh vẽ sơ đồ ghi tóm tắt đề bài. A B C Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 16 / 21   Xe máy Xe đạp Vận tốc xe đạp = 12 km/giờ Vận tốc xe máy = 36 km/giờ Xe máy đuổi kịp xe đạp vào lúc . . . giờ ? -GV : Bài toán thuộc dạng nào ? -GV : Đã biết yếu tố nào ? -GV : Ta có thể sử dụng ngay công thức để tính hay chưa ? Còn phải xác định yếu tố nào ? -GV : Xe đạp đi trước xe máy 3 giờ, đó chính là khoảng cách ban đầu của 2 xe. – Yêu cầu học sinh tự làm bài . – Cách 1 : Quãng đường xe đạp đi trước xe máy là : 12 x 3 = 36 ( km ) Khi 2 xe cùng chạy trên đường thì sau mỗi giờ xe máy gần xe đạp 36 – 12 = 24 ( km/giờ ) Thời gian xe máy đuổi kịp xe đạp là : 36 : 24 = 1,5 ( giờ ) 1,5 giờ = 1 giờ 30 phút Đáp số : 1 giờ 30 phút Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 17 / 21 – Cách 2 : Sau 3 giờ, xe đạp đã cách A một khoảng là : 12 x 3 = 36 ( km ) Xe máy sẽ duổi kịp xe đạp sau thời gian : 36 : (36 – 12) = 1,5 ( giờ ) 1,5 giờ = 1 giờ 30 phút Đáp số : 1 giờ 30 phút b)- Chuyển động ngược chiều : Muốn tính thời gian gặp nhau của 2 chuyển động ngược chiều và cùng lúc ta lấy quảng đường chia cho tổng vận tốc của 2 chuyển động. t gặp nhau = ( v1 A s  v2 ) C v1 B v2 Ví dụ : Quãng đường AB dài 276 km. Hai ô tô khởi hành một lúc, một xe đi từ A đến B với vận tốc 42 km/giờ, một xe đi từ B đến A với vận tốc 50 km/giờ. Hỏi từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ 2 ô tô gặp nhau? Hướng dẫn cách giải – Gọi học sinh đọc đề Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 18 / 21 – Bài toán cho chúng ta biết gì? Hỏi gì? – Bài toán thuộc dạng toán gì? – Yêu cầu học sinh tóm tắt bài toán – Dựa vào công thức tính hai chuyển động ngược chiều và cùng lúc, học sinh sẽ tiến hành giải như sau: Tóm tắt A C B Gặp nhau Ô tô 42 km/giờ Ô tô 50 km/giờ 276 km Bài giải – Cách 1: Sau mỗi giờ, cả 2 ô tô đi được quãng đường 42 + 50 = 92 ( km ) Thời gian đi để 2 ô tô gặp nhau là : 276 : 92 = 3 ( giờ ) Đáp số : 3 giờ – Cách 2 : Thời gian đi để 2 ô tô gặp nhau : 276 : ( 42 + 50 ) = 3 ( giờ ) Đáp số : 3 giờ. Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 19 / 21 Như vậy, dù bài toán “Toán chuyển động đều” hoặc ở dạng toán nào thì điều quan trọng đối với học sinh là phải biết cách tóm tắt đề toán . Nhìn vào tóm tắt xác định đúng dạng toán để tìm chọn phép tính cho phù hợp và trình bày giải đúng. Tất cả những việc làm trên, tôi đều nhằm thực hiện tiết dạy giải toán theo phương pháp đổi mới và rèn kĩ năng cho học sinh để khi giải bất kì loại toán nào các em cũng vận dụng được . IV – KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Với những suy nghĩ và tổ chức thực hiện các hoạt động như trên, bản thân tôi tự đánh giá, khẳng định đã đạt được kết quả như sau: – Đã tự học tập và nâng cao được tay nghề trong việc dạy giải toán nói riêng và cho tất cả các môn học khác nói chung. – Đối với học sinh: Các em đã dần dần hiểu nhanh đề bài, nắm chắc được từng dạng bài , biết cách tóm tắt, biết cách phân tích đề, lập kế hoạch giải, phân tích kiểm tra bài giải, tâm lý ngán ngại môn toán được thay bằng các hoạt động thi đua học tập sôi nổi, hứng thú. Các điển hình “làm tính nhanh”, “làm tính đúng” là điều không thể thiếu trong tiết học. Cụ thể kết quả kiểm tra môn toán của lớp 5/2 năm học 2007 – 2008 là: Tổng số học sinh 40 / 17 Thời gian kiểm tra Tóm tắt bài toán Chọn và thực hiện phép tính đúng Đạt Chưa đạt Đúng Sai Giữa kì I 28 = 70% 12 = 30% 30 = 75% 10 = 25% Cuối kì I 33 = 82.5% 07 = 17,5% 35 = 87,5% 05 = 12,5% Giữa kì II 36 = 90% 04 = 10% 38 = 95% 02 = 05% Sáng kiến kinh nghiệm: ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5″ Trang : 20 / 21

Bạn đang xem bài viết Tài Liệu Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7 trên website Caffebenevietnam.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!