Đề Tài: Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Hướng Dẫn Hs Lớp 7 Giải Bài Toán Chứng Minh Hình Học Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Day Hoc Hh 7 Bang Pp Phan Tich Nguoc Doc
  • Tài Liệu Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7
  • Dạng Bài Tập Chứng Minh Quan Hệ Chia Hết
  • Bài Tập 68,69, 70,71,72 Trang 34,35 Toán Lớp 7 Tập 1: Luyện Tập Số Thập Phân Hữu Hạn. Số Thập Phân Vô Hạn Tuần Hoàn
  • Giải Toán Lớp 7 Bài 5: Tính Chất Tia Phân Giác Của Một Góc
  • ĐỀ TÀI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM LỜI GIẢI CHO BÀI TOÁN CHỨNG MINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NGƯỢC TRONG MÔN HÌNH HỌC LỚP 7 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn chuyên đề: Trong chương trình hình học THCS các bài tập yêu cầu chứng minh chiếm tỉ lệ lớn nên yêu cầu giáo viên giảng dạy cần hướng dẫn học sinh tìm cách chứng minh bài toán chứ không đơn thuần là giúp học sinh có được lời giải bài toán. Thông qua việc hướng dẫn của giáo viên giúp học sinh tự đúc kết được phương pháp chứng minh, tiến tới có được phương pháp học tập bộ môn hình học. Với chương trình hình học 6, học sinh mới chỉ làm quen với các khái niệm mở đầu về hình học. Học sinh được tiếp cận kiến thức bằng con đường quy nạp không hoàn toàn, từ quan sát, thử nghiệm, đo đạc, vẽ hình để đi dần đến kiến thức mới. Học sinh nhận thức các hình và mối liên hệ giữa chúng bằng mô tả trực quan với sự hỗ trợ của trực giác, của tưởng tượng là chủ yếu. Lên lớp 7 học sinh bước đầu làm quen với các mối quan hệ vuông góc, song song, bằng nhau… Với yêu cầu về kĩ năng từ thấp đến cao đòi hỏi phải có sự suy luận lôgíc hợp lý, khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác thông qua các bài tập chứng minh. Việc làm quen và tiếp cận với bài toán chứng minh đối với học sinh lớp 7 còn mới mẻ nên đại đa số học sinh chưa biết chứng minh như thế nào và bắt đầu từ đâu. Nếu vấn đề này không được khắc phục ngay từ lớp 7 thì HS sẽ không thể tiếp thu được kiến thức hình học ở các lớp trên. Do vậy vai trò của giáo viên giảng dạy lúc này rất quan trọng. Giáo viên là người hướng dẫn, phân tích giúp học sinh tìm ra cách chứng minh bài toán hình học từ đó hình thành kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức và kĩ năng trình bày lời giải. Từ đó hình thành phương pháp học toán cho HS. Với các lý do trên nên tôi chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán chứng minh bằng phương pháp phân tích ngược trong môn hình học lớp 7”. 2. Cơ sở lí luận của đề tài: Trong trường THCS môn toán được coi là môn khoa học luôn được chú trọng nhất và cũng là môn có nhiều khái niệm trừu tượng. Đặc biệt phải khẳng định là phân môn hình học có nhiều khỏi niệm trừu tượng nhất, kiến thức trong bài tập lại phong phú, rất nhiều so với nội dung lý thuyết mới học. Bên cạnh đó yêu cầu bài tập lại cao, nhiều bài toán ở dạng chứng minh đòi hỏi phải suy diễn chặt chẽ lô gíc và có trình tự. SGK hình học 7, các kiến thức được trình bày theo con đường kết hợp trực quan và suy diễn, lập luận. Bằng đo dạc, vẽ hình, gấp hình, quan sát …học sinh dự đoán các kết luận hình học và tiếp cận các định lý. Nhờ đó giúp HS có hứng thú học tập, chịu khó tìm tòi khám phá kiến thức. Sách giáo khoa hình học 7 tiếp tục bổ sung kiến thức mở đầu của hình học phẳng lớp 6. làm quen với các khái niệm mới: Hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song, quan hệ bằng nhau của hai tam giác, tam giác cân, tam giác đều, định lí Pitago, quan hệ giữa các yếu tố trong tam giác, các đường đồng quy trong tam giác. Chương trình hình học 7 là bước chuyển tiếp quan trọng về tư duy để giúp HS học tốt được chương trình hình học 8 và 9. Hệ thống các bài tập đa dạng phong phú được thể hiện dưới nhiều hình thức, phần lớn là các bài tập chứng minh, từ đó đòi hỏi HS phải có phương pháp phân tích hợp lí để tìm được lời giải cho bài toán. Vì vậy việc hướng dẫn học sinh cách phân tích tìm lời giải cho bài toán là hết sức quan trọng để khơi dậy hứng thú học tập, giúp học sinh học toán nhẹ nhàng hào hứng, đạt kết quả tốt hơn. 3. Cơ sở thực tiễn của chuyên đề a)Đối với giáo viên: Cơ bản là có tinh thần tự bồi dưỡng thường xuyên, liên tục để nâng cao trỡnh độ chuyên môn nghệp vụ. Có trách nhiệm đối với học sinh, đối với trường lớp Phương pháp giảng dạy đó có sự đổi mới hơn theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, từng bước áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ giáo viên còn lúng túng trong việc phân tích, hướng dẫn cho HS tìm ra lời giải cho bài toán. GV thường phân tích xuôi chiều từ giả thiết đến kết luận, khiến HS không hiểu tại sao và nguyên nhân nào đưa đến lời giải của bài toán vì thế không vận dụng được vào giải các bài toán khác, do đó HS không biết cách học toán, cụ thể là cách suy nghĩ để tìm lời giải cho một bài toán. Đặc biệt là các bài toán chứng minh trong môn hình học, khiến HS tiếp thu một cách thụ động, thiếu tự nhiên, thiếu tính sáng tạo, dẫn đến kết quả học tập thấp. b)Đối với học sinh: Một bộ phận học sinh, khoảng 20% rất tích cực học tập, rèn luyện, có động cơ học tập đúng đắn nên đó c kết quả học tập tốt. Một bộ phận lớn học sinh, khoảng 35% cú kết quả học tập trung bình, trong số này có khoảng 15% nếu có phương pháp học phù hợp thì sẽ đạt mức khá . Số còn lại (45%) học yếu, trên lớp hầu như không tiếp thu được bài học,. trong đó phần lớn là do các em không có phương pháp học toán phù hợp, không có kĩ năng phân tích, tìm lời giải cho bài toán. Qua tìm hiểu tôi thấy nguyên nhân do trong quá trình dạy học thầy cô giáo chưa hướng dẫn học sinh phương pháp học tập đúng đắn, các hình thức tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ học chưa phong phú nên chưa kích thích được học sinh hứng thú học tập. II. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng của chuyên đề: 1.Mục tiêu Thông qua chuyên đề tôi muốn trao đổi thêm về phương pháp giảng dạy hình học 7 để có hiệu quả giảng dạy cao nhất. Giúp cho học sinh có hướng suy nghĩ tìm tòi lời giải cho một bài toán chứng minh hình học, nhằm dần hình thành kĩ năng phân tích, tổng hợp kiến thức, Giúp phát triển tư duy và rèn khả năng tự học cho HS, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 2.Phạm vi Có rất nhiều con đường, nhiều phương pháp để tìm lời giải cho một bài toán hình học, nhưng vì điều kiện thời gian chuyên đề chỉ đề cập đến một phương pháp quan trọng và phổ biến trong việc tìm cách chứng minh bài toán hình học: Phương pháp phân tích ngược trong môn hình học 7. 3. Đối tượng HS khối 7, môn hình học 7. III.NỘI DUNG 1. Các bài toán chứng minh trong hình học 7 thường gồm: – Chứng minh bằng nhau: Đoạn thẳng bằng nhau, góc bằng nhau, tam giác bằng nhau…ứng dụng để: So sánh góc, đoạn thẳng, CM trung điểm của đoạn thẳng, tia phân giác của góc… – Chứng minh song song: – Chứng minh vuông góc. – Chứng minh thẳng hàng. – Chứng minh các đường thẳng đồng quy – Chứng minh các yếu tố cố định,…. 2. Phương pháp chung để tìm lời giải bài toán a) Tìm hiểu nội dung bài toán + Giả thiết là gì? Kết luận là gì? Hình vẽ minh họa ra sao? Sử dụng kí hiệu như thế nào? + Phát biểu bài toán dưới những dạng khác nhau để hiểu rõ bài toán. + Dạng toán nào? + Kiến thức cơ bản cần có là gì? b) Xây dựng chương trình giải: Chỉ rõ các bước giải theo một trình tự thích hợp. c) Thực hiện chương trình giải: Trình bày bài làm theo các bước đã được chỉ ra. Chú ý các sai lầm thường gặp trong tính toán, biến đổi. d) Kiểm tra và nghiên cứu lời giải + Xem xét có sai lầm không, có phải biện luận kết quả không + Nghiên cứu bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn để,… 3. Phương pháp chứng minh bài toán hình học theo hướng phân tích đi lên * Ngoài việc tuân thủ theo bốn bước chung, ta đi sâu vào hai bước: Tìm hiểu và xây dựng chương trình giải. – Bài toán yêu cầu phải chứng minh điều gì? ( Kết luận A) – Đề chứng được kết luận A ta phải chứng minh được điều gì? ( Kết Luận X) – Để chứng minh được kết luận X ta dựa vào dấu hiệu nào, chứng minh điều gì? ( Kết luân Y)…. -Quá trình phân tích trên dừng lại khi đã sử dụng được giả thiết của bài toán và các kiến thức đã học trước đó. Sơ đồ phân tích bài toán như sau: Để chứng minh A Phải cm X Phải cm Y Phải cm …. Phải cm Z (CM được từ GT) Lưu ý: Khi trình bày lời giải, học sinh phải tiến hành theo hướng ngược lại. 4. Kết quả đạt được sau khi thực hiện chuyên đề Trước khi xây dựng chuyên đề này tôi tiến hành khảo sát học sinh khối 7 về chứng minh bài toán hình học, kết quả là: Số lượng học sinh được kiểm tra Tỉ lệ học sinh biết chứng minh (mức độ chuẩn KTKN) 67 35 HS chiếm 52,2% Sau khi thực hiện chuyên đề kết quả đạt được như sau: Số lượng học sinh được kiểm tra Tỉ lệ học sinh biết chứng minh (mức độ chuẩn KTKN) 67 47 HS chiếm 70,1% 5. Các ví dụ cụ thể: Ví dụ 1: Cho tam giác ABC, M là trung điểm của BC. Trên tia đối của tia MA lấy điểm E sao cho ME = MA. Chứng minh rằng AB = CE AC // BE. Hướng dẫn tìm lời giải: Sau khi hướng dẫn học sinh vẽ hình và ghi gt, kl giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau: Để chứng minh AB = CE ta phải chứng minh điều gì? ( GV gợi ý: Dựa vào các tam giác bằng nhau có chứa hai cạnh là hai đoạn thẳng trên). ( ) Từ GT ta đã CM được hai tam giác trên bằng nhau chưa? tại sao? ( (c – g – c)) Sau đó giáo viên cho học sinh trình bày theo hướng ngược lại Để chứng minh hai đường thẳng song song ta dựa vào các dấu hiệu nào? ( Học sinh nêu các dấu hiệu – giáo viên hướng cho học sinh nên sử dụng cặp góc so le trong bằng nhau). Để chứng minh AC//BE Ta chứng minh cặp góc nào bằng nhau? ( góc CAE bằng góc BEA hoặc góc ACB bằng góc CBE). Muốn chứng minh góc ACB bằng góc CBE ta chứng minh hai tam giác nào bằng nhau?( ) Từ GT ta đã CM được hai tam giác trên bằng nhau chưa ? Tại sao? ( (c – g – c)). Sau đó học sinh trình bày cách chứng minh theo hướng ngược lại. Sơ đồ phân tích: AC // BE à c/m góc ACB bằng góc CBEàc/m Ví dụ 2: Cho tam giác ABC, K là trung điểm của BC. Trên nửa mặt phẳng bờ AC không chứa điểm B kẻ Ax vuông góc với AC và lấy M Ax sao cho AM = AC. Trên nửa mặt phẳng bờ là đường thẳng AB không chứa điểm C kẻ Ay vuông góc với AB và lấy N thuộc Ay sao cho AN = AB. Lấy P trên tia đối của tia KA sao cho AK = KP. CMR: AC//BP AK MN. Hướng dẫn tìm lời giải. Giáo viên cho học sinh vẽ hình ghi GT, KL a) Hướng dẫn như VD 1: b) GV: Hai tam giác đã có những yếu tố nào bằng nhau? (c-c) Ta sẽ CM hai tam giác bằng nhau theo trường hợp nào? Khi đó cần CM thêm điều kiện gì? () – Góc MAN và góc BAC có quan hệ gì với nhau? (bù nhau) Vậy để CM: ta phải CM đều gì? (Góc ABP và góc BAC bù nhau) – Ta CM được góc ABP và góc BAC bù nhau dựa vào yếu tố nào? (AC//BP) – Sơ đồ phân tích: Để CM DMAN=DBPA (CM được từ AC//BP c) Giáo viên hướng dân học sinh chứng minh bằng hệ thống câu hỏi như sau: – Muốn chứng minh hai đường thẳng vuông góc ta dựa vào các dấu hiệu nào ( Học sinh nhớ lại các dấu hiệu đã học ) – Giáo viên hướng cho học sinh sử dụng dấu hiệu hai đường thẳng cắt nhau tạo thành một góc vuông). -Nếu gọi H là giao điểm của AK và MN thì để chứng minh AK MN ta phải chỉ ra điều gì? ( hoặc ). Hãy chỉ ra các cách chứng minh (HS nêu: hoăc ). – Giáo viên hướng cho học sinh chứng minh . Tính ( = 900). Vậy để chứng tỏ ta phải chỉ ra được góc N và góc A2 cos quan hệ gí với nhau? ( bằng nhau). CM được vì: . Sơ đồ phân tích: Để CM AK^MN(CM được vì ) Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày lời giải bài toán trên theo hướng ngược lại Ví dụ 3. Cho tam giác ABC, các điểm D, E lần lượt là trung điểm của các cạnh AB, AC. Trên đường thẳng DE lấy điểm F sao cho E là trung điểm của DF. CMR: BD=CF DE//BC Sơ đồ phân tích. a) Để CM BD=CF (CM được từ GT) b) Cách1: Để CM DE//BC Cách 2: Để CM DE//BC (CM được từ GT và phần a.) Ví dụ 4: Cho hai đoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại trung điểm O của mỗi đoạn. Trên các cạnh AC và BD lần lượt lấy các điểm E, F sao cho AE=BF. CMR các điểm E, O, F thẳng hàng. Sơ đồ phân tích: CM: E, O, F thẳng hàng (CM được vì GT) Ví dụ 5: Tam giác ABC cân tại A. Phân giác của góc A cắt cạnh BC tại D. M là một điểm nằm giữa A, D. CMR: DBMD = DCMD. Sơ đồ phân tích: Để CM DBMD=DCMD ( CM từ GT) Ví dụ 6. Cho Tam giác ABC, đường cao AH. Vẽ ra phía ngoài của tam giác các tam giác vuông cân ABD, ACE (). Qua điểm C vã đường thẳng vuông góc với BE, cắt đường thẳng HA tại K. CMR các đường thẳng AH, BE, CD đồng quy. Sơ đồ phân tích. Để CM: AH, BE, CD đồng quy taCM: CD chứa đường cao của DBKC. Ví dụ 7. Tam giác ABC có góc A bằng 900 và AB=AC. Qua A kẻ đường thẳng xy sao cho xy không cắt đoạn Thẳng BC. Kẻ BD và CE vuông góc với xy. CMR: DE=BD+CE Sơ đồ phân tích. Để CM: DE=BD+CE Ta CM: (CM được từ GT) Bằng cách làm tương tự giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chứng minh nhiều bài tập chứng minh khác bằng cách phân tích ngược như trên. Các ví dụ cụ thể được minh hoa trong tiết dạy như sau: TIẾT 33: LUYỆN TẬP VỀ BA TRƯỜNG HỢP BẰNG NHAU CỦA TAM GIÁC . Nội dung bài dạy được thể hiện như sau: Dạng1: Chứng minh đoạn thẳng bằng nhau, góc bằng nhau Bài1.Cho DABC có AB=AC. Chứng minh rằng góc B bằng góc C Giáo viên cho học sinh vẽ hình ghi GT,KL và tìm hướng chứng minh của bài toán. Theo hệ thống câu hỏi Góc B và Góc C trong cùng 1 tam gíac, lại chưa biết số đo Vậy muốn c/m ta nên làm thế nào? ( HS Tạo ra hai tam giác chứa hai góc đó bằng cách kẻ thêm đường phụ) GV: Yêu cầu học sinh chứng minh hai tam giác đó bằng nhau theo nhóm. Bài 2. Cho góc xOy khác góc bẹt Ot là tia phân giác của góc xOy, trên tia Ot lấy điểm H. Kẻ đường thẳng vuông góc với Ot tại H, đường thẳng này cắt tia Ox, Oy lần lựt tại A và B. a) CMR: 0A=0B b) Trên tia Ot lấy điểm C. Chứmg minh Ot là đường phângiác của góc ACB. GV: cho học sinh ghi GT; KL và chứng minh phân phần a) . b) GV: Hướng dẫn bằng hệ thống câu hỏi: – Để C/m Ot là đường phân giác của góc ACB ta phải chứng điều gì? ( HS : góc ACH bằng góc BCH) -Muốn chỉ ra góc ACH bằng góc BCH Ta làm như thế nào? HS: hoặc Hai tam giác trên bằng nhau chưa? tai sao? GV: Trình chiếu lời giải chi tiết của bài toán Giáo viên chốt lại sơ đồ tìm hướng chứng minh phần b) như sau: Ot là phân giác của góc ACB -à à hoặc Dạng2: Chứng minh quan hệ vuông góc, song song của hai đường thẳng. Bài 3. Cho hình vẽ, Biết AB=CD, BC=AD. Chứng minh rằng AB//CD Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm cách chứng minh tương tự như ví du 1: của chuyên đề. Bài 4. Cho DABC nhọn có AB=AC, D là trung điểm của BC a) CMR: AD^BC b) Kẻ BM^AC, CN^AB (MÎAC, NÎAB) Chứng minh b1) AN=AM b2) MN//BC c)BM cắt CN tại H, chứng minh ba điểm A, H, D cùng thuộc một đườngthẳng – GV: Đưa hình vẽ lên màn hình – HS: Ghi GT, KL trên bảng Hướng dẫn học sinh chứng minh phần a, b a) GV: Nếu AD^BC, khi đó hãy so sánh hai góc ADB và ADC – HS: Hai góc ADB và ADC bằng nhau – GV: Khi đó Hai tam giác ADB và ADC có quan hệ với nhau ntn? – HS: hai tam giác bằng nhau (c-g-c) – GV cho một HS trình bày trên bảng theo hướng ngược lại. b) GV: AM=AN Khi nào – HS: Khi BN=CM. – GV: BN=CM khi nào? – HS: Hai tam giác BNC và CMB bằng nhau. – GV: Hai tam giác BNC và CMB bằng nhau theo trường hợp nào? – HS: Hai tam giác BNC và CMB bằng nhau (cạnh huyền- góc nhọn) (Sử dụng kết quả bài 1) GV: MN//BC khi nào? HS: MN//BC khi GV yêu cầu HS về nhà trình bày bài làm vào vở. phát triển phần c theo hướng sau: Ở phần a ta đã chứng minh được AD BC nên cần chứng minh AH BC. -Mà theo b) MN // BC nên cần chứng minh AH MN thì AH BC. Vì qua H chỉ có một đường thẳng vuông góc với BC nên A, H, D cùng thuộc một đường thẳng 6.Các bài toán áp dụng Bài 1. Cho đoạn thẳng AB bằng 4cm. Vẽ các đường tròn tâm A, bán kính 2cm và đường tròn tâm B bán kính 3cm. Chúng cắt nhau tại C và D. CMR: AB là tia phân giác của góc CAD Bài 2. Cho tam giác ABC, các đường cao AD, BE, CF cắt nhau taị H. Gọi M, N, P lần lượt là trung điểm của các cạnh BC, EF, AH. CMR các điểm M, N, P thẳng hàng. Bài 3. Tam giác ABC có các tia phân giác của các góc B và C cắt nhau tại O. Từ A vẽ đường thẳng vuông góc với OA, cắt các tia BO, CD lần lượt tại M và N. CMR: BM^BN, CM^CN. Bài 4. M là một điểm thuộc đoạn thẳng AB. Trên cùng nửa mặt phẳng bờ AB vẽ các tam giác đều AMC, BMD. E, F là trung điểm của AD, BC. CMR tam giác MEF đều. Bài 5. Cho tam giác ABC trên tia BA lấy điểm M, trên tia CA lấy điểm N, sao cho BM + CN = BC. CMR đường trung trực của MN luôn đi qua một điểm cố định. Bài 6. Tam giác ABC cân tại A, đường cao BE, trung tuyến AM. Trên tia BA lấy điểm F sao cho BF = CE. CMR các đường thẳng BE, CF, AM đồng quy Bài 7. Cho tam giác đều ABC, trên các cạnh AB, BC, CA lần lượt lấy các điểm M, N, P sao cho AM = BN = CP a) CMR tam giác MNP đều. b) Gọi O là giao điểm các đường trung trực của tan giác ABC. CMR: O cũng là giao điểm của ba đường trung trực của tam giác MNP. Bài 8. Cho góc nhọn xOy. Các điểm A, B lần lượt thuộc các tia Ox, Oy, sao cho OA=OB. Từ A kẻ đường thẳng vuông góc với tia Ox, cắt tia Oy ở E. Từ B kể đường thẳng vuông góc với tia Oy cắt tia Ox tại F, AE và BF cắt nhau tại I. CMR: a) DAFI = DBEI b) OI là tia phân giác của góc AOB. IV. KẾT LUẬN 1.Biện pháp thực hiện Giáo viên phải thấy được tầm quan trọng của việc hướng dẫn HS phân tích, tìm lời giải bài toán chứng minh hình học bằng phương pháp phân tích ngược. Từ đó tuôn thủ và áp dụng phương pháp vào giảng dạy trong các tiết học của môn hình học 7, để HS biết cách học toán, từ đó các có thể tự đọc và tự học. Nghiên cứu nội dung, chương trình Toán THCS, xác định rõ chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học để từ đó áp dụng chuyên đề ở mức độ yêu cầu phù hợp với mỗi đơn vị kiến thức. Cung cấp cho HS sơ đồ phân tích ngược trong các bài toán chứng minh hình học, hướng dẫn tỉ mỉ để các em biết cách lập sơ đồ cho bài toán. Bằng các bài toán cụ thể giúp HS thấy được ý nghĩa và tác dụng của phương pháp phân tích ngược. Phân loại đối tượng học sinh thành nhiều nhóm (Chia theo năng lực nhận thức). Nhóm giỏi: Tăng cường bồi dưỡng, phân công các em này phụ trách giúp đỡ các em yếu kém vươn lên trong học tập Nhóm khá: Tôi khuyến khích các em tự học, tự bồi dưỡng, làm thêm các bài toán khó ỏ các sách tham khảo của bộ GD. Tăng tính chủ động cho các em trong học tập Nhóm TB, yếu: Tổ chức dạy phụ đạo thêm, trú trọng dạy phương pháp học toán, dạy hướng suy nghĩ để tìm lời giải cho bài toán, tạo cho cacc em niềm tin vào bản thân, xây dựng cho các em động cơ phấn đấu trong học tập môn toán. Tổ chức các phong trào thi đua học tập trong lớp, trong trường như: Hành quân bằng điểm số, thi đạt nhiều bông hoa điểm tốt chào mừng các ngày lễ lớn… Lập hồ sơ theo dõi mức độ tiến bộ của từng học sinh để có kế hoạch điều chỉnh cách dạy cho phù hợp. 2. Kết luận chung Việc tìm được lời giải của bài toán chứng minh hình học không phải là đơn giản và không có một quy trình sẵn có nên đòi hỏi trong quá trình dạy học giáo viên phải thường xuyên chú ý đến các phương pháp hướng dẫn học sinh tìm tòi cách chứng minh bài toán. Qua đó rèn kĩ năng phân tích tổng hợp, tư duy lôgíc và kĩ năng trình bày bài giải. Đối với học sinh lớp 7 kĩ năng trên sẽ từng bước được hoàn thiện dần về sau và ở các lớp trên. Giáo viên có thể áp dụng chuyên đề đối với chương trình hình học các lớp 8,9. Giáo viên có thể tăng thêm hệ thống các bài tập khó hơn và đa dạng hơn để làm chuyên đề bồi dưỡng HS khá, giỏi. Khi viết chuyên đề tôi đã cố gắng nghiên cứu lí luận, căn cứ nội dung chương trình và thực trạng về thầy và trò của trường THCS An Nông, đã có những thành công khi áp dụng trong thực tế, song cũng không tránh khỏi những thiếu sót do kinh nghiệm và năng lực còn hạn chế. Rất mong được qúy thầy cô góp ý để đề tài hoàn thiện hơn. Giao Thủy, ngày 15/ 03/2013. Người viết chuyên đề Phạm Thị Nhài PHỤ LỤC Tài liệu tham khảo – Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách kiểm tra đánh giá – NXBGD – Sách giáo viên toán 7, sách giáo khoa tóan 7, sách bài tập toán 7, sách nâng cao và phát triển toán7, sách bài tập nâng cao và một số chuyên đề toán 7 và một số loại sách tham khảo khác. 2. Các từ viết tắt – Giáo viên: “GV” – Học sinh: “HS” – Chứng minh: “CM” -Trung học cơ sở: “THCS” MỤC LỤC Trang I. Đặt vấn đề 1. Lí do chọn chuyên đề 3 2. Cơ sở lí luận 4 3. Cơ sở thực tiễn 4 II. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng của chuyên đề: 1. Mục tiêu 5 2. Phạm vi 5 3. Đối tượng 6 III. Nội dung 1. Các bài toán chứng minh trong hình học 7 thường gồm 6 2. Phương pháp chung để tìm lời giải bài toán 6 3. Phương pháp chứng minh bài toán hình học theo hướng phân tích đi lên 6 4. Kết quả đạt được sau khi thực hiện chuyên đề 7 5. Các ví dụ cụ thể 7 6. Các bài toán áp dụng 14 IV. Kết luận 1. Biện pháp thực hiện 15 2. Kết luận 15 Xác nhận, đánh giá của trường THCS Hồng Thuận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Toán Lớp 7 Bài 2: Bảng Tần Số Các Giá Trị Của Dấu Hiệu
  • Sử Dụng Định Lí Tổng Ba Góc Giải Bài Toán Chứng Minh Hình Học 7
  • Giải Toán 7 Bài 7: Định Lí
  • Một Số Bài Toán Về Đại Lượng Tỉ Lệ Nghịch Trong Toán Lớp 7
  • Giải Bài Tập Sgk Toán Lớp 7 Bài 4: Một Số Bài Toán Về Đại Lượng Tỉ Lệ Nghịch
  • Đề Tài Hướng Dẫn Học Sinh Lớp 2 Giải Bài Toán Có Lời Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giải Toán Tìm X Lớp 2
  • Ôn Tập Giải Toán Có Lời Văn Lớp 2
  • Ôn Tập Giải Toán Có Lời Văn Lớp 2 On Tap Giai Toan Co Loi Van Lop 2 Doc
  • 40 Bài Toán Đếm Hình Lớp 1
  • Bài Toán Giải Bằng Hai Phép Tính
  • Hiện nay trong các trường đã và đang vận dụng phương pháp dạy học đổi mới, đó là cách dạy hướng vào người học hay còn gọi là “Lấy HS làm trung tâm” người thầy là người hướng dẫn chỉ đạo trong quá trình chiến lĩnh kiến thức của HS, với các môn học nói chung và môn Toán nói riêng. Để vận dụng tốt được cách dạy học mới này đòi hỏi người GV phải tâm huyết với nghề, phải dày công nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp với đối tượng HS mình dạy.

    Qua xem xét và nghiên cứu thực tế dạy học toán có lời văn của khối lớp 2 trường Tiểu học số 1 Kim Sơn. Tôi thấy chỉ được khoảng 40% HS biết giải toán, còn 60% học sinh rất lơ mơ, lúng túng khi HS phải đứng trước một bài toán có lời giải.

    Dạy học toán có lời văn là một bộ phận kiến thức toán học hoàn chỉnh cho HS tiểu học. Mỗi bài toán có lời văn là một tình huống có vấn đề buộc các em phải tư duy, suy luận và phân tích tổng hợp để giải quyết vấn đề.

    Nếu các em làm tốt được bài toán thì những vấn đề mà các em gặp phải trong cuộc sống sẽ được các em vận dụng toán học để tìm ra giải pháp giải quyết tình huống. Bởi vậy, việc dạy học giải toán cần được xác định rõ ràng ngay từ những lớp đầu cấp về mục đính yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học.

    Qua giảng dạy thực tế của lớp 2 vài năm trước (năm học 2006-2007) tôi thấy HS gặp rất nhiều khó khăn về tính toán, tư duy, kĩ năng trong việc giải bài toán có lời văn. Chính vì những lý do trên bản thân tôi chọn kinh nghiệm: “Hướng dẫn học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn”.

    PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay trong các trường đã và đang vận dụng phương pháp dạy học đổi mới, đó là cách dạy hướng vào người học hay còn gọi là "Lấy HS làm trung tâm" người thầy là người hướng dẫn chỉ đạo trong quá trình chiến lĩnh kiến thức của HS, với các môn học nói chung và môn Toán nói riêng. Để vận dụng tốt được cách dạy học mới này đòi hỏi người GV phải tâm huyết với nghề, phải dày công nghiên cứu tìm ra giải pháp thích hợp với đối tượng HS mình dạy. Qua xem xét và nghiên cứu thực tế dạy học toán có lời văn của khối lớp 2 trường Tiểu học số 1 Kim Sơn. Tôi thấy chỉ được khoảng 40% HS biết giải toán, còn 60% học sinh rất lơ mơ, lúng túng khi HS phải đứng trước một bài toán có lời giải. Dạy học toán có lời văn là một bộ phận kiến thức toán học hoàn chỉnh cho HS tiểu học. Mỗi bài toán có lời văn là một tình huống có vấn đề buộc các em phải tư duy, suy luận và phân tích tổng hợp để giải quyết vấn đề. Nếu các em làm tốt được bài toán thì những vấn đề mà các em gặp phải trong cuộc sống sẽ được các em vận dụng toán học để tìm ra giải pháp giải quyết tình huống. Bởi vậy, việc dạy học giải toán cần được xác định rõ ràng ngay từ những lớp đầu cấp về mục đính yêu cầu, nội dung và phương pháp dạy học. Qua giảng dạy thực tế của lớp 2 vài năm trước (năm học 2006-2007) tôi thấy HS gặp rất nhiều khó khăn về tính toán, tư duy, kĩ năng trong việc giải bài toán có lời văn. Chính vì những lý do trên bản thân tôi chọn kinh nghiệm: "Hướng dẫn học sinh lớp 2 giải bài toán có lời văn". PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. I. Đặc điểm tình hình nhà trường, lớp 1. Khái quát chung Trường Tiểu học Sủng Trà, nằm cách trung tâm huyện lị khoảng 8km. Đây là trường vùng cao đặc biệt khó khăn, gồm 9 điểm trường: chủ yếu là dân tộc Mông. 2. Thuận lợi, khó khăn * Thuận lợi : - Phần đông các em có nhà gần trường, tỉ lệ đi học chuyên cần cao. - Ngôn ngữ của các em khi nói tiếng phổ thông là tương đối tốt. - Điều kiện cơ sở vật chất của trường lớp tương đối khang trang, lớp cón đủ điều kiện cho các em học tập. * Khó khăn: - Hầu hết phụ huynh học sinh làm nghề nông đa số gia đình các em có hoàn cảnh khó khăn nên chưa có điều kiện quan tâm đến học sinh, chưa coi trọng việc học mà chỉ cho rằng học để biết chữ, chưa dành nhiều thời gian cho các em học tập. - Đa số nhà các em chưa có góc học tập riêng, nếu có thì cũng chưa đúng quy cách, nhiều em phải nằm, ngồi trên giường khi học bài, viết bài. - Phần đa các em học tập trên lớp, về nhà các em không có thời gian học bài và phụ huynh học sinh không đôn đốc các em tự học, thậm trí nhiều phụ huynh không biết chữ nển khó khăn cho việc dạy bảo các em. - Các em là dân tộc nên ảnh hưởng nhiều của tiếng mẹ đẻ. - Nhận thức của các em còn chậm. II. Thực trạng của vấn đề Việc dạy toán ở tiểu học mà đặc biệt là ở lớp 2 được hình thành chủ yếu là thực hành, luyện tập thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống, song trong thực tế dự giờ, thăm lớp, tôi thấy giáo viên dạy cho HS giải toán có lời văn thường theo các hình thức sau: + HS đọc đề bài 1, 2 lần. + GV tóm tắt lên bảng. + Sử dụng một vài câu hỏi gợi ý để trả lời, sau đó GV gọi 1HS khá lên bảng giải bài toán. - HS đọc đề bài 1, 2 lần. GV đặt câu hỏi: - Bài toán cho biết gì? - Ta phải đi tìm cái gì? - Ta phải làm phép tính gì? Em nào xung phong lên bảng làm bài? - HS lên bảng làm bài xong GV kiểm tra, sửa chữa hoặc bổ sung. Tôi thấy 2 hình thức vừa nêu ở trên chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả HS giải toán có lời văn đạt chất lượng thấp trong nhà trường. Chính cách dạy trên đã hạn chế khả năng tư duy của HS, không phát huy được năng lực cho các em trong việc giải toán. Vì vậy nên chất lượng của một số lớp đặc biệt là khối lớp 2 chỉ chiến 40% HS biết giải toán, trong đó giải thành thạo chỉ chiến từ 5- 8%. Phần lớn khi các em đứng trước một bài toán các em chỉ đọc sơ sài 1, 2 lần đề bài rồi áp dụng các thao tác theo bài thầy giảng dạy để giải. Ví dụ: Bài toán 4 trong SGK Toán 2 (trang 33) Mẹ mua vè 26kg vừa gạo nếp vừa gạo tẻ, trong đó có 16kg gạo tẻ. Hỏi mẹ mua về bao nhiêu ki-lô-gam gạo nếp? Bài giải: 26 - 16 = 10(kg) Đáp số: 10 kg. - Nguyên nhân là các em không hiểu hết các tự quan trọng trong bài toán để phân tích, suy luận tìm ra cách giải. Bởi vì toán có lời văn thì các em phải hiểu lời văn thì mới làm phép tính đúng. Khi làm phép tính thì phải hiểu lời giải này trả lời cho câu hỏi nào, lý do chính đó đã làm cho các em tính sai. - Bên cạnh đó còn cộng thêm vốn Tiếng Việt của các em còn hạn chế. Vì vậy khi gặp bài toán hợp các em chưa biết tư duy phân tích để tìm lời giải rồi đưa về một bài toán hợp giải hoàn chỉnh yêu cầu của đề bài. Những lý do và nguyên nhân trên khiến các em rất lo sợ khi học toán đặc biệt là những bài toán có lời văn. - Qua đề tài, này tôi hi vọng giúp cho GV đang giảng dạy ở lớp 2 trường Tiểu học vùng cao của huyện Mèo Vạc sử dụng có hiệu quả phương pháp giải toán có lời văn với nội dung thực tế gần gũi với cuộc sống HS, trong đó có các loại toán sau: 1. Bài toán về nhiều hơn. 2. Bài toán vè ít hơn. 3. Tìm một số hạng trong một tổng. * Một số bài toán nâng cao lớp 2. - Biết trình bày bài giải đầy đủ các câu trả lời giải, các phép tính và đáp án. III. Biện pháp khắc phục Để khắc phục được tình trạng giải toán trên tôi tôi tiến hành theo 5 bước: * Bước 1. Tìm hiểu nội dung bài toán: - Thông qua việc đọc bài toán, HS phải đọc kĩ để hiểu rõ bài toán cho biết gì? cho biết điều kiện gì? Bài toán hỏi cái gì? Khi đọc bài toán phải hiểu thật rõ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống quan trọng chỉ rõ tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường sau đó HS "thuật lại" vắn tắt bài toán mà không cần đọc lại nguyên văn bài, đó là bước 1. * Bước 2. Tóm tắt bài toán: Là bước quan trọng để thể hiện phần trọng tâm và toát lên những cái phải tìm của đề bài. * Bước 3. Tìm tòi cách giải bài toán: Gắn liền với việc phân tích các giữ liệu, điều kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác lập mối liên hrệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp. - Minh hoạ bài toán bằng tóm tắt đề toán, dùng sơ đồ hoặc dùng mẫu thích hợp, tranh, ảnh... - Lập kế hoạch giải bài toán, có hai hình thức thể hiện: Đi từ câu hỏi của bài toán đến các số liệu, hoặc đi từ số liệu đến các câu hỏi của bài toán. Ví dụ: Lan hái được 24 bông hoa, Liên hái được nhiều hơn Lan 16 bông hoa. Hỏi Liên hái được bao nhiêu bông hoa? - Xuất phát của bài toán đến dữ kiện: + Bài toán hỏi gì? (Liên có bao nhiêu bông hoa?) + Có thể biết ngay chưa? + Vì sao? + Có thể biết được số hoa Liên hái được nhiều hơn Lan chưa? Vì sao? + Vậy việc đầu tiên sẽ phải tìm cái gì? Bằng cách nào? + Sau đó làm gì nữa? Bằng cách nào? Đã trả lời câu hỏi của bài toán chưa? - Xuất phát tự dữ kiện đến câu hỏi của bài toán. - Kết quả cuối cùng có phải là đáp số của bài toán không? * Bước 4. Thực hiện cách giải: Bài giải: Liên hái được số bông hoa là: 24 + 16 = 40 (bông hoa) Đáp số: 40 bông hoa. * Bước 5. Cách giải bài toán: - Phân tích cách giải đúng hay sai, sai ở chỗ nào để sửa chữa. Nếu kết quả đúng thì ghi đáp số. C. Hướng dẫn HS lớp 2 giải bài toán có lời văn, thông qua ví dụ sau: Hoà có 4 bông hoa, bình có nhiều hơn Hoà 2 bông hoa. Hỏi Bình có mấy bông hoa? - Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán: + Bài toán này thuộc dạng toán nào? + Đề bài cho chúng ta biết cái gì? + GV hướng dẫn cho HS tìm hiểu bước 2. Tóm tắt đề toán: Biểu thị số bông hoa bằng sơ đồ đoạn thẳng. 4 bông hoa Hoà: 2 bông hoa Bình: ? bông hoa + Tìm cách giải bài toán: Nhìn vào tóm tắt cho thấy Bình có nhiều hơn Hoà 2 bông hoa. - Muốn tìm số bông hoa của Bình thì ta phải tìm thế nào? * Thực hiện cách giải: 4 + 2 = 6 (bông) Đáp số: 6 bông hoa. * Ví dụ: vườn nhà Mai có 17 cây cam, vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7 cây cam. Hỏi vườn nhà Hoa có mấy cây cam? (Bài tập 1, Tr. 30- SGK Toán 2) 17 cây 17 cây - Hướng dẫn HS tóm tắt: V­ên nhµ Mai: V­ên nhµ Hoa: 7 cây ? cây Bài giải: Vườn nhà Hoa có số cây cam là: 17 - 7 = 10 (cây) Đáp số: 10 cây cam. * Kiểm tra bài giải: Qua mấy ví dụ trên em nào biết: Muốn làm một bài toán có lời văn thì ta thực hiện mấy bước? (Thực hiện 5 bước) - HS xây dựng thành ghi nhớ. - GV ghi lên bảng từng bước sau đó gọi 1,2 HS đọc to cho cả lớp nghe. Giáo viên thực nghiệm TIẾT 24: BÀI TOÁN VỀ NHIỀU HƠN I. MỤC TIÊU: - Kiến thức: Giúp HS Hiểu khái niệm "nhiều hơn" và biết cách giải bài toán nhiều hơn. - Kĩ năng: Giúp HS biết cách trình bày và giải bài toán có lời văn về nhiều hơn. - Thái độ: Yêu thích học toán và có ý thức giải bài toán có lời văn. II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC: 7 qủa cam có nam châm (hoặc hình vẽ trong SGK) III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU: 1. Bài mới. a. Kiểm tra bài cũ Gọi 2 HS lên bảng thực hiện các yêu cầu sau: HS1: Đặt tính và tính: 38 + 15; 78 + 9; HS2: Giải bài toán theo tóm tắt. Vải xanh: 28 dm. Vải đỏ: 25 dm. Cả hai mảnh: ...dm? Nhận xét và cho điểm HS. b. Giới thiệu bài: Trong giờ toán hôn nay chúng ta sẽ được học và làm quen với dạng toán có lời văn mới, đó là: Bài toán về nhiều hơn. 2. Phát triển bài. Hoạt động 1: Giới thiệu về bài toán nhiều hơn: * Mục tiêu: Giúp HS nhận biết được cách giải bài toán về nhiều hơn. * Cách tiến hành: Yêu cầu cả lớp tập trung theo dõi lên bảng. - Cài 5 quả cam trên bảng và nói: Cành trên có 5 quả cam. - Cài 5 quả cam xuống dưới và nói: Cành dưới có 2 quả cam thêm 2 quả cam nữa (gài thêm 2 quả) - Hãy so sánh số cam 2 cành với nhau. Cành dưới có nhiều hơn bao nhiêu quả (nối 5 quả trên tương ứng với 5 quả dưới, còn thừa 2 quả). + Nêu bài toán: Cành trên có 5 quả cam, cành dưới có nhiều hơn cành trên 2 quả cam. Hỏi cành dưới có bao nhiêu quả cam? - Muốn biết cành dưới có bao nhiêu quả cam ta làm như thế nào? - Hãy đọc cho thầy câu trả lời của bài toán. Yêu cầu HS làm bài ra giấy nháp, 1HS làm bài trên bảng lớp. Tóm tắt: Cành trên: 5 quả. Cành dưới nhiều hơn cành trên: 2 quả. Cành dưới:... quả? Chỉnh sửa cho các em nếu các em còn sai. Hoạt động 2: Luyện tập thực hành. Bài 1: *Mục tiêu: Củng cố cách giải về bài toán nhiều hơn. * Cách tiến hành: - Gợi ý 1HS đọc đề bài. - Gợi ý 1HS tóm tắt. - Bài toán cho biết gì? - Bài toán hỏi gì? - Muốn biết Bình có bao nhiêu bông hoa ta làm như thế nào? - Trước khi làm phép tính ta phải trả lời như thế nào? - Yêu cầu HS làm bài vào vở sau đó chỉnh sửa, nhận xét. Bài 2: *Mục tiêu: Củng cố giải bài toán về nhiều hơn. * Cách tiến hành: Yêu cầu HS đọc đề bài, đọc tóm tắt. - Bài toán hỏi gì? Để giải bài toán này, chúng ta làm phép tính gì? - Yêu cầu HS tự giải bài toán. Bài 3: *Mục tiêu: Tiếp tục củng cố về giải bài toán về nhiều hơn. * Cách tiến hành: Yêu cầu HS đọc đề bài. Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? - Để biết Đào cao bao nhiêu cm ta làm như thế nào? Vì sao? - Yêu cầu HS làm bài vào vở, 1 HS lên bảng làm bài. Tóm tắt: Mận cao : 95cm. Đào cao hơn Mận : 3cm. Đào cao :...cm? 4. Củng cố- dặn dò: Hôm nay chúng ta vừa học dạng toán gì? - Chúng ta giải các bài toán nhiều hơn trong bài bằng phép tính gì? - Tổng kết tiết học, tuyên dương một số em có tinh thần học tốt. - Cành dưới có nhiều cam hơn cành trên (3HS trả lời). - Nhiều hơn 2 quả (3 HS trả lời). - Thực hiện phép cộng: 5 + 2. - Số quả cam cành dưới có là Cành dưới có số quả cam là - Làm bài: Bài giải: Số quả cam cành dưới có là: 5 + 2 = 7 (quả) Đáp số: 7 quả cam. - Đọc đề bài - Đọc tóm tắt - Hoà có 4 bông hoa, Bình có nhiều hơn Hoà 2 bông hoa. - Bình có bao nhiêu bông hoa. Ta thực hiện phép tính 4 + 2 - Số bông hoa của Bình là Bình có số bông hoa là - HS làm bài. - HS đọc đề bài tóm tắt. - Bài toán hỏi số bi của Bảo. - Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên bi. Nam có 10 viên bi. - Phép cộng 10 + 5 Bài giải: Bạn Bảo có số bi là: 10 + 5 = 15 (viên) Đáp số: 15 viên bi. - HS đọc đề bài. Mận cao 95 cm. Đào cao hơn Mận 3cm. - Đào cao bao nhiêu cm? - Thực hiện phép cộng 95 + 3 vì "cao hơn" cũng giống như "nhiều hơn". - HS làm bài. Bài giải: Bạn Đào cao là: 95 + 3 = 98 (cm) Đáp số: 98 cm. - Bài toán về nhiều hơn. - Phép cộng IV. Kết quả đạt được Qua việc áp dụng phương pháp trên vào việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn ở lớp 2 của trường Tiểu học Sủng Trà, tôi thấy kết quả đã có những chuyển biến nhất định. Học sinh biết giải toán có lời văn đã được nâng cao. Kết quả cụ thể đạt được qua các năm: Năm 2006-2007 tôi áp dụng phương pháp trên vào lớp 2 do trực tiếp tôi giảng dạy, kết quả đạt được đến cuối năm học là: Năm học Lớp Tổng số học sinh Học sinh biết giải toán có lời văn Giải toán có lời văn thành thạo 2013-2014 1 15 5/15 6/15 2014-2015 2 15 8/15 7/15 2015-2016 3 30 12/30 10/30 PHẦN III. KẾT LUẬN 1. Kết luận Qua quá trình nghiên cứu đề tài, bản thân tôi đã học hỏi được rất nhiều điều bổ ích và lý thú cho nghiệp vụ chuyên môn, đồng thời đáp ứng được yêu cầu đặt ra của thực tế giảng dạy học môn toán ở tiểu học. - Quá trình dạy học môn toán ở tiểu học và riêng lớp 2 có hai hoạt động rõ ràng: + Hoạt động dạy của thầy (giữ vai trò chỉ đạo) + Hoạt động học của trò (giữ vai trò tích cực, chủ động). Hai hoạt động này phải diễn ra đồng bộ, tạo mối quan hệ mật thiết để đạt kết quả cao. - Trong đó, dạy giải toán có lời văn là một bộ phận quan trọng của chương trình toán tiểu học. Nó được kết hợp chặt chẽ với nội dung của các kiến thức về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học. Dạy giải toán là một hoạt động khó khăn, phức tạp về mặt trí tuệ, do đó khi giải toán có lời văn đòi hỏi HS phải phát huy trí tuệ một cách tích cực linh hoạt, chủ động sáng tạo, đồng thời qua việc giải toán của HS mà GV dễ dàng phát hiện ra những nhược điểm và ưu điểm để giúp các em khắc phục và phát huy. Dạy toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện năng lực tư duy và những đức tính tốt đẹp của người lao động mới. 2. Kiến nghị Với khả năng còn nhiều hạn chế và rất ít kinh nghiệm nghiên cứu, tôi xin nêu lên vài ý kiến nhỏ của bản thân nhằm giúp GV tham khảo khi hướng dẫn HS lớp 2 giải toán có lời văn. Kính mong các thầy cô giáo, mong các bạn đồng nghiệp góp ý bổ sung thêm cho để tài này hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn! Sủng Trà, ngày tháng năm 2021 Người viết sáng kiến Hà Thị Hương Đánh giá, nhận xét của hội đồng giám khảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Sbt Lịch Sử Lớp 7 Bài 12: Đời Sống Kinh Tế, Văn Hoá
  • Bài 23. Kinh Tế, Văn Hóa Thế Kỉ Xvi
  • Giải Bài Tập Sbt Lịch Sử 7 Bài 23: Kinh Tế, Văn Hóa Thế Kỉ Xvi
  • Giải Bài Tập Sbt Lịch Sử Lớp 7 Bài 23: Kinh Tế, Văn Hoá Thế Kỉ Xvi
  • Bài 20. Nước Đại Việt Thời Lê Sơ
  • Đề Thi Hk1 Môn Toán Lớp 3 Có Lời Giải

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Đề Thi Học Kỳ 1 Môn Toán Lớp 3 Có Đáp Án Năm Học 2021
  • Tuyển Tập Đề Thi Học Sinh Giỏi Toán Lớp 3
  • Giải Sách Lưu Hoằng Trí 8
  • Giải Unit 6 Sách Bài Tập Lưu Hoằng Trí 8
  • Giải Bài Tập Lưu Hoằng Trí 8
  • Đề thi học kì 1 môn Toán lớp 3 có lời giải giúp các em học sinh ôn tập chuẩn bị tốt cho bài kiểm tra HK1 Toán lớp 3.

    – Sắp xếp theo thứ tự của đề bài.

    Cách giải :

    a) Đ – S

    b) S – Đ

    Câu 2. Phương pháp giải :

    – Đặt tính : Viết các số theo cách đặt tính cột dọc, chữ số cùng hàng thẳng cột với nhau.

    – Tính : Cộng các số lần lượt từ phải sang trái.

    – Điền Đ hoặc S vào ô trống thích hợp.

    Cách giải :

    a) S; Đ; S

    b) Đ; S; S

    c) S; S; Đ.

    Câu 3. Phương pháp giải :

    Đội A : 417m

    Đội B : 435m

    Cả hai : …m?

    Muốn tìm lời giải ta lấy số mét đường đội A làm được cộng với số mét đường đội B đã làm được.

    Cách giải :

    Cả hai đội làm được số mét đường là :

    417 + 435 = 852 (m)

    Đáp số : 852 m.

    Đáp án cần chọn là B.

    Câu 4. Phương pháp giải :

    – Muốn tìm số hạng ta lấy tổng trừ đi số hạng kia.

    – Muốn tìm số bị trừ ta lấy hiệu cộng số trừ.

    – Điền Đ hoặc S vào ô trống thích hợp.

    Cách giải :

    Phương pháp giải :

    – Muốn tìm số hạng ta lấy tổng trừ đi số hạng kia.

    – Muốn tìm số bị trừ ta lấy hiệu cộng số trừ.

    – Điền Đ hoặc S vào ô trống thích hợp.

    Cách giải :

    a)

    $ displaystyle begin{array}{l}x+132=454,,,,,,,,,,,,x=454-132,,,,,,,,,,,,x=322end{array}$

    Vậy điền vào các ô trống lần lượt là : Đ; S; S.

    b)

    $ displaystyle begin{array}{l}x-213=326,,,,,,,,,,,,x=326+213,,,,,,,,,,,,x=539end{array}$

    Cần điền vào ô trống lần lượt là : Đ; S; S.

    Câu 5. Phương pháp giải :

    Muốn tìm số bị trừ thì ta lấy hiệu cộng số trừ.

    – So sánh rồi điền dấu thích hợp vào chỗ trống.

    Cách giải :

    a) 400 + 8 = 408

    c) 120 − 20 < 100 + 1

    d) 998 = 900 + 90 + 8

    Câu 7. Phương pháp giải :

    – Đặt tính : Viết các chữ số cùng hàng thẳng cột với nhau.

    – Tính : Cộng hoặc trừ lần lượt từ phải sang trái.

    Khối Ba : 352 học sinh

    Khối Ba ít hơn khối Hai : 28 học sinh

    Khối Hai : … học sinh ?

    Muốn tìm số học sinh của khối Hai ta lấy 352 cộng với 28.

    Cách giải :

    Khối lớp Hai có số học sinh là:

    352 + 28 = 380 (học sinh)

    Đáp số: 380 học sinh.

    Câu 9. Phương pháp giải :

    – Muốn tìm số bị trừ ta lấy hiệu cộng số trừ.

    – Muốn tìm số hạng ta lấy tổng trừ đi số hạng kia.

    Cách giải :

    a)

    $ displaystyle begin{array}{l}x-132=368,,,,,,,,,,,,x=368+132,,,,,,,,,,,,x=500end{array}$

    b)

    $ displaystyle begin{array}{l}x+208=539,,,,,,,,,,,,x=539-208,,,,,,,,,,,,x=331end{array}$

    Câu 10. Phương pháp giải :

    – Xác định các đại lượng trong bài toán, giá trị đã biết và yêu cầu của bài toán.

    – Tìm độ dài của mảnh vải trắng : Lấy độ dài của mảnh vải xanh cộng với 32m.

    – Tìm độ dài của cả hai mảnh vải : Lấy độ dài mảnh vải xanh cộng với độ dài mảnh vải trắng vừa tìm được.

    Cách giải :

    Vải trắng dài số mét là:

    208 + 32 = 240 (m)

    Có tất cả số mét vải là:

    208 + 248 = 448 (m)

    Đáp số: 448 m.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn: Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 3
  • Sang Kien Kinh Nghiem Lop 3
  • Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 3/3 Trường Tiểu Học Trần Bình Trọng Giải Các Bài Toán Có Lời Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hướng Dẫn Học Sinh Giải Bài Toán Có Lời Văn Lớp 1
  • 252 Bài Toán Luyện Thi Violympic Lớp 3
  • Cách Học Toán Lớp 3 Hiệu Quả Để Phát Huy Khả Năng Của Trẻ
  • Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 3/3 Trường Tiểu Học Trần Bình Trọng Giải Các Bài Toán Có Lời Văn
  • Sang Kien Kinh Nghiem Lop 3
  • Phương pháp giải toán có lời văn lớp 1 Tác giả: đặng thị phượng Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm Nơi công tác: Trường Tiểu học A Xuân Tân Đơn vị áp dụng sáng kiến: Lớp 1 Trường Tiểu học A Xuân Tân I. Phần mở đầu. 1. Lý do chọn đề bài. Môn Toán lớp 1 mở đường cho trẻ đi vào thế giới kỳ diệu của toán học, rồi mai đây các em lớn lên trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ… trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất, trên tay có máy tính xách tay… nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tạp viết 1,2,3… học các phép tính cộng,trừ… các em không thể quên được vì đó là kỉ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa những con số, những phép tính đơn giản ấy cần thiết cho suốt cuộc đời. Đó cũng là vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên nói chung và giáo viên lớp 1 nói riêng. Người thầy giáo từ khi chuẩn bị cho tiết dạy đầu tiên đến khi nghỉ hưu không lúc nào dứt nổi chăn trở về những điều mình dạy và nhất là môn toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn toán ở tiểu học. Chương tình này nó kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy toán lớp 1, nên nó có vai rò vô cùng quan trọng không thể thiếu được trong mọi cấp học. Dạy học môn toán ở lớp 1 nhằm giúp học sinh: a. Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20, về tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đọc đúng trên mặt đồng hồ; về một số hình học (Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn… b. Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạm vi 100; cộng trừ và không nhớ trong phạm vi 100; đo và ước lượng độ dài đoạnh thẳng( với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20 cm). Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm, vẽ điểm, đoạn thẳng).giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ bước đầu biết điểm đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành, tập so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế cuả học sinh. c. Chăm chỉ, tự tin, cẩn thận ham hiểu biết và học sinh có hứng thú học toán. Là một người giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 và đặc bệt là dạy môn toán, thực hiện chương trình đổi mới giáo dục toán học lớp 1 nói riêng ở tiểu học nói chung. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ niều để học sinh làm sao làm được các phép tỉnh cộng, trừ mà viẹc giải toán có lời văn thì càng khó hơn đối với học sinh lớp 1 nên tôi đi sâu về nghiên cứu dạy ” giải toán có lời văn” ở lớp 1. 2. Mục đích nghiên cứu: Đề bài: “Giải toán có lời văn” ở lớp 1. Tôi muốn cho học sinh thấy được: Biết cách giải các baìi toá đơn về thêm bớt một số đơn vị (giải bằng một phép cộng hoặc một phép trừ). Biết trình bày bài giải gồm câu trả lời, phép tính và đáp số. Góp phần bước đầu phát triển tư duy, khả năng diễn đạt đúng cho học sinh. II. Phần nội dung. Tôi thấy việc dạy học sinh: ” Giải toán có lời văn” với học sinh lớp 1 là vô cùng khó. Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới chính thức học cách giải toán có lời văn song tôi đã phải có ý thức chuẩn bị từ xa cho việc làm ngay từ bài: Phép cộng trong phạm vi 3 tiết luyện tập ở tuần 7. Mặc dù học sinh lớp tôi lúc này chưa đọc thông viết thạo nhưng tôi đã rèn cho học sinh làm các bài tập: ” Nhìn tranh nêu phép tính” – Xem tranh vẽ. – Nêu bài toán bằng lời. – Nêu câu trả lời. – Điền phép tính thích hợp với tình huống trong tranh. Ví dụ: ở tiết luyện tập bài 5 trang 46. Sau khi cho học sinh xem tranh. Tôi cho học sinh nêu bằng lời: ” Có một quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh. Hỏi có tất cả mấy quả bóng”. Sau đó học sinh tập nêu câu trả lời: ” Có tất cả 3 quả bóng” Từ đó học sinh viết vào dãy 5 ô trống để có phép tính. 1 + 2 = 3 Tiếp đó cứ như thế đến tuần 17. Học sinh lớp tôi đã được làm quen với việc đọc tóm tắt, rồi nêu đề toán bằng lời, sau đó nêu bài giải và tự điền số vào phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống. Nhưng ở đây đã không còn tranh vẽ nữa. Ví dụ: ở tiết: bảng cộng và trừ trong phạm vi 10. Tôi đã cho HS tiếp cận với giải toán ở học kỳ II. Bài 3 ( b) trang 87: Có: 10 quả bóng. Cho: 3 quả bóng. Còn: …. qủa bóng. Ở bài này không có tranh vẽ, tôi cho học sinh đọc kỹ tóm tắt. Dựa vào tóm tắt học sinh có thể nêu đề toán bằng lời “Lan có 10 quả bóng, Lan cho bạn 3 quả bóng. Hỏi lan còn mấy quả bóng…” HS nêu được câu trả lời bằng lời : “Lan còn 7 quả bóng” 10 – 3 = 7 Ngoài ra tôi còn cho học sinh làm các bài tập mở có rất nhiều cách giải quyết dẫn đến nhiều đáp số hoặc câu trả lời khác nhau. Ví dụ: ở bài 5 (b) trang 50. Viết phép tính thích hợp: Nhìn tranh: Có 4 con chim đang đậu, 1 con nữa bay đến. Hỏi có tất cả mấy con chim? Học sinh có thể nêu bài toán nhiều cách khác nhau: Cách 1: Có 4 con chim đang đậu, 1 con nữa bay đến. Hỏi có tất cả mấy con chim? Giải: 4 + 1 = 5 Cách 2: Có 1 con chim đang bay và 4 con chim đậu trên cành. Hỏi có tất cả mấy con chim? Giải: 4 + 1 = 5 Cách 3: Có 5 con chim, bay mất 1 con . Hỏi còn lại mấy con? Giải: 5 – 1 = 4 Cách 4: Có tất cả 5 con chim, trong đó có 4 con đậu trên cành. Hỏi có mấy con đang bay? Giải: 5 – 4 = 1 Qua bài này học sinh có rất nhiều cách giải nên tôi không áp đặt cho học sinh mà khuyến khích cho học sinh nêu bài toán, dẫn đến nhiều đáp số đều đúng, nhưng tôi hướng cho học sinh với bài này thì cách 1 là thích hợp nhất. Từ bài này cứ làm như vậy học sinh sẽ quen dần với cách nêu bài toán, lời giải bài toán bằng miệng các em sẽ dễ dàng viết được câu lời giải sau này. Như vậy ở học kì I: Chủ yếu giúp học sinh thực hiện các thao tác xem tranh vẽ, tập phát biểu bài toán bằng lời, tập nêu câu trả lời và điền phép tính thích hợp. ( Với tình huống trong tranh). Tiếp theo sang học kì II chính thức học: “Giải toán có lời văn” . Học sinh được học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm 2 thành phần chính là những cái đã cho (đã biết) và cái phải tìm (chưa biết) vì khó có thể giải thích cho học sinh bài toán là gì? Nên ở tiết này tôi chỉ giới thiệu 2 bộ phận của 1 bài toán. – Những cái đã cho (dữ kiện). – Cái phải tìm (câu hỏi). Ví dụ: Bài 1 trang 115: Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán. Bài toán: có… bạn, có thêm… bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn? Trước tiên tôi nêu yêu cầu, học sinh tự nêu nhiệm vụ cần thực hiện (viết số thích hợp vào chỗ chấm). Sau đó tôi cho học sinh quan sát tranh vẽ. Gọi học sinh nêu miệng đề toán và cho học sinh điền số vào chỗ các dữ kiện để được bài toán. “Có 1 bạn có thêm 3 bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn”. Gọi vài học sinh đọc lại bài toán. Tôi hỏi – Học sinh trả lời: Bài toán cho biết gì? ( Có 1 bạn, thêm 3 bạn nữa). – Cho học sinh nêu câu hỏi của bài toán: ( Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?) – Theo câu hỏi này con phải làm gì?( Tìm xem có tất cả bao nhiêu bạn?) Hay ở bài 4 (trang 116) lại thiếu cả dữ kiện và câu hỏi). Bài 4: Nhìn tranh vẽ viết tiếp vào chỗ chấm để có bài toán: Bài toán: Có… con chim đậu trên cành, có thêm… con chim bay đến. Hỏi …? ở bài này tôi cũng cho học sinh quan sát tranh. Gọi học sinh nêu miệng đề toán và cho học sinh điền số vào dữ kiện và điền từ vào chỗ chấm của câu hỏi. Sau đó tôi tập cho học sinh nêu nhận xét. Tôi có thể nêu câu hỏi: Bài toán thường có những gì? (Bài toán thường có các số liệu) và có câu hỏi. Nếu học sinh không trả lời được thì tôi hướng dẫn học sinh trả lời. Qua các hoạt động này tôi đã giới thiệu tóm tắt một cách chặt chẽ bài toán gồm có 2 phần. Những số đã cho, số phải tìm (câu hỏi) để cho học sinh hiểu sâu hơn cấu tạo của bài toán. Đến tiết tiếp theo: Giải bài toán có lời văn, bài toán đã có đầy đủ dữ kiện và câu hỏi. Lúc này tôi cần chú ý hướng dẫn học sinh phải tìm hiểu đề toán. Học sinh phải đọc kỹ đề toán, hiểu rõ một số từ khóa quan trọng như: “thêm”; “tất cả”; hoặc bớt hay bớt đi; ăn mất, còn lại… có thể học sinh quan sát tranh vẽ hỗ trợ thêm. Phần không kém quan trọng vẫn là tóm tắt bài toán như thế nào cho học sinh dễ hiểu là vấn đề tôi phải suy nghĩ rất nhiều. Tôi giúp học sinh tóm tắt đề toánbằng cách đàm thoại, bài toán cho biết gì? bài toán hỏi gì? và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt và dựa vào tóm tắt để nêu lại được bài toán. Đây cũng là cách tốt nhất đẻ giúp học sinh biết phân tích đề toán. Học sinh xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm. Học sinh viết thẳng theo cột để dễ hiểu và có thể lựa chọn phép tính giải. Nhưng dòng cuối phần tóm tắt là một câu hỏi (viết gọn lại) cần phải đặt dấu? ở cuối câu. Ví dụ: An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng. Hỏi cả 2 bạn có mấy quả bóng? Tóm tắt: An có: 4 quả bóng. Bình có: 3 quả bóng. Cả 2 bạn có … quả bóng? Sau khi học sinh tóm tắt, có rất nhiều cách để viết câu lời giải. ở bài toán trên có thể dựa vào câu hỏicủa bài toán để trả lời: cả 2 bạn có số quả bóng là. Có thể lồng cốt câu lời giải vào trong tóm tắt để dựa vào đó học sinh dễ viết câu lời giải hơn chẳng hạn dựa vào dòng cuối tóm tắt học sinh có thể viết ngay câu lời giải với nhiều cách khác nhau chứ không bắt buộc học sinh phải viết theo một kiểu. “Cả 2 bạn có là: Hoặc số quả bóng ảc 2 bạn có là hoặc cả 2 bạn có số quả bóng là…” Việc đặt câu lời giải còn vất vả hơn dạy trẻ lựa chọn các phép tính và thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số. Vì vậy từ tuần 23 lúc này học sinh lớp tôi đã đọc thông viết thạo tôi chỉ chọn câu hỏi trong đề toán sao cho chỉ cần chỉnh sửa một chút thôi là được ngay câu lời giải. Còn khi viết phép tính, giáo viên phải bắt buộc học sinh viết bằng chữ số (kèm theo là đơn vị đặt trong dấu ngoặc sau kết quả) mà thôi. Ví dụ giáo viên hỏi: Cả 2 bạn có mấy quả bóng? Con làm tính gì?(tính cộng) mấy cộng mấy? (3 + 4); 3+ 4 bằng mấy(3 + 4 = 7) hoạc muốn biết cả 2 bạn có mấy quả bóng?(7) con tính thế nào để được 7?( 3 + 4 = 7) . Tới đây để học sinh nêu tiếp 7 là 7 quả bóng? Ta viết: “quả bóng” vào trong dấu ngoặc đơn. 3 + 4 = 7 (quả bóng). Còn với đáp số thì không cần viết đơn vị trong dấu ngoặc đơn nữa. Đáp số: 7 quả bóng. Khi gặp bài toán về số đo độ dài tôi cũng hướng dẫn học sinh viết các phép tính dưới dạng hư số. Đoạn thẳng AB dài 3 cm và đoạn thẳng BC dài 6 cm. Hỏi đoạn thẳng AC dài mấy xăng ti mét? A 3cm B 6cm C Nhìn vào sơ đồ đoạn thẳng( hình vẽ) nên học sinh có thể tự làm bài và viết được lời giải: Độ dài đoạn thẳng AC là. 3 + 6 = 9 (cm). Đáp số: 9 cm. Tiếp theo đến tuần 28 học sinh lại được học: Giải toán có lời văn để giúp học sinh củng cố kỹ năng giải các bài toán về bớt (bằng một phép trừ) và biết trình bày bài giải gồm: Câu lời giải, phép tính, đáp số. Qua các phương pháp tôi đã dùng để dạy môn toán về: “Giải toán có lời văn” tôi thấy học sinh lớp tôi đã nhận biết được bước đầu về giải toán có lời văn. Các em đã biết giải các bài toán về ( thêm, bớt) giải bằng 1 phép cộng hoặc 1 phép trừ và biết trình bày bài giải gồm: Câu trả lời, phép tính, đáp số. Trong những năm học trước, lớp tôi 100% học sinh đều làm thành thạo các bài toán đơn về: “Giải toán có lời văn”. Còn năm học: 2008 – 2009 này, qua các bài tập kiểm tra ở lớp và bài buổi 2. Học sinh lớp tôi đều làm tốt các bài tập: ” Giải toán có lời văn”. Đó cùng là sự thành công ban đầu của bản thân tôi. III. Kết luận 1. Qua nhiều năm dạy chương trình đổi mới môn toán lớp 1 và nhất là tôi đi sâu nghiên cứu về giải toán có lời văn, tôi cũng rút ra được một số kinh nghiệm như sau: – Khi soạn giáo án cần lưu ý kiến thức phải chuẩn xác đầy đủ nội dung của bài. – Nếu gặp khó khăn trong khi đặt đề toán thì cho học sinh nhìn tranh để trả lời câu hỏi hoặc có vật mẫu (gà,vịt,…) gắn lên bảng từ hoặc dùng tóm tắt để hỗ trợ học sinh đặt đề toán. -Tăng cường kỹ năng thực hành phiếu học tập. – Chuyển một số bài thành trò chơi để thay đổi hình thức học tập giúp học sinh củng cố kỹ năng thực hành, gây hứng thú học tập. – Cần nhấn mạnh hơn đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản, thiết thực, có hệ thống trong sự hoàn chỉnh tương đối của các kiến thức và kỹ năng đó. – Quan tâm đúng mức đến việc rèn kĩ năng diễn đạt, ứng xử, giải quyết các tình huống có vấn đề. – Phát triển năng lực tư duy cho trẻ. – Xây dựng được phương pháp, hình thức học toán theo hướng tập trung vào HS, giúp các em biết tự học toán có hiệu quả. – Không nên vội vàng yêu cầu HS phải đọc thông, viết thạo đề toán ngày từ bài đầu, giáo viên luôn luôn bình tĩnh rèn cho HS sẽ đạt được yêu cầu. 2. Dự định tiếp theo của tôi là: Tôi sẽ đi sâu nghiên cứu học hỏi trau dồi kiến thức để giảng dạy ngày một tốt hơn. Phấn đấu HS học xong lớp 1; 100% HS đọc thông viết thạo, làm thành thạo tất cả các bài tập trong chương trình môn Toán lớp 1 đó là điều mong ước của tôi Xuân Tân, ngày 12 tháng 4 năm 2009 Đánh giá xếp loại Tác giả sáng kiến Của cơ quan đơn vị Đặng Thị Phượng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Toán Lớp 1: Giải Toán Có Lời Văn (Tiếp Theo)
  • Gia Sư Lớp 2 Hướng Dẫn Cách Giải Toán Đố
  • Lớp 2 Hướng Dẫn Cách Giải Toán Đố
  • Giải Bài Tập Trang 52 Sgk Toán 3: Luyện Tập Bài Toán Giải Bằng Hai Phép Tính Giải Bài Tập Toán Lớp 3
  • Bài Giải Toán Lớp 3
  • Hyip, Make Money Online, Crypto, Bitcoin,: Sáng Kiến Kinh Nghiệm Toán 5: Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Để Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Chuyên Đề Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Toán Lớp 5
  • Đề Thi Hsg Toán + Tv Lớp 5 Có Đáp Án
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Toán Lớp 5 Có Đáp Án
  • Các Bài Toán Về Hình Học Lớp 5 (Có Đáp Án)
  • Sáng kiến kinh nghiệm Toán 5: Đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5

    Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bạc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học và số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại số , hình học có trong chương trình.

    Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau:

    a) Các khái niệm và các qui tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được giảng dạy thông qua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố vận dụng các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng tính toán. đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy và khắc phục.

    d) Việc giải toán góp phần quan trọng vào rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới. Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phân biệt cái gì dã cho và cái gì cần tìm, thiết lập mối quan hệ giữa các giữ kiện của bài toán giữa cái đã cho và cái phải tìm. Suy luận, nêu lên những phán đoán, rút ra những kết luận thực hiện phép tính cần thiết để giải quyết các vấn đề đặt ra…Hoạt động trí tuệ có trong trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có hiệu quả, có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, có thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, có óc độc lập, suy nghĩ sáng tạo, tự tìm ra những lời giải mới hay và ngắn gọn…

    *Nội dung chương trình toán lớp 5:

    1. Ôn tập về số tự nhiên.

    2. Ôn tập về các phép tính số tự nhiên.

    3. ÔN tập dấu hiệu chia hết cho 2.3.5.9.

    4. Phân số ôn tập, bổ sung.

    5. Ôn tập các phép tính về phân số.

    6. Số thập phân.

    7. Các phếp tính về số thập phân.

    8. Hình học-chu vi, diện tích, thể tích của một hình.

    9. Số đo thời gian-Toán chuyển động đều.

    – Ngoài ra trong đề toán có nêu mối quan hệ giữa phần đã cho và phần phải tìm hay thực chất là các mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết và kết luận của bài toán.

    -Nghiên cứu kĩ đàu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận bài toán, suy nghĩ về ý nghĩa của bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt là chú ý đến câu hỏi của bài toán. Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán.

    -Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đat nội dung bài toán bàng ngôn ngữ hoặc tóm tắt điều kiện bài toán, hoặc minh hoạ bằng sơ đồ hình vẽ.

    -Lập kế hoạch giải toán: Học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán cần thực hiện phép tính gì? Suy nghĩ xem từ số đã cho và điều kiện của bài toán có thể biết gì? Có thể làm phép tính gì? Phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không? Trên các cơ sở đó, suy nghĩ để thiết lập trình tự giải toán.

    -Thực hiện phép tính theo trình tự kế hoạch đã thiết lập để tìm đáp số. Mỗi khi thực hiện phép tính càn kiểm tra xem đã tính đúng chưa? Phép tính được thực hiện có dựa trên cơ sở đúng đắn không?

    Giải xong bài toán, khi cần thiết, cần thử lại xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các đièu kiện của bài toán không? Trong một số trường hợp, giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm xem có cách giải khác gọn hơn không?

    Sáng kiến kinh nghiệm Toán 5: Đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Co Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5
  • Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 5
  • 500 Bài Toán Chọn Lọc Lớp 5 Và Lời Giải (Phần 1)
  • 35 Đề Ôn Luyện Tiếng Việt Lớp 4 Cực Hay Có Đáp Án
  • Đề Thi Học Kì 2 Lớp 4 Môn Tiếng Việt Năm 2021 Đề Số 6 Có Đáp Án
  • Luận Văn Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Violympic Toán Tiếng Anh Lớp 4 Vòng 9 Có Đáp Án
  • Đề Thi Tuyển Hsg Môn Toán Lớp 4 Có Đáp Án
  • Hướng Dẫn Giải Toán Lớp 4
  • Giải Các Bài Toán Điển Hình Lớp 4 Bằng Phương Pháp Dùng Sơ Đồ Đoạn Thẳng
  • Giải Vở Bài Tập Lịch Sử 4 Bài 1: Nước Văn Lang
  • Như chúng ta đã biết đất nước ta đã thực sự bước vào một kỷ nguyên mới với tương lai tươi sáng của thế kỷ XXI thế kỷ của nền văn minh nhân loại. Chúng ta đáng thật tự hào và tự hào thực sự về đất nước ta, dân tộc ta đang ngày càng thay da đổi thịt ngẩng cao đầu tự tin hướng tới tương lai để “Sánh vai cùng các cường quốc năm châu bốn biển”. Nói đến tương lai, niềm tự hào của dân tộc ta không khỏi nói đến con người mà con người muốn được phát triển toàn diện là nhờ sự giáo dục của gia đình của nhà trường – xã hội bởi: “Giáo dục và đào tạo là chìa khoá để mở cánh cửa tương lai”. Nghị quyết của Trung ương Đảng đã từng nêu: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đòi hỏi phải có con người XHCN. Muốn thành công XHCN thì phải thành công ba dòng thúc cách mạng. Trong đó: “Cách mạng giáo dục là then chốt” “xã hội đi lên banừg giáo dục”. Đó cũng là chân lý của thời đại chúng ta. Bởi vậy, giáo dục dánh một trách nhiệm hết sức nặng nề và cấp thiết. Đặc biệt đối với bậc tiểu học “Là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân” (Điều 2 luật giáo dục). Bậc tiểu học là bậc rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, phát triển các năng lực phẩm chất trang bị các phương pháp ban đầu về hoạt động nhân thức và hoạt động thực tiễn. Bồi dưỡng phát huy tình cảm, thói quen đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam. Mục tiêu đó được thực hiện thống qua việc dạy học các kiến thức cơ bản và thực hiện theo định hướng của yêu cầu giáo dục, nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng cần thiết giúp trẻ tiếp tục học ở bậc học cao hơn hay cho công việc lao động của trẻ sau này. Trong các môn học thì môn Toán đông một vai trò quan trọng. Môn Toán cung cấp những kiến thức cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo các đại lượng – giải. Môn toán ở Tiểu học là một môn thống nhất không chia thành phân môn. Bên cạnh đó, khả năng giáo dục môn Toán rất phóng phú, giúp học sinh phát triển tư duy, khả năng suy luận, trau dồi trí nhớ, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, chính xác. Môn Toán còn giúp học sinh phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, kích thích sự tò mò tự khám phá và rèn luyện một phong cách, tác phong làm việc khoa học. Yêu cầu đó rất cần thiết cho mọi người, góp phần phát triển ý chí và những đức tính tốt như: Cần cù, chịu khó, kiên trì và nhẫn nại trong học tập, có ý chí vượt khó vươn lên.

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Rèn Kỹ Năng Giải Bài Toán Có Lời Văn Liên Quan Đến Tỷ Số
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 4 Khắc Phục Các Lỗi Khi Thực Hiện Giải Toán Có Lời Văn
  • Đề Tài Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Đề Thi Violympic Toán Tiếng Anh Lớp 4 Vòng 9 Có Đáp Án
  • Đề Thi Tuyển Hsg Môn Toán Lớp 4 Có Đáp Án
  • Hướng Dẫn Giải Toán Lớp 4
  • Giải Các Bài Toán Điển Hình Lớp 4 Bằng Phương Pháp Dùng Sơ Đồ Đoạn Thẳng
  • Như chúng ta đã biết đất nước ta đã thực sự bước vào một kỷ nguyên mới với tương lai tươi sáng của thế kỷ XXI thế kỷ của nền văn minh nhân loại. Chúng ta đáng thật tự hào và tự hào thực sự về đất nước ta, dân tộc ta đang ngày càng thay da đổi thịt ngẩng cao đầu tự tin hướng tới tương lai để “Sánh vai cùng các cường quốc năm châu bốn biển”. Nói đến tương lai, niềm tự hào của dân tộc ta không khỏi nói đến con người mà con người muốn được phát triển toàn diện là nhờ sự giáo dục của gia đình của nhà trường – xã hội bởi: “Giáo dục và đào tạo là chìa khoá để mở cánh cửa tương lai”. Nghị quyết của Trung ương Đảng đã từng nêu: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đòi hỏi phải có con người XHCN. Muốn thành công XHCN thì phải thành công ba dòng thúc cách mạng. Trong đó: “Cách mạng giáo dục là then chốt” “xã hội đi lên banừg giáo dục”. Đó cũng là chân lý của thời đại chúng ta. Bởi vậy, giáo dục dánh một trách nhiệm hết sức nặng nề và cấp thiết. Đặc biệt đối với bậc tiểu học “Là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân” (Điều 2 luật giáo dục). Bậc tiểu học là bậc rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã hội, phát triển các năng lực phẩm chất trang bị các phương pháp ban đầu về hoạt động nhân thức và hoạt động thực tiễn. Bồi dưỡng phát huy tình cảm, thói quen đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam. Mục tiêu đó được thực hiện thống qua việc dạy học các kiến thức cơ bản và thực hiện theo định hướng của yêu cầu giáo dục, nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng cần thiết giúp trẻ tiếp tục học ở bậc học cao hơn hay cho công việc lao động của trẻ sau này. Trong các môn học thì môn Toán đông một vai trò quan trọng. Môn Toán cung cấp những kiến thức cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo các đại lượng – giải. Môn toán ở Tiểu học là một môn thống nhất không chia thành phân môn. Bên cạnh đó, khả năng giáo dục môn Toán rất phóng phú, giúp học sinh phát triển tư duy, khả năng suy luận, trau dồi trí nhớ, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, chính xác. Môn Toán còn giúp học sinh phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, kích thích sự tò mò tự khám phá và rèn luyện một phong cách, tác phong làm việc khoa học. Yêu cầu đó rất cần thiết cho mọi người, góp phần phát triển ý chí và những đức tính tốt như: Cần cù, chịu khó, kiên trì và nhẫn nại trong học tập, có ý chí vượt khó vươn lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Rèn Kỹ Năng Giải Bài Toán Có Lời Văn Liên Quan Đến Tỷ Số
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 4 Khắc Phục Các Lỗi Khi Thực Hiện Giải Toán Có Lời Văn
  • Đề Tài Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 4&5 Chuyen De Giai Toan Lop 5 Doc
  • Đề Tài Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 4 Khắc Phục Các Lỗi Khi Thực Hiện Giải Toán Có Lời Văn
  • Rèn Kỹ Năng Giải Bài Toán Có Lời Văn Liên Quan Đến Tỷ Số
  • Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Luận Văn Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Mỗi môn học ở nhà trường Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Môn Toán là môn học có vị trí rất quan trọng vì các khái niệm, quy tắc, kiến thức, kĩ năng toán có nhiều ứng dụng trong cuộc sống.

    Môn Toán là một môn cần thiết cho người lao động, cần thiết để các em học tập các môn học khác ở các lớp trên. Bởi vậy việc giải toán góp phần bồi dưỡng củng cố kiến thức, kĩ năng toán học, rèn luyện phát triển óc sáng tạo và các phẩm chất tư duy cho học sinh. Có thể nói giải toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ ở học sinh. Toán giúp con người giải quyết các bài toán thực tế được diễn đạt bằng lời văn

    Dạy học toán nói chung và dạy giải toán có lời văn nói riêng là một hoạt động trí tuệ đầy khó khăn và phức tạp, nó làm nền tảng cho việc học tiếp chương trình toán học ở các lớp trên, nhưng thực tế ỏ các trường Tiểu học hiện nay thì việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn chưa đạt kết quả cao. Cụ thể các em không có phương pháp giải và ngôn ngữ còn hạn chế nên việc hiểu nội dung, yêu cầu của bài toán có lời văn chưa được đầy đủ và chính xác; ngoài ra khả năng suy luận của học sinh tiểu học còn kém, dẫn đến việc giải toán còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó các em ít có hứng thú giải các bài toán có lời văn bằng các bài toán có phép tính sẵn chỉ việc tính toán và điền kết quả.

    Phần I: mở đầu 1. Lý do chọn đề tài . Mỗi môn học ở nhà trường Tiểu học đều góp phần hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Môn Toán là môn học có vị trí rất quan trọng vì các khái niệm, quy tắc, kiến thức, kĩ năng toán có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Môn Toán là một môn cần thiết cho người lao động, cần thiết để các em học tập các môn học khác ở các lớp trên. Bởi vậy việc giải toán góp phần bồi dưỡng củng cố kiến thức, kĩ năng toán học, rèn luyện phát triển óc sáng tạo và các phẩm chất tư duy cho học sinh. Có thể nói giải toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ ở học sinh. Toán giúp con người giải quyết các bài toán thực tế được diễn đạt bằng lời văn Dạy học toán nói chung và dạy giải toán có lời văn nói riêng là một hoạt động trí tuệ đầy khó khăn và phức tạp, nó làm nền tảng cho việc học tiếp chương trình toán học ở các lớp trên, nhưng thực tế ỏ các trường Tiểu học hiện nay thì việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn chưa đạt kết quả cao. Cụ thể các em không có phương pháp giải và ngôn ngữ còn hạn chế nên việc hiểu nội dung, yêu cầu của bài toán có lời văn chưa được đầy đủ và chính xác; ngoài ra khả năng suy luận của học sinh tiểu học còn kém, dẫn đến việc giải toán còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó các em ít có hứng thú giải các bài toán có lời văn bằng các bài toán có phép tính sẵn chỉ việc tính toán và điền kết quả. Chính vì những lí do đó mà tôi đã chọn đề tài: "Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4". 2. Mục đích nghiên cứu Khi nghiên cứu đề tài này tôi hướng tới hai mục đích: + Giúp học sinh nhận dạng bài toán và lựa chọn phương pháp giải toán thích hợp để giải từng bài toán cụ thể trong quá trình học toán. + Giúp học sinh định hướng đúng đắn cách giải và trình bày bài giải một cách khoa học, chính xác, đầy đủ. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Với mục đích nghiên cứu của đề tài, khi nghiên cứu tôi hướng tới đối tượng là các bài toán có lời văn trong sách giáo khoa lớp 4, đây cũng là năm đầu tiên thực hiện thay sách ở lớp 4. Phạm vị nghiên cứu: Được sự nhất trí và tao điều kiện của BGH và tổ chuyên môn tôi chọn đối tượng nghiên cứu là các em học sinh khối IV và tập trung vào các em học sinh lớp 4B do tôi phụ trách với số học sinh là : . trong đó có . nữ. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. Căn vào nội dung, mục đích của đề tài và qua thực tế giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp. Tôi nhận thấy cần phải đi sâu nghiên cứu phân loại và hệ thống các dạng toán có lời văn. Tìm ra nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục những khó khăn mà học sinh thường gặp phải khi giải các bài toán có lời văn. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: + Phương pháp thống kê + Thực nghiệm giảng dạy + Phương pháp quan sát, trò chuyện, điều tra. phỏng ván + Trao đổi với đồng nghiệp + Ngiên cứu qua tài liệu, sách giáo khoa toán, qua các tập san, sách hướng dẫn. 6. Những đóng góp của đề tài. Qua đề tài này giúp cho học sinh phân loại, nhận dạng các bài toán có lời văn; đưa ra phương pháp giải phù hợp với từng dạng toán và trình bày lời giải một cách chính xác, khoa học, đầy đủ. 7. Kết cấu của đề tài. Phần I: Mở đầu Lí do chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Đóng góp mới của đề tài Phần II. Nội dung của đề tài. Chương I. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu. Sơ lược lịch sử của vấn đề Toán có lời văn được xem như cầu nối liền giữa kiến thức toán học trong nhà trường và ứng dụng kiến thức táon học trong xã hội. Thông qua việc dạy toán có lời văn ở tiểu học rèn tư duy, logic và cách diễn đạt của học sinh. Bài toán có lời văn là dạng toán phối hợp nhiều kiến thức các môn học trong nhà trường như: Tiếng Việt, tự nhiên-xã hôi. Nó góp phần xây dựng cơ sở ban đầu cho những ước mơ và niềm say mê khoa học. Cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Bậc tiểu học là bậc học quan trọng trong việc đặt nền máng cho sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh trên cơ sở cung cấp những tri thức ban đầu về khoa học tự nhiên và xã hội, phát triển nhân lực nhận thức , trang bị những phương pháp và kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng và phát huy tình cảm, thói quen, đức tính tốt đẹp của những công dân tương lai, xứng đáng là những chủ nhân của đất nước. Mục tiêu đó được thông qua việc dạy học các môn học đặc biệt là học toán ở tiểu học nói chung và dạy toán có lời văn nói riêng. Bài toán có lời văn khác với các dạng toán khác ở chỗ học sinh vừa phải định hướng cách giải, xây dựng phép tính vừa phải trình bày lời giải. Vì vậy nó đòi hỏi học sinh phải có sự tư duy logic. Các em phải tìm hiểu mối quan hệ giữa các dữ liệu với nhau, để xác định được cái đã biết và cái cần tìm. Đối với các em học sinh lớp 4, năm học này là năm học đầu tiên thực hiện chương trình thay sách, việc giải các bài toán có lời văn gặp nhiều khó khăn. Song vấn đề cần bàn ở đây là hướng dẫn các em giải toán như thế nào và dạy ra sao để học sinh nắm được cách giải toán, phương pháp giải các bài toán có lời văn. Vì vậy, rèn cho các em có kĩ năng giải toán có lời văn là việc làm rất cần thiết và đóng vai trò quan trọng giảng dạy môn toán ở tiểu học. Chương: II Thực trạng của vấn đề nghên cứu. Năm học 2007-2008 tôi được phân công phụ trách lớp 4B với .. học sinh. Sau khi nhận lớp tôi đi vào tìm hiểu, điều tra thực trạng và nhận thấy những khó khăn và thuận lợi sau: * Thuận lợi: Phần lớn các em trong lớp đều ngoan có ý thức vươn lên trong học tập. Các phụ huynh đã quan tâm hơn đến việc học tập của các em và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của nhà trường. * Khó khăn: Đồng Tân là một xã miền núi, xa trung tâm, đa số các em là con nông dân nên sự tiếp xúc với xã hội còn hạn chế. Một số gia đình còn khó khăn về kinh tế nên việc đầu tư thời gian, đồ dùng học tập cho các em còn thiếu do đó dẫn đến việc học tập của các em chưa được quan tâm đúng mức gây ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục. Đây là năm đầu tiên thay sách lớp 4 nên việc vận dụng, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy môn toán và đặc biệt là các bài toán có lời văn có hạn chế. Sau ba tuần giảng dạy tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng. Kết quả như sau: Trong tổng số học sinh có: - Số học sinh giải đúng bài toán có lời văn: .. em - Số học sinh giải đúng nhưng chưa biết trình bày: .. em - Số học sinh chưa biết trình bày một cách chính xác, đầy đủ: .. em. Chương III. Những giải pháp của đề tài. Xuất phát từ thực tế giảmg dạy, kết quả khảo sát trên tôi đã thực hiện các bước hướng dẫn học sinh giải các bài toán có lời văn theo các bước sau. 1. Tìm hiểu đề bài. Bước này yêu cầu học sinh phải đọc kỹ đề bài, nhớ những dữ kiện bài toán đã cho một cách chính xác và nắm vững yêu cầu của đề bài. Trong quá trình này học sinh cần nhận ra bài toán đã cho thuộc dạng toán nào. Sau đó giáo viên toán tắt đề bài bằng cách đặt câu hỏi: + Bài toán cho biết gì? + Bài toán yêu cầu gì? Khi học sinh đã trả lời tôi thường giúp các em gạch chân dưới những từ quan trọng mà nhiều khi học sinh đọc không đọc kĩ đề bài nên đã bỏ sót dẫn tới làm bài sai. Tuỳ theo từng dạng bài mà có cách tóm tắt phù hợp dễ hiểu. 2. Phân tích đề bài để tìm ra cách giải. Dựa và việc nhận dạng bài toán ở bước 1, ở bước này tôi hướng dẫn học sinh cách giải bắt đầu từ yêu cầu bài toán. + Muốn giải đáp những yêu cầu của đề bài thì cần phải biết những gì? Những điều đó đề bài đã cho biết chưa? Nếu chưa biết thì tìm bằng cách nào? dựa vào đâu để tìm? Cứ lần lượt như vậy cho đến khi nào học sinh có thể tìm được cách giải đáp từ những dữ kiện cho sẵn trong đề bài. Đây là bước quan trọng vì nó giúp học sinh hiểu được cách giải bài toán. Tổng hợp lời giải. Bước này ngược với bước 2. Dựa vào bước 2 các em vạch ra được thứ tự trình bày lời giải: "Cần tìm điều gì trước, điều gì sau". Tất nhiên những gì tìm được nhờ vào những dữ kiện cho sẵn trong bài sẽ được trình bày trước để làm cơ sở cho phân tích sau. Bước này giúp học sinh trình bày lời giải một cách chặt chẽ, logic. 4. Trình bày lời giải. Đây là bước trình bày giải một cách hoàn chỉnh dựa vào bước 3. Trong chương trình Toán 4 tôi tập trung vào 3 dạng toán cơ bản để hướng dẫn học sinh. * Đối với bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỷ tôi thực hiện như sau:ư Ví dụ: Bài toán 2 (148). Hai kho thóc chứa 125 tấn, trong đó số thóc ở kho thứ nhất bằng 3/4 số thóc ở kho thứ hai. Hỏi mỗi kho chứa bao nhiêu tấn thóc? Bước 1: Tìm hiểu đề bài. Yêu cầu học sinh đọc đề nhiều lần dể xác định được dạng bài toán. + Gợi ý học sinh hiểu và toám tắt bài toán. Bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu tìm gì? Bước 2: Phân tích đề bài Đây là bài toán dạng nào? (Bài toán về tìm hai số khi biết tổng và tỉ sô của hai số đó) Xác định số lớn, số bé: Số thóc ở kho 1 là số lớn; số thóc ở kho 2 là số bé Vậy để tìm số thóc ở mỗi kho ta phải dựa vào những dữ kiên nào? (Dựa vào tổng là 125 và tỉ số là 3/4) Bài tập: Bước 2. Phân tích đềư bài để tìm ra cách giải. Đây là bài toán dạng nào? III. Kết quả đạt được. Bằng các biện pháp dã thực hiện ở trên, tôi nhận thấy việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn ở lớp 4 của tôi có tiến bộ rõ rệt. Hầu hết tất cả các em đã có kĩ năng giải đúng, chính xác, khoa học các bài toán có lời văn. Học sinh có thói quen đọc kĩ đề bài, gạch chân dưới những dữ kiện của đè bài và toám tắt bài toán trước khi trình bày bài giải. Mọi học sinh đều được hoạt động học tậpmột cách tự giác, vận dụng bài mẫu vào làm bài tập nhanh, có kết quả cao. Học sinh hứng thú học toán, giải toán có lời văn làm cho tiết học sôi nổi, nhẹ nhàng và tự lĩnh hội, chiếm lĩnh chi thức của bài học để đạt được kết quả cao nhất. Cuối năm tôi khảo sát chất lượng học sinh bằng bài toán có lời văn kết quả như sau: + Giải đúng chính xác, đầy đủ, khoa học: em + Số còn lại là các em đã biết cách giải các bài toán có lời văn ngưng trình bày bài chưa dược chính xác, khoa học và đầy đủ. Phần III. Bài học kinh nghiệm. Trong thực tế giảng dạy và qua thời gian nghiên cứu đề tài này , tôi nhận thấy; để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh người giáo viên cần phải: + Tận tuỵ với cộng việc, nhiệt tình vời học sinh. +Tìm hiểu học sinh để phát hiện ra nguyên nhân khiến học sinh đạt được cũng như chưa đạt được kết quả trong học tập. Từ đó phat huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu ở học sinh. Người giáo viên không những phải có kiến thức vững chắc phương pháp giảng dạy hay mà giáo viên cần phải cho học sinh rèn luyện, thực hành nhiều; giáo viên không nên chữa hết các bài tập. + Luôn khảo sát, phân loại học sinh để có phương pháp giảng dạy phù hợp. Cần phải gần gũi động viên học sinh, khích lệ các em hứng thú trong học tập. + Luôn học hỏi, trao đổi kinh nghiềm với đồng nghiệp. Tôi xin trân thành cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 4&5 Chuyen De Giai Toan Lop 5 Doc
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4 Với Dạng Bài Toán
  • Các Dạng Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4 Hay Nhất
  • 110 Đề Thi Học Kì 1 Môn Toán Lớp 4 Năm 2021 Tải Nhiều
  • Chuyên Đề: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Hs Lớp 4&5 Chuyen De Giai Toan Lop 5 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 4 Khắc Phục Các Lỗi Khi Thực Hiện Giải Toán Có Lời Văn
  • Rèn Kỹ Năng Giải Bài Toán Có Lời Văn Liên Quan Đến Tỷ Số
  • Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • Đề Tài Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Trong Khi Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4
  • PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO DI LINH

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO

    CHAÁT LÖÔÏNG GIẢI TOÁN CÓ

    Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn T oán. Môn này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của con người. Môn T oán là ”chìa khoá” mở cửa cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới. Vì vậy, môn T oán là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, nó giúp con người phát triển toàn diện, nó góp phần giáo dục tình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự phồn vinh của quê hương đất nước.

    Trong dạy – học toán ở tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan trọng. Có thể coi việc dạy – học và giải toán là ” hòn đá thử vàng” của dạy – học toán. Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh và trong chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải toán có lời văn là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh.

    Dạy học giải toán có lời văn ở bậc tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau:

    – Giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành đã học, rèn luyện kỹ năng tính toán bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn.

    Ở học sinh lớp 4- 5, kiến thức toán đối với các em không còn mới lạ, khả năng nhận thức của các em đã được hình thành và phát triển ở các lớp trước, tư duy đ ã bắt đầu có chiều hướng bền vữ ng và đang ở giai đoạn phát triển. Vốn sống, vốn hiểu biết thực tế đã bước đầu có những hiểu biết nhất định. Tuy nhiên trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải các bài toán có lời văn cao hơn những lớp trước, các em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài làm phải trả lời chính xác với phép tính, với các yêu cầu của bài toán đưa ra, nên thường vướng mắc về vấn đề trình bày bài giải: sai sót do viết không đúng chính tả hoặc viết thiếu, viết thừa từ. Một sai sót đáng kể khác là học sinh thường không chú ý phân tích theo các điều kiện của bài toán nên đã lựa chọn sai phép tính.

    Với những lý do đó, trong học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4-5 nói riêng, việc học toán và giải toán có lời văn là rất quan trọng và rất cần thiết. Để thực hiện tốt mục tiêu đó, giáo viên cần phải nghiên cứu, tìm biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bài toán một cách vững vàng, hiểu sâu được bản chất của vấn đề cần tìm, mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận toán lôgic thông qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện. Từ đó giúp các em hứng thú, say mê học toán. Từ những căn cứ đó chúng tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4- 5” .

    – Kĩ năng đọc đề , phân tích đề của HS còn hạn chế.

    – Chưa biết lập kế hoạch giải bài toán.

    – Khả năng phân tích , tổng hợp, khái quát hoá vấn đề còn nhiều hạn chế.

    – Kĩ năng đặt lời giải, kĩ năng tính toán của học sinh còn gặp nhiều khó khăn.

    – Học sinh chưa được luyện tập thường xuyên, nên thường nhầm lẫn giữa các dạng toán.

    – Đa số giải toán có lời văn thường tập trung ở các đối tượng học sinh khá giỏi nên thói quen của các đối tượng HS trung bình và yếu là bỏ qua các bài toán giải hoặc làm cho có, không động não suy nghĩ .Từ thói quen lười suy nghĩ dẫn đến hiệu quả thấp .

    1/ Phương pháp trực quan:

    2/ Phương pháp thực hành luyện tập:

    Sử dụng phương pháp này để thực hành luyện tập kiến thức, kỹ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp ( Chủ yếu ở các tiết luyện tập ). Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: gợi mở – vấn đáp và cả giảng giải – minh hoạ.

    3/ Phương pháp gợi mở – vấn đáp:

    Đây là phương pháp rất cần thiết và thích hợp với học sinh tiểu học, rèn cho học sinh cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh.

    4/ Phương pháp giảng giải – minh hoạ:

    Giáo viên hạn chế dùng phương pháp này. Khi cần giảng giải – minh hoạ thì giáo viên nói gọn, rõ và kết hợp với gợi mở – vấn đáp. Giáo viên nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh ( Ví dụ: Bằng hình vẽ, mô hình, vật thật…) để học sinh phối hợp nghe, nhìn và làm.

    5/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng:

    Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng đã cho ở trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó. Giáo viên phải chọn độ dài các đoạn thẳng một cách thích hợp để học sinh dễ dàng thấy được mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng tạo ra hình ảnh cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ tìm tòi giải toán.

    – Tìm số trung bình cộng.

    – Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.

    – Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.

    Người giáo viên phải nắm vững các dạng toán để khi hướng dẫn học sinh giải toán sẽ tổ chức cho học sinh trước hết xác định dạng toán để có cách giải phù hợp.

    Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp. Hình thành kỹ năng giải toán khó hơn nhiều so với hình thành kỹ năng tính vì bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học. Giải toán không chỉ là nhớ mẫu để rồi áp dụng , mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý nghĩa của phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi biết tính đúng.

    Ví dụ :Bình chơi 3 ván cờ hết 3 phút 30 giây. Hỏi trung bình mỗi ván cờ Bình chơi hết bao nhiêu thời gian?

    Đối với các bài toán thuộc dạng điển hình, GV phải giúp HS nắm được vấn đề để từ đó HS khái quát được vấn đề , hình thành cách tính hoặc các công thức tính toán.

    – GV phải giúp HS n ắm được các thuật ngữ, các khái niệm trong các dạng toán điển hình: Q uan hệ tỉ lệ, Vận tốc, T ỉ số phần trăm , v . v… Những dạng toán dựa trên những kiến thức đã học để phát triển bài mới .

    GV cần dựa vào tình hình của lớp để có phương pháp cụ thể kết hợp với sự nhận thức của học chúng tôi cần thực hiện lược đồ 4 bước giải toán: tìm hiểu đề -tóm tắt bài toán – lập kế hoạch giải- tìm lời giải và giải bài toán ( thử lại).Định hướng cho học sinh thói quen phân tích -tổng hợp để hình thành khả năng trừu tượng hoá-khái quát hoá vấn đề .Đồng thời gv có thể liên hệ vào thực tế để học sinh cảm thấy giải toán gần gũi với cuộc sống .Thông thường giải toán có lời văn HS thấy khó khăn khi lập luận vấn đề nên đặt lời giải thường bị sai, tên đơn vị không phù hợp với đề bài, cách trình bày bài toán nên khi dạy HS giải toán GV cần lưu ý các bài toán mẫu; Cách trình bày bảng phù hợp để HS học tập cách trình bày. Mỗi dạng bài GV cần lưu ý các điểm nhấn để HS khắc sâu kiến thức đồng thời định hướng cho các em dễ dàng nhận ra dạng toán và tìm được nhiều cách giải.

    Baøi toaùn1: Moät lôùp hoïc coù 25 hoïc sinh, trong ñoù coù 13 hoïc sinh nöõ. Hoûi soá HS nöõ chieám bao nhieâu phaàn traêm soá HS caû lôùp? (Baøi 3/75).

    GV caàn chuù troïng vaøo khaâu phaân tích tæ soá phaàn traêm: “Soá HS nöõ chieám bao nhieâu phaàn traêm soá HS caû lôùp, em hieåu caâu hoûi ñoù nhö theá naøo?”. (Neáu soá HS caû lôùp ñöïôc chia laøm 100 phaàn baèng nhau thì soá HS nöõ chieám bao nhieâu phaàn?). Thöïc chaát baøi toaùn seõ laø: = = =?(%)

    Baøi toaùn 2: Moät ngöôøi baùn ñöôïc 120 kg gaïo, trong ñoù coù 35% laø gaïo neáp. Hoûi ngöôøi ñoù baùn ñöôïc bao nhieâu kiloâgam gaïo neáp? (Baøi 2/77).

    Theo caùch thoâng thöôøng, GV thöôøng hoûi “Baøi toaùn cho ta bieát nhöõng gì?; Baøi toaùn yeâu caàu ta tìm gì?” roài gaïch chaân nhöõng töø ngöõ quan troïng, nhöng ñoái vôùi daïng baøi naøy, caàn chuù troïng vaøo caâu hoûi :

    – Baøi toaùn cho bieát “35% laø gaïo neáp” noùi leân ñieàu gì? (yeâu caàu HS nhaéc ñi nhaéc laïi nhieàu laàn yù nghóa cuûa tæ soá naøy).

    “35% laø gaïo neáp” cho bieát toång soá gaïo maø ngöôøi ñoù baùn (bao goàm caû gaïo teû) ñöôïc chia laøm 100 phaàn baèng nhau thì soá gaïo neáp chieám 35 phaàn.

    Ta coù sô ñoà sau: = =

    Vôùi caùch höôùng daãn HS phaân tích ñeà toaùn nhö vaäy, HS seõ naém chaéc ñeà toaùn hôn vaø con soá “35%” khoâng coøn tröøu töôïng ñoái vôùi caùc em nöõa, vaø cuõng laø giuùp caùc em quen daàn vôùi kí hieäu “%”.

    Baøi toaùn 3: Soá HS khaù gioûi cuûa Tröôøng Vaïn Thònh laø 552 em, chieám 92% soá HS toaøn tröôøng. Hoûi Tröôøng Vaïn Thònh coù bao nhieâu hoïc sinh? (Baøi 1/78).

    Vôùi caùch höôùng daãn phaân tích ñeà nhö ôû baøi toaùn 2, ta yeâu caàu HS phaûi trình baøy ñöôïc : HS khaù gioûi chieám 92% nghóa laø neáu soá HS caû tröôøng ñöôïc chia laøm 100 phaàn baèng nhau thì soá HS khaù gioûi chieám 92 phaàn.

    Sô ñoà minh hoïa: = =

    Khi höôùng daãn HS phaân tích baøi taäp daïng naøy, ta laáy baøi toaùn 2 ra ñeå so saùnh vaø khaéc saâu cho HS thaáy söï khaùc nhau giöõa hai daïng baøi taäp naøy laø ôû choã naøo? Baèng caùch, vöøa chæ vaøo döõ lieäu baøi toaùn cho, vöøa keát hôïp chæ treân sô ñoà minh hoïa cho HS thaáy ñaâu laø tìm tæ soá phaàn traêm cuûa moät soá cho tröôùc, ñaâu laø tìm moät soá khi bieát tæ soá phaàn traêm cuûa soá ñoù. Muïc ñích cuõng laø ñeå HS khoâng nhaàm laãn giöõa hai daïng baøi taäp naøy.

    + Nhận dạng toán (Tìm được cách tính phù hợp với dạng toán)

    + Tóm tắt bài toán ( Dựa vào các dạng toán để có cách tóm tắt phù hợp)

    + Yêu cầu HS tìm lời giải và giải bài tập.

    Ví dụ: Lớp 5 A có 35 học sinh. Số học sinh nam bằng số học sinh nữ. Hỏi số học sinh nữ nhiều hơn số học sinh nam là bao nhiêu?

    -Tóm tắt bài toán ( Bằng sơ đồ thể hiện tổng và tỉ số).

    -Bước 2: Lập kế hoạch giải:

    H: Muốn biết số HS nữ ( nam) của lớp ta làm như thế nào? ( Dựa vào số HS cả lớp và số HS nam bằng số HS nữ.)

    GV lập lược đồ:

    Muốn tìm số HS nữ nhiều hơn số HS nam:

    Bước 3: GV yêu cầu HS giải bài tập:

    35: (3+4) x 4= 20 ( học sinh)

    Số học sinh nam của lớp đó là:

    Số học sinh nữ nhiều hơn số học sinh nam:

    20-15 = 5 ( học sinh)

    Đáp số: 15 học sinh.

    Bước 4 : Thử lại:

    15: 20 =

    + Về kiến thức:

    -Trong quá trình hướng dẫn HS giải toán , GV cần vận dụng lược đồ 4 bước để hình thành thói quen phân tích tổng hợp khi giải toán.

    -Lưu ý cách trình bày bảng.

    +Về phương tiện:

    + Về hình thức tổ chức:

    +Về phương pháp:

    Coi trọng các phương pháp vấn đáp , luyện tập thực hành. Cần phối hợp linh hoạt các phương pháp để nâng cao chất lượng tiết dạy.

    – Yêu cầu HS tính toán chính xác.

    Sau khi nghiên cứu đề ra một số biện pháp giải toán có lời văn ở lớp 4- 5, tổ chúng tôi thống nhất tổ chức thực hiện chuyên đề toán, về phương pháp, về cách giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4- 5 đã và đang được triển khai áp dụng thực hiện ở các lớp trong khối 4- 5.

    KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT

    Hướng dẫn và giúp học sinh giải toán có lời văn nhằm giúp các em phát triển tư duy trí tuệ, tư duy phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, rèn luyện tốt phương pháp suy luận lôgic. Bên cạnh đó đây là dạng toán rất gần gũi với đời sống thực tế.

    Do vậy, việc giảng dạy toán có lời văn một cách hiệu quả giúp các em trở thành những con người linh hoạt, sáng tạo, làm chủ trong mọi lĩnh vực và trong cuộc sống thực tế hàng ngày.

    II. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT:

    Đối với giáo viên, ở mỗi dạng toán cần hướng dẫn học sinh nhận dạng bằng nhiều cách: đọc, nghiên cứu đề, phân tích bằng nhiều phương pháp ( Mô hình, sơ đồ đoạn thẳng, suy luận ….) để học sinh đễ hiểu, dễ nắm bài hơn. Không nên dừng lại ở kết quả ban đầu ( giải đúng bài toán ) mà nên có yêu cầu cao hơn đối với học sinh.

    Ví dụ: Như yêu cầu học sinh ra một đề toán tương tự hoặc tìm nhiều lời giải khác nhau….

    Trong giảng dạy giáo viên cần chú ý phát triển tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khả năng suy luận lôgíc, giúp các em nắm chắc kiến thức cụ thể. Với toán có lời văn, đó là cách giải và trình bày lời giải, sử dụng tốt tất cả các phương pháp đã nêu ở trên.

    Không nên dừng lại ở kết quả ban đầu ( giải đúng bài toán ) mà nên có yêu cầu cao hơn đối với học sinh. Ví dụ: Như yêu cầu một học sinh ra một đề toán tương tự hoặc tìm nhiều lời giải khác nhau…..

    Sau mỗi bài giải, học sinh phải biết xem xét lại kết quả mình làm để giúp các em tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề gì đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 4
  • Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4 Với Dạng Bài Toán
  • Các Dạng Giải Toán Có Lời Văn Lớp 4 Hay Nhất
  • 110 Đề Thi Học Kì 1 Môn Toán Lớp 4 Năm 2021 Tải Nhiều
  • Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 4 Tập 1 Tuần 1
  • Đề Tài: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 4 Giải Toán Có Lời Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Gia Sư Toán Hướng Dẫn Học Sinh Tiểu Học Giải Toán Có Lời Văn
  • Các Bước Giúp Học Sinh Lớp 1 Học Tốt Dạng Toán “giải Toán Có Lời Văn”
  • Giáo Án Toán Lớp 1: Giải Toán Có Lời Văn
  • Hướng Dẫn Học Sinh Giải Toán Có Lời Văn
  • Bài Tập Phần Tìm Hai Số Khi Biết Tổng Và Hiệu Hai Số Đó
  • Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn.

    Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt.góp phần giáo dục ý chí nhẫn nại, ý chí vượt khóTừ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy – học toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học. Vậy giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào? Để truyền đạt kiến thức và khả năng học bộ môn này tới học sinh tiểu học.

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN HIỆP TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN AN 5 ˜–µ—™ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Người thực hiện: Võ Hoàng Anh Chức vụ: Giáo viên chủ nhiệm lớp 4C Năm học 2011 - 2012 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Họ và tên: Võ Hoàng Anh Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường tiểu học Tân An 5 I: Lời nói đầu 1/ Lí do chọn đề tài: Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt...góp phần giáo dục ý chí nhẫn nại, ý chí vượt khóTừ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh được phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học. Vậy giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào? Để truyền đạt kiến thức và khả năng học bộ môn này tới học sinh tiểu học. Theo chúng tôi các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí mục đích và nhiệm vụ mục tiêu giáo dục của môn toán ở bài học nói chung và trong giờ dạy toán lớp 4 nói riêng. Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến thức toán học, rèn kỹ năng giải toán mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một cách khoa học, hiệu quả cho học sinh tức là dạy cách học. Vì vậy giáo viên phải đổi mới phương pháp và các hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả dạy - học. Từ đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học là dễ nhớ nhưng mau quên, sự tập trung chú ý trong giờ học toán chưa cao, trí nhớ chưa bền vững thích học nhưng chóng chán. Vì vậy giáo viên phải làm thế nào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập, chủ động tích cực trong việc tiếp thu kiến thức. Xuất phát từ cuộc sống hiện tại. Đổi mới của nền kinh tế, xã hội, văn hoá, thông tin...đòi hỏi con người phải có bản lĩnh dám nghĩ dám làm năng động chủ động sáng tạo có khả năng để giải quyết vấn đề. Để đáp ứng các yêu cầu trên trong giảng dạy nói chung, trong dạy học Toán nói riêng cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả dạy - học. Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tính cực của học sinh làm cho hoạt động dạy trên lớp "nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả". Để đạt được yêu cầu đó giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh. Để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng. Trong chương trình môn toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng. Thông qua việc giải toán các em thấy được nhiều khái niệm toán học. Như các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học...đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải toán đã rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới. Có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưa điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót. Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học chung và lớp 4 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh. 2/ Sơ lược lịch sử vấn đề Nói đến hoạt động dạy và học thì không thể không nói đến phương pháp dạy và phương pháp học, hai hoạt động đó diễn ra song song. Nếu chỉ chú ý đến truyền thụ cho HS mà không chú ý đến việc tiếp thu và hình thành lĩ năng, kĩ xảo như thế nào thì quá trình học sẽ không mang lại kết quả cao. Kiến thức giải toán có lời văn dạng tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó là nội dung trọng tâm của dạy học toán lớp 4 bậc tiểu học. Về thực chất nội dung này là sự mở rộng những hiểu biết về tổng và tỉ số. Vì vậy các bài toán về dạng tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó điều có dạng tương tự. -Do đó khi học sinh làm bài về dạng trên, giáo viên giúp học sinh tự nhớ lại: -Cách xác định tổng và tỉ. -Cách xác định số phần tương ứng. -Vẽ sơ đồ tương ứng với số phần. -Tìm tổng số phần bằng nhau. -Tìm số bé. -Tìm số lớn. Đây là cơ hội để học sinh củng cố các kiến thức về kĩ năng cơ bản về đọc, viết, phân biệt đồng thời cũng giúp HS khắc sâu một số đặc điểm riêng của dạng toán này. II/ Thực trạng vấn đề 1. Thực trạng tình hình Trong các năm học vừa qua tôi được phân công dạy lớp 4 tôi nhận thấy tình hình học tập của các em trong lớp không đồng đều. Môn toán là môn học khó khăn, học sinnh dễ chán, trình độ nhận thức của các em không đồng đều. Một số HS được sự quan tâm của gia đình thì ý thức học tập tốt đạt kết quả cao nhất là môn toán. Cón các HS đạt kết quả chưa cao là do chưa có ý thức được việc học, gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình, vì vậy khi bước sang giải toán có lời văn thì HS thường bị lúng túng, nhiều HS không nắm vững được tính chất của dạng toán này. Trong thực hành thường là thiếu vững chắc trong phân biệt tổng, tỉ, vẽ sơ đồ minh họa thao tác đặt lời giải và đặt phép tính thường bị sai. Năng lực học tập tự giác của các em còn hạn chế, chỉ tập trung ở một số em khá, giỏi, đa số các HS trung bình thường quen học thụ động. Từ những vấn đề đó tôi đã tìm hiểu; nghiên cứu đưa ra một số biện pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học môn toán. 2/ Những hạn chế khó khăn Được sự quan tâm của BGH trong mấy năm liền tôi đều dạy lớp 4, đã quen dần với nhận thức của HS ở địa phương, tuy nhiên trong quá trình dạy cũng gặp không ít những khó khăn hạn chế: -Một số em mất căn bản ở những lớp dưới. -Một số em chưa nắm tốt quy trình của toán có lời văn. -Một số em thường thực hiện sai lời giải và các phép tính -Một số em thường không đọc kĩ đề toán, chủ quan trong làm bài. Do các em chưa xác định tổng, tỉ, chưa phân biệt được số phần tương ứng nân dẫn đến vẽ sơ đồ sai. Nguyên nhân của hiện tượng này là HS chưa nắm kĩ về quy trình thực hiện các bước. Một số em chưa biết dạng toán nên đôi khi còn nhầm lẫn đến giải bài toán chưa đạt kết quả. Cơ sở vật chất trang bị chưa đầy đủ nên thực hiện phương pháp này đạt kết quả chưa cao. Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức. Vào đầu năm học trong đợt khảo sát chất lượng về giải toán có lời văn, đầu năm kết quả như sau : Số học sinh Tóm tắt bài toán Chọn và thực hiện đúng phép tính Lới giải và đáp số Đạt Tỷ lệ % Chưa đạt Tỷ lệ % Đạt Tỷ lệ % Chưa đạt Tỷ lệ % Đạt Tỷ lệ % Chưa đạt Tỷ lệ % 35 5 14,3 30 85,7 5 14,3 30 85,7 9 25,7 26 74,3 III/ Giải pháp và kết quả * Giải pháp Qua đặc điểm tình hình khó khăn trên tôi mạnh dạng áp dụng đổi nới phương pháp giải toán có lời văn cho HS lớp 4. vào công việc giảng dạy môn toán, nhằm giúp các em có thể giải các bài toán một cách dễ dàng, các em thực sự hứng thú ham học không chán nản khi gặp những bài toan1kho1 ở dạng toán này. Trên lớp tôi vừa áp dụng đổi mới phương pháp vừa làm tốt công tác kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Qua kết quả khảo sát cho thấy kĩ năng giải các bài toán có lời văn của các em còn rất nhiều hạn chế vì thế tôi liền lên kế hoạch như sau : - Tìm hiểu hoàn cảnh của từng học sinh yếu môn toán có khó khăn như thế nào. - Vì sao khiến các em không thích học môn toán. - Chia học sinh thành từng tổ, từng nhóm, mỗi nhóm có học sinh khá, giỏi làm tổ trưởng và điều hành các bạn trong tổ những việc giáo viên giao. - Lập kế hoạch cho từng tổ. - Giáo viên hạn chế phê bình, chê trách học sinh, thường xuyên chấm điểm động viên, khen ngợi kịp thời. - Nhiệt tình trong giảng dạy không chạy theo thành tích mà cố gắng truyền đạt tất cả các nội dung thật sâu sắc, hướng dẫn tỉ mỉ từng bước giải. Bên cạnh đó khi học đến dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó, giáo viên phải lên kế hoạch, phương pháp truyền thụ như thế nào để các em có thể học tốt, không rụt rè, bở ngở nhất là nhận dạng toán, vẽ sơ đồ tìm tổng số phần, và các phép tính, tôi có các biện pháp hướng dẫn như sau : 1/ Tự học tập và nghiên cứu để nắm vững được tác dụng cũng như việc tiến hành thực hành đổi mới trong phương pháp giảng dạy : Tôi thấy đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy giải toán nói riêng là nhằm tìm ra đựơc phương pháp logic cho từng nội dung của từng môn, từng bài để nhằm đạt được chất lượng cao nhất trong giảng dạy. Đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay chính là để phát hiện, lựa chọn phương pháp cụ thể phù hợp với quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm và phù hợp với nội dung giáo dục cụ thể. Vì vậy chúng tôi thường xuyên sinh hoạt thăm lớp dự giờ của đồng nghiệp để học tập và xây dựng thống nhất cách thực hiện phương pháp đổi mới giảng dạy cho tất cả các môn học cho phù hợp để tìm ra con đường chuyển tải chính thức tới học sinh bằng con đường nhanh nhất, ngắn gọn nhất. Cần nghiên cứu, tìm hiểu để nắm được yêu câu của việc dạy toán nói chung và loại giải toán: "Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó" nói riêng. Đồng thời nắm được những thiếu sót của học sinh trong giải toán có lời văn. 2/ Chuẩn bị cho giờ dạy giải toán theo phương pháp đổi mới đạt kết quả. Để có được giờ dạy giải toán theo phương pháp đổi mới đạt kết quả tốt, phát huy được tính tích cực của học sinh thì giáo viên phải có thiết kế cụ thể rõ ràng, nó sẽ quyết định lớn đến chất lượng giờ dạy và đồng thời giáo viên cũng là người tổ chức, hướng dẫn thiết kế cho từng học sinh. Mọi học sinh đều chủ động học tập và phát triển cao nhất, chính vì lẽ đó cả 2 đối tượng thầy và trò đều phải có sự chuẩn bị chu đáo. Sự chuẩn bị của giáo viên: Trước khi dạy bất cứ một loại giải nào, trong tổ chúng tôi đều thống nhất là dành thời gian kĩ lưỡng về tất cả các bài tập của dạng toán đó, từ bài giảng đến bài luyện, từ bài trong sách giáo khoa đến bài trong vở bài tập để thấy được phương pháp giảng dạy phù hợp, ngắn gọn, học sinh dễ tiếp thu, giáo viên nói ít và chọn được những bài thêm để nâng cao kiến thức đối với đối tượng học sinh khá, giỏi dạy. Đồng thời cũng lường trước được chỗ học sinh hay vướng mắc trong khi thực hành giải loại toán đó mà giáo viên lưu ý trong giảng dạy. - Khi dạy loại: "Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó". Học sinh được học 2 tiết bài mới (đó là tiết 1: "Tỉ số ở dưới dạng số tự nhiên", có nghĩa là so sánh giữa giá trị của số lớn với giá trị của số bé. Tiết 2: "Tỉ số ở dưới dạng phân số", có nghĩa...). Thì học sinh thường mắc ở dạng tỉ số là phân số nên giáo viên dạy cần lưu ý nhấn mạnh để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Từ mối quan hệ tỉ số là hai số trong bài giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra sự biểu diễn trên sơ đồ tóm tắt bài toán. Đây là loại toán giải khó đối với học sinh lớp 4 nên giáo viên phải giúp học sinh: + Xác định được tổng, tỉ số đã cho + Xác định được hai số phải tìm là số nào? Từ đó hướng tới phương pháp giải chung là ( phương pháp giải bài toán): Tìm tổng số phần bằng nhau Tìm giá trị của một phân bằng lấy tổng của hai số chia cho tổng số phần bằng nhau, rồi dựa vào mối quan hệ giữa tỉ số của hai số của hai số mà tìm ra giá trị của mỗi số phải tìm. Trên cơ sở đó học sinh sẽ nắm cách giải đặc trưng của loại toán này. Để củng cố được kĩ năng và kiến thức của loại toán này, tôi cho các em tự đặt đề toán theo loại toán đó đồng thời chọn các bài toán khó cho học sinh khá, giỏi (áp dụng vào tiết luyện tập hay buổi dạy riêng biệt đối với học sinh khá, giỏi). Tất cả sự chuẩn bị trên của giáo viên đều được thể hiện cụ thể trên bài soạn đủ các bước, đủ các yêu cầu và thể hiện được công việc của thầy và trò trong giờ giải toán. Sự chuẩn bị của học sinh: Đối với học sinh đã đạt được giáo dục và bồi dưỡng ý thức thích học toán, có thú vị, hào hứng trong hoạt động học toán, có phương pháp học bộ môn toán, có thao tác về giải toán phải có đầy đủ các dụng cụ học toán và chuẩn bị đầy đủ cho phù hợp với từng tiết học. Đối vưói học sinh khá, giỏi trong những buổi bồi dưỡng riêng biệt cần có thêm sách giáo khoa về luyện giải, sách giáo khoa nâng cao... Song không thể thiếu được những kiến thức về toán học có hệ thống logic từ lớp dưới, từ bài học trước phải chắc chắn làm cơ sở, nền tảng giúp học sinh tự tin trong hoạt động thực hanh, trong việc tiếp thu kiến thức. Ví dụ như khi học giải toán vê "Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó" thì các em đã được học bài trước là "Tỉ số"... 3/ Quy trình thực hiện dạy toán có lời văn: - Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp. Việc hình thành kỹ năng giải toán hơn nhiều so với kĩ năng tính vì bài toán giải là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm quan hệ toán học, ....chính vì vậy đặc trưng đó mà giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh có được thao tác chung trong quá trình giải toán sau: Bước 1: Đọc kỹ đề bài: Có đọc kỹ đề bài học sinh mới tập trung suy nghĩ về ý nghĩa nội dung của bàit oán và đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán. Chúng tôi có rèn cho học sinh thói quen chưa hiểu đề toán thì chưa tìm cách giải. Khi giải bài toán ít nhất đọc từ 2 đến 3 lần. Bước 2: Phân tích tóm tắt đề toán. Để biết bài toán cho biết gì? Hỏi gì? (tức là yêu cầu gì?) Đây chính là trình bày lại một cách ngắn gọn, cô đọng phần đã cho và phần phải tìm của bài toán để làm rõ nổi bật trọng tâm, thể hiện bản chất toán học của bài toán, được thể hiện dưới dạng câu văn ngắn gọn hoặc dưới dạng các sơ đồ đoạn thẳng. Bước 3: Tìm cách giải bài toán: Thiết lập trình tự giải, lựa chọn phép tính thích hợp. Bước 4: Trình bày bài giải: Trình bày lời giải (nói - viết) phép tính tương ứng, đáp số, kiểm tra lời giải (giải xong bài toán cần thử xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không? (trong một số trường hợp nên thử xem có cách giải khác gọn hơn, hay hơn không? 4/ Áp dụng phương pháp dạy giải bài toán có lời văn : Đối với dạng toán này thì có các dạng bài nổi bật sau: Giúp học sinh nhận biết 2 dạng toán " tổng tỷ" và " hiệu tỷ". Giáo viên có thể giúp học sinh nhận biết 2 dạng toán này bằng các bước: Bước 1: cho học sinh đọc kỹ đề, phân tích ( gạch chân) Bước 2: xác định tỷ số Bước 3: giúp học sinh vẽ sơ đồ đoạn thẳng có các số phần bằng nhau. Phân tích sơ đồ đoạn thẳng giúp học sinh nắm vững số bé bao nhiêu phần, số lớn bao nhiêu phần. Để giúp học sinh nhân biết vấn đề trên, giáo viên cần phải hình thành: + Học sinh nắm vững và so sánh 2 sơ đồ ( tổng tỉ, hiệu tỉ) khác nhau ở điểm nào Ví dụ: ? trang Sơ đồ 1: An: 80 trang Minh: ? trang ? trang Sơ đồ 2: An: 60 trang Minh: ? trang Giáo viên cho học sinh nhận dạng được 2 sơ đồ có sự khác nhau ở chỗ: + Sơ đồ 1: tổng của 2 đoạn thẳng biểu diễn trên sơ đồ là 80 trang. An bằng Minh hoặc ( Minh hơn An 3 lần) + Sơ đồ 2: 2 đoạn thẳng được biểu diễn, chia đều số phần trên mỗi đoạn. Biết được sự hơn kém giữa đoạn này và đoạn kia ( hoặc ít hơn, nhiều hơn) Từ những giải pháp trên, học sinh sẽ vẽ được trên sơ đồ, tìm được tổng số phần, hoặc hiệu số phần của 2 dạng toán trên. Từ đó, học sinh sẽ giải toán trên một cách dễ dàng. * KẾT QUẢ: Sau khi nghiên cứu và thực hiện đề tài trên trong giảng dạy trong năm học tôi đã thu được kết quả như sau: Số học sinh Tóm tắt bài toán Chọn và thực hiện đúng phép tính Lới giải và đáp số Đạt Tỷ lệ % Chưa đạt Tỷ lệ % Đạt Tỷ lệ % Chưa đạt Tỷ lệ % Đạt Tỷ lệ % Chưa đạt Tỷ lệ % 35 34 97,1 1 2,9 33 94,3 2 5,7 33 94,3 2 5,7 Như vậy rèn cho các em có phương pháp học là biện pháp tốt nhất của người làm công tác giáo dục. IV/ Kết luận 1/ Tóm lược giải pháp Để có kết quả giảng dạy tốt đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt tình và có phương pháp giảng dạy tốt. Có một phương pháp giảng dạy tốt là một quá trình tìm tòi, học hỏi và tích lũy kiến thức, kinh nghiệm của bản thân mỗi người. Là người giáo viên được phân công giảng dạy khối lớp 4. Chúng tôi nhận thấy việc tích luỹ kiến thức cho các em là cần thiết, nó tạo tiền đề cho sự phát triển trí thức của các em "cái móng" chắc sẽ tạo bàn đạp và đà để tiếp tục học lên lớp trên và hỗ trợ các môn học khác. 2/ Bài học kinh nghiệm Muốn việc dạy học của thầy và trò được nâng lên việc nghiên cứu đổi mới là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, vì thế thông qua việc giảng dạy và hướng dẫn HS học tập tôi rút ra được những bài học cho bản thân. Người giáo viên phải yêu nghề mến trẻ, có tâm huyết với nghề, luôn trau dồi kinh nghiệm cho bản thân, luôn luôn học hỏi ở các đồng nghiệp, đặc biệt phải có óc sáng tạo, tìm tòi, nghiên cứu, áp dụng các phương pháp đổi mới phương pháp dạy học để có kết quả cao. - Giáo viên là người hướng dẫn, còn học sinh là những người thợ. - Giáo viên phải nắm vững các yêu cầu bài dạy. - Giáo viên phải có sự chuẩn bị, nghiên cứu rất kĩ đồng thời phải có một phương pháp truyền thụ cho HS để HS suy nghĩ, quan sát để nêu ra những ý kiến sát thực với nội dung bài học. - Giáo viên phải chủ động sáng tạo, trong việc đổi mới các phương pháp dạy học theo từng nội dung, từng môn học theo nhận thức của HS. - Thầy trò phải có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau để HS tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực, hứng thú, tự nhiên - Phân chia được đối tượng học sinh để có kế hoạch cụ thể trong việc bồi dưỡng và phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS - Tạo điều kiện để HS hứng thú, tự tin phát triển năng lực cá nhân của mỗi em. 3/ Đề xuất, kiến nghị a. Đối với nhà trường b. Đối với giáo viên - Giáo viên phải chuẩn bị bài thật kĩ trước khi đến lớp, tìm ra các phương pháp đổi mới phù hợp với bài học, phù hợp với trình độ HS. Tạo sự thu hút lôi cuốn HS tập trung nghe giảng, kích thích tư duy sáng tạo, không khí học tập sôi nổi - Về phía HS Cần ý thức được nhiệm vụ học tập, Học sinh phải tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực, hứng thú, và tự tin. Trách nhiệm của học sinh là phát hiện, chiếm lĩnh và vận dụng. Vì thế các em phải chủ động để đem lại kết quả cao trong học tập. Tân An 5 ngày: 10/11/2011 Người viết Võ Hoàng Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giải Của Lớp 4
  • Một Số Giải Pháp Giải Bài Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 5 2021
  • Giải Phiếu Bài Tập Cuối Tuần Toán Lớp 5 Tuần 22
  • Giải Bài Tập Cuối Tuần Toán Lớp 5
  • Những Bài Giải Toán Lớp 4
  • Tin tức online tv