Soạn Bài Em Bé Thông Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Em Bé Thông Minh
  • Sách Family And Friends Lv 1, 2, 3, 4, 5
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 1).
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 6)
  • Bộ Đề Thi Học Kì 2 Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 6
  • Soạn bài Em bé thông minh

    Bố cục:

    – Đoạn 1 (Từ đầu … lỗi lạc): Vua sai quan tìm người tài.

    – Đoạn 2 (tiếp … láng giềng): Những thử thách chứng tỏ sự thông minh của cậu bé.

    – Đoạn 3 (còn lại): Cậu bé làm trạng nguyên.

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 74 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Hình thức sử dụng câu đố trong để thử tài nhân vật khá phổ biến trong truyện cổ tích. Tác dụng:

    – Tạo ra những tình huống thú vị, li kì để phát triển câu chuyện

    – Mang lại sự hấp dẫn cho truyện kể

    – Là tình huống để nhân vật bộc lộ trí thông minh và khả năng của mình.

    Câu 2 (trang 79 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Sự mưu trí của em bé được thể hiện qua 4 lần:

    – Lần 2: Dùng chính lí lẽ của nhà vua để vua thừa nhận sự phi lí của mình

    – Lần 3: Đố lại nhà vua

    – Lần 4: Dùng kinh nghiệm dân gian để giải đố

    ⇒ Những cách lý giải của em bé thông minh rất hóm hỉnh, lý thú khi:

    + Làm cho người ra câu đố tự nhìn thấy sự phi lý của câu đố

    + Khéo léo chuyển thế bí sang cho người đố

    + Sử dụng kiến thức thực tế để giải đố, khiến người chứng kiến và người nghe thán phục trí tuệ hơn người của em.

    Câu 4 (trang 74 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Ý nghĩa truyện em bé thông minh:

    – Truyện đề cao giá trị của trí tuệ, ca ngợi sự thông minh, nhanh nhẹn của con người.

    – Trí thông minh phải được đúc rút từ kinh nghiệm cuộc sống và vận dụng trực tiếp vào đời sống.

    – Truyện tạo ra nhiều tình huống hóc búa, li kì

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 74 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Kể diễn cảm truyện

    Bài 2 (trang 74 sgk ngữ văn 6 tập 1)

    Sưu tầm các câu chuyện em bé thông minh từ tập truyện Thần đồng đất Việt.

    Bài giảng: Em bé thông minh – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

    Bài giảng: Em bé thông minh – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 7: Em Bé Thông Minh
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh (Chi Tiết)
  • Tìm Dấu Gạch Ngang Trong Mẩu Chuyện Dưới Đây Và Nêu Tác Dụng Của Mỗi Dấu?
  • Luyện Từ Và Câu: Ôn Tập Về Dấu Câu (Dấu Gạch Ngang) Trang 159 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 2
  • Giải Bài 2 Trang 63 Sgk Địa Lí Lớp 8
  • ✅ Em Bé Thông Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Em Bé Thông Minh Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh Ngữ Văn 6
  • 2 Bài Văn Kể Lại Truyện Em Bé Thông Minh Bằng Lời Văn Của Em, Hay, Đặc
  • Địa Lí 10 Bài 34 Ngắn Nhất: Thực Hành: Vẽ Biểu Đồ Tình Hình Sản Xuất Một Số Sản Phẩm Công Nghiệp Trên Thế Giới.
  • Giải Địa Lí 10 Bài 34: Thực Hành Vẽ Biểu Đồ Tình Hình Sản Xuất Một Số Sản Phẩm Công Nghiệp Trên Thế Giới
  • Đề bài: Phân tích nhân vật Em bé thông minh trong truyện cổ tích cùng tên

    Bài làm

    Em bé thông minh là truyện cổ tích đặc sắc của dân tộc ta. Truyện không lấy những yếu tố tưởng tượng, hư cấu để tạo sức hút mà đưa ra các thử thách để nhân vật vượt qua là nhân tố tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện. Nhân vật em bé đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc bởi trí thông minh, lanh lợi, nhanh trí, em cũng chính là đại diện cho trí khôn dân gian.

    Lần thứ hai, người trực tiếp đưa ra thử thách là vua. Ngài đưa cho em bé thông minh ba thúng gạo nếp, ba con trâu đực và lệnh phải nuôi ba con trâu ấy thành chín con. Liệu thử thách này em bé thông minh có thể vượt qua được hay không? Trong khi cả làng ai nấy đều lo lắng, sợ hãi thì em bé thông minh vẫn vui vẻ, thản nhiên bảo mọi người mổ trâu ra khao cả làng. Cả làng sợ lắm, bắt hai cha con làm giấy cam đoan mới dám ngả trâu ra mổ. Ngay khi nhận được phần thưởng, em bé đã hiểu rằng đây là thử thách tiếp theo mà mình vượt qua, trái với tâm lí hoang mang, sợ sệt của mọi người em lại rất bình tĩnh, thoải mái, tìm ra cách giải quyết. Khi đến gặp nhà vua em bé lại đặt cho nhà vua một tình thế ngược lại, mong cha sinh cho mình em bé. Nhà vua bật cười và thừa nhận sự thông minh của em. Em đã chỉ ra cho nhà vua thấy những điểm bất hợp lý giữa hai sự việc có nét tương đồng, câu trả lời của em cũng thật khéo léo, chỉ bằng việc đặt tình huống ngược lại đã khiến nhà vua phải công nhận tài năng của bản thân.

    Để chắc chắn rằng em bé là một người thông minh, nhà vua còn tiếp tục đưa ra thử thách cuối cùng. Thử thách ngày một tăng dần về mức độ, liệu lần này em bé thông minh có thể vượt qua? Nhà vua ban cho em chim sẻ và yêu cầu em làm thành ba mâm cỗ. Cũng như những lần trước, em đặt yêu cầu ngược lại cho nhà vua, xin vua rèn cho ba con dao để làm thịt chim. Quả là tài trí, hiếm ai có sự phản ứng nhạy bén như em. Và qua lần thử thách này nhà vua đã phải tâm phục, khẩu phục tài năng của em bé thông minh.

    Nhưng thử thách lớn nhất với em chính là câu đố của xứ thần nước bên. Khi tất cả mọi người không thể nghĩ ra cách giải câu đố, nhà vua nhờ đến sự giúp đỡ của em. Em bé nghe xong liền đáp bằng một câu hát:

    Tang tình tang! Tang tình tang

    Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng

    Bên thời lấy giấy mà bưng

    Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang

    Tang tình tang…

    Chỉ bằng câu hát hết sức ngắn gọn em bé đã giải quyết được câu đố mà tất cả quần thần trong triều đều đau đầu không giải được. Em bé đã giải đố bằng kinh nghiệm thực tiễn, trí khôn dân gian.

    Em bé thông minh là đại diện cho trí khôn dân gian. Một em bé nông thôn nhưng lại được nhà vua trọng dụng, phong làm trạng nguyên, xây nơi ở cạnh hoàng cung để tiện bề hỏi chuyện. Điều đó cho thấy ở đây không có sự phân biệt cao sang, thấp hèn mà chỉ có thước đo duy nhất là sự thông minh, tài trí. Em bé giải đố không phải vận dụng từ sách vở mà bằng chính kinh nghiệm thực tiễn của bản thân và kinh nghiệm của ông cha ta truyền lại. Qua đó càng đề cao hơn nữa trí khôn dân gian.

    Tác phẩm tạo được tình huống truyện độc đáo, sắp xếp trình tự các thử thách hợp lý (từ đơn giản đến phức tạp) và cách em vượt qua thử thách cũng ngày càng hấp dẫn, thú vị hơn lần trước. Nghệ thuật so sánh (lần đầu so sánh em với bố, lần hai với dân làng, lần ba với vua, lần cuối với sứ thần nước láng giềng) càng làm nổi bật hơn trí khôn hơn người của em bé thông minh.

    Với những nét nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn truyện đã đề cao trí thông minh của dân gian qua hình thức giải những câu đố oái oăm, hóc búa, từ đó tạo nên tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên trong đời sống hàng ngày.

    Đề bài: Em hãy kể tóm tắt truyện Em bé thông minh

    Vua nước láng giềng muốn kéo quân sang xâm lược nhưng trước hết muốn thử xem nước ta có người tài hay không bèn cho sứ giả mang sang một chiếc vỏ ốc vặn thật dài và đố xâu sợi chỉ qua. Tất cả triều đình không ai giải được lại tìm đến cậu bé. Với trí thông minh khác người, lại sống gần gũi với thực tế, cậu bé vừa chơi vừa giải đố, kết quả là tránh được cho đất nước một cuộc chiến tranh. Nhà vua thấy thế bèn xây dinh thự ngay cạnh hoàng cung để cậu ở cho tiện việc hỏi han đồng thời phong cho cậu làm Trạng nguyên.

    Đề bài: Kể diễn cảm truyện Em bé thông minh

    Ông ta xuống ngựa rồi cao giọng hỏi:

    – Này lão kia! Trâu của lão một ngày cày được mấy đường?

    Bị bất ngờ, người cha ngạc nhiên đứng ngẩn ra chưa biết trả lời thế nào thì đứa con trai khoảng bảy, tám tuổi, tóc để trái đào, cởi trần đóng khố, đã nhanh nhảu hỏi vặn lại quan rằng:

    – Thế xin hỏi ông câu này đã: Nếu ông trả lời đúng ngựa của ông đi một ngày được mấy bước, tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi một ngày cày được mấy đường.

    Nhận được quà và lệnh vua ban, cả làng bối rối và lo lắng, không hiểu thế nào. Các cụ bô lão trong làng mở đến mấy cuộc họp ngoài đình, bàn đi tính lại vẫn chẳng tìm ra cách giải quyết. Việc ấy đến tai chú bé, chú liền nói với cha rằng:

    – Chả mấy khi được lộc vua ban, cha cứ thưa với làng thịt hai con trâu và đồ hai thúng gạo nếp thành xôi để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một con trâu và một thúng gạo, cha con ta sẽ xin làng làm phí tổn để trẩy kinh, lo liệu việc đó.

    Nghe con nói, người cha sợ hãi khuyên can:

    – Đã giết trâu ăn thịt thì còn lo liệu thế nào? Đừng có dại dột mà bay mất đầu đấy con ạ!

    Nhưng chú bé vẫn khăng khăng một mực:

    – Cha cứ mặc con, thế nào con cũng lo xong xuôi mọi việc!

    Khoác vội chiếc áo, người cha lật đật ra đình trình bày câu chuyện với các cụ trong làng. Mọi người ngờ vực, bắt hai cha con phải làm giấy cam đoan rồi mới dám ngả trâu đánh chén.

    Mấy ngày sau, hai cha con khăn gói vào kinh. Đến hoàng cung, chú bé bảo cha đứng đợi ở ngoài, còn mình thì rình lúc lính canh vô ý, lẻn vào sân rồng, khóc ầm lên.

    Lấy làm lạ, vua sai lính điệu em bé vào, phán hỏi:

    – Thằng bé kia, mày vào đây có việc gì? Tại sao lại khóc?

    Chú bé dụi mắt, vờ vĩnh đáp:

    – Tâu đức vua! Mẹ con không may chết sớm, mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.

    Nghe chú bé nói, nhà vua và cả triều đình đều bật cười. Vua phán:

    – Này thằng bé kia! Mày muốn có em bé thì phải kiếm vợ khác cho cha mày, chứ cha mày là giống đực thì làm sao đẻ được?

    Chỉ chờ có thế, cậu bé bỗng tươi tỉnh hẳn:

    – Thế sao lệnh trên lại bắt làng chúng con nuôi ba con trâu đực, sau một năm phải đẻ thành chín con để nộp đức vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được ạ?

    Nhà vua mỉm cười, xoa đầu chú bé:

    – Ta thử đấy mà! Thế dân làng mày không biết đem trâu ra thịt mà ăn với nhau à?

    Chú bé nhanh nhảu đáp:

    – Tâu đức vua! Làng con sau khi nhận được ba thúng nếp và ba con trâu, biết là đức vua thương ban lộc cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau cả rồi ạ!

    Vua và các quan nhìn nhau, chịu là chú bé thông minh. Tuy nhiên, vua muốn thử một lần nữa.

    Hôm sau, hai cha con chú bé đang ăn cơm ở ngoài công quán thì sứ giả của nhà vua mang tới một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải nấu thành ba mâm cỗ. Chú bé bảo cha cho mượn cây kim may nhỏ xíu rồi nói với sứ giả:

    – Ông cầm cái kim này về tâu với đức vua cho người rèn thành một con dao thật sắc để tôi xẻ thịt chim.

    Nghe sứ giả kể lại, nhà vua phục lắm. Lập tức, vua cho gọi hai cha con chú bé vào cung và ban thưởng rất hậu.

    Hồi đó, nước láng giềng cậy lớn lăm le muốn cướp nước ta. Để dò xem nước ta có người tài hay không, sứ giả nước ấy mang sang một chiếc vỏ ốc vặn rất dài và rỗng hai đầu, đố làm sao xâu được sợi chỉ qua đường ruột ốc.

    Nhà vua lập tức triệu các đại thần vào cung để hỏi ý kiến. Mỗi người bàn một cách. Các ông trạng, các nhà thông thái nghĩ nát óc nhưng cũng đành bó tay. Mà không giải được câu đố hiểm hóc ấy thì mất thể diện quốc gia. Cuối cùng, nhà vua đành mời sứ thần ra nghỉ ở công quán để có thời gian đi hỏi chú bé.

    Tang tình tang! Tính tình tang Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng Bên thời lấy giấy mà bưng Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang Tang tình tang ...

    – Cứ làm theo cách ấy là xâu qua được ngay!

    Sau đó, nhà vua phong tặng chú bé chức Trạng nguyên, lại truyền xây cho chú một dinh thự nguy nga trong cung để khi có việc cần, vua gặp gỡ hỏi ý kiến chú cho tiện. Với trí thông minh lạ thường, chú bé đã giúp nhà vua rất nhiều việc có ích cho đất nước.

    Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Em bé thông minh.

    Bài làm

    Từ thuở xưa, nhân dân ta đã coi trọng trí tuệ, bởi trí tuệ giúp con người vượt qua được khó khăn, thử thách trong cuộc sống hàng ngày. Bằng trí tưởng tượng, họ đã sáng tạo ra những nhân vật tiêu biểu cho vẻ đẹp của trí tuệ. Truyện Em bé thông minh đề cao trí khôn dân gian (qua hình thức giải những câu đố, vượt những thử thách oái oăm …), từ đó tạo ra tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên nhưng không kém phần thâm thúy. Trong truyện, trí thông minh của em bé được thử thách cả thảy bốn lần.

    Lần thứ hai, em hóa giải cái lệnh ngược đời của vua về chuyện ban cho dân làng ba con trâu đực, bắt nuôi sao cho chúng đẻ thành chín con trong một năm …

    Lần thứ ba, em vượt qua thử thách cực kì khó khăn: từ thịt một con chim sẻ, phải nấu thành ba mâm cỗ theo yêu cầu của nhà vua.

    Lần thứ tư là làm được công việc oái oăm mà sứ thần nước ngoài thách đố: xâu một sợi chỉ mảnh qua đường ruột của một chiếc vỏ ốc vặn.

    Thử thách càng ngày càng khó nhưng chú bé đều vượt qua một cách dễ dàng. Điều đó chứng tỏ trí thông minh tuyệt vời của chú.

    Cái lệnh kì quặc xưa nay chưa từng thấy của nhà vua làm cho dân làng lo lắng, sợ hãi, họp bàn liên tục mà không tìm ra cách giải quyết. Giải quyết sao được bởi xưa nay trâu đực có đẻ con bao giờ? Nhưng dẫu phi lí đến đâu đi chăng nữa thì đó cũng là lệnh vua. Không thực hiện đúng lệnh là mắc tội khi quân, ắt cả làng phải chịu tội chết. Đoạn kể về thái độ của dân làng khi nhận được lệnh vua thật cụ thể, sinh động, làm nổi bật không khí lo sợ đến kinh hoàng: Từ trên xuống dưới, mọi người đều tin là một tai họa.

    Chuyện đến tai chú bé, chú thản nhiên bảo cha: – Chả mấy khi được lộc vua ban, cha cứ thưa với dân làng giết thịt hai con trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một con trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho cha con ta trẩy kinh lo liệu việc đó.

    Sự tính toán đâu ra đấy và thái độ bình tĩnh, tự tin ấy quả là khác thường, kì lạ đối với cái tuổi lên bảy, lên tám của chú bé. Nghe con nói, người cha sợ hãi khuyên can, chú bé vẫn khăng khăng quả quyết: ” Cha cứ mặc con lo liệu, thế nào cũng xong xuôi mọi việc “.

    Lần thứ hai này, chú bé vượt qua thử thách bằng cách khéo léo gài bẫy để nhà vua phải công nhận sự vô lí trong lệnh của mình.

    Nghĩ sao làm vậy, chú cùng cha lên kinh đô, tìm cách đến tận trước ngai vàng và ra mắt vua với điệu bộ, lời lẽ cố tính gây chú ý đối với mọi người: lẻn vào sân rồng, khóc um lên. Thấy chuyện lạ, vua sai lính điệu vào, phán hỏi: – Thằng bé kia, mày có việc gì? Sao lại đến đây mà khóc. Chú bé chỉ chờ có thế để thực hiện mưu kế của mình: – Tâu đức vua! Mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn có bè, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.

    Lời nói ngộ nghĩnh của chú bé khiến nhà vua và quần thần đều bật cười về sự vô lí của nó. Vua phán: – Cha mày là giống đực làm sao mà đẻ được!. Vậy là chú bé đã lừa nhà vua vào tròng một cách nhẹ nhàng, êm ái: – Thế sao làng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực đẻ thành chín con để nộp đức vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được ạ!.

    Hiểu ý chú bé, đức vua bật cười bảo: – Ta thử đấy mà!… Chú bé đã tương kế tựu kế, dùng thuật gậy ông lại đập lưng ông để giành phần chủ động về mình, mạnh dạn lấy cái phi lí trong lời lẽ của mình để buộc đức vua phải tự công nhận sự phi lí trong lệnh của đức vua. Trí thông minh nhanh nhạy, tài ứng đối trôi chảy, lí lẽ sắc sảo của chú bé làm cho đức vua và triều thần đều chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc.

    Câu chuyện càng trở nên hấp dẫn khi chú bé lần lượt vượt qua hết thử thách này đến thử thách khác. Tuy đã tận mắt chứng kiến khả năng ứng xử thông minh của chú bé nhưng đức vua vẫn muốn thử một lần nữa. Những lần trước, trí thông minh của chú bé thể hiện qua lời nói; đức vua muốn xem trí thông minh ấy thể hiện ra sao qua hành động.

    Đức vua sai sứ giả mang tới cho chú bé một con chim sẻ và truyền lệnh cho chú bé phải làm thịt chim, dọn thành ba mâm cỗ. Không chút bối rối, chú bé bảo cha lấy cho mình một cây kim may rồi đưa cho sứ giả và bảo: – Ông cầm lấy cái này về tâu với đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim. Phản ứng của chú bé thật nhanh nhạy và cách xử trí cũng thật là đáng phục. Chú bé đã đẩy trả thế bí cho đối phương bằng cách đánh đố lại với ngầm ý: Nếu nhà vua rèn được cây kim này thành con dao thì tôi cũng sẽ làm được ba mâm cỗ từ thịt con chim sẻ. Tất nhiên, yêu cầu của chú đối với vua là không thể thực hiện được, do vậy sẽ không có chuyện ngược lại. Trí thông minh của chú bé thật tuyệt vời!

    Để câu chuyện tăng tính hiện thực và mức độ thuyết phục, người xưa đã đưa vào chi tiết: Hồi đó có một nước láng giềng lăm le muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Để dò xem bên này có nhân tài hay không, họ sai sứ đưa sang một cái vỏ ốc vặn rất dài, rỗng hai đầu, đố làm sao xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột ốc. Kiểu thử tài này thường hay thấy trong truyện dân gian về các nhân vật thông minh, tài giỏi như Trạng Quỳnh, Mạc Đĩnh Chi, Trạng Hiền …

    Sự thách đố oái oăm ấy làm cho các vị đại thần vò đầu suy nghĩ mà không sao tìm ra cách. Nhà vua đành phải nhờ đến trí thông minh của chú bé. Nghe qua, chẳng cần suy nghĩ lâu la gì, chú bé liền hát: – Tang tình tang! Tính tình tang. Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng. Bên thời lấy giấy mà bưng. Bên thời bôi mờ, kiến mừng kiến sang. Tang tình tang … Câu hát hồn nhiên, nhí nhảnh nhưng lại chứa đựng một giải pháp cực kì sáng suốt, tuy đơn giản, dễ dàng như một trò chơi con trẻ. Dân gian chẳng có câu: Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ đó sao? Kiến ngửi thấy mùi mỡ ắt tìm mọi cách lần sang bằng được, do vậy sợi chỉ sẽ được kéo sang theo. Đơn giản thế mà đức vua và các nhà thông thái không sao nghĩ ra. Giải pháp đó chính là trí tuệ, là kinh nghiệm của dân gian được đúc kết từ cuộc sống.

    Truyện đề cao trí thông minh của người lao động. Trí thông minh của chú bé không thể hiện qua chữ nghĩa, văn chương, thi cử mà qua thực tế cuộc sống hàng ngày. Cuộc đấu trí của chú bé xoay quanh những chuyện bình thường như đường cày, bước chân ngựa, con trâu, con chim sẻ, con ốc, con kiến vàng. Chú bé tiêu biểu cho trí tuệ dân gian được đúc kết từ đời sống và luôn luôn được vận dụng trong thực tế.

    Truyện còn mang ý nghĩa hài hước thâm thúy. Cách giải các câu đố của chú bé đều thông minh, hóm hỉnh, tạo ra những tình huống bất ngờ thú vị, đem lại tiếng cười vui vẻ.

    Trong truyện, từ dân làng cho đến các ông trạng, các nhà thông thái và vua quan đều thua tài em bé. Nhân vật em bé thông minh khiến cho mọi người yêu thích bởi tính chất hồn nhiên, ngây thơ mà sắc sảo tuyệt vời.

    Chú bé thông minh được vua phong cho chức Trạng nguyên. Trí tưởng tượng và khao khát đổi đời của người xưa được thỏa mãn. Qua truyện này, nhân dân ta muốn khẳng định sức mạnh của trí tuệ, đồng thời thể hiện tình cảm mến yêu, thán phục đối với những người hiền tài đã làm rạng danh cho gia đình, đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh Ngữ Văn Lớp 6
  • Soạn Bài Cụm Danh Từ Ngắn Nhất
  • Giải Bài Tập Sgk Công Nghệ Lớp 11 Bài 21: Nguyên Lí Làm Việc Của Động Cơ Đốt Trong
  • Thực Hành: Bản Vẽ Xây Dựng Trang 62 Sgk Công Nghệ 11
  • Công Nghệ 11 Bài 6: Thực Hành Biểu Diễn Vật Thể
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh (Chi Tiết)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 7: Em Bé Thông Minh
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Em Bé Thông Minh
  • Sách Family And Friends Lv 1, 2, 3, 4, 5
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 1).
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Trả lời câu 1* (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích không? Tác dụng của hình thức này? Trả lời:

    Dùng câu đố để thử tài nhân vật là chi tiết rất phổ biến trong truyện dân gian nói chung, truyện cổ tích nói riêng. Hình thức này có tác dụng sau:

    – Tạo ra thử thách để nhân vật bộc lộ tài năng, phẩm chất.

    – Tạo tình huống cho cốt truyện phát triển

    – Gây hứng thú hồi hộp cho người nghe.

    Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Sự mưu trí thông minh của em bé trong truyện Em bé thông minh được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó hơn lần trước không? Vì sao? Trả lời:

    * Sự mưu trí, thông minh của em bé được thử thách qua bốn lần:

    – Lần 2: Đáp lại thử thách của vua đối với dân làng – nuôi ba con trâu đực sao cho chúng đẻ thành chín con trong một năm để nộp cho vua.

    – Lần 3: Cũng là thử thách của vua – từ một con chim sẻ làm thành ba mâm cỗ thức ăn.

    – Lần 4: Câu đố thử thách của sứ thần nước ngoài – xâu một sợi chỉ mảnh qua ruột con ốc vặn rất dài.

    * Sự thử thách lần sau khó khăn hơn lần trước, vì:

    – Tính chất oái oăm của câu đố cũng tăng lên.

    Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì để giải những câu đố oái oăm? Theo em, những cách ấy lí thú ở chỗ nào? Trả lời:

    * Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách rất thông minh để giải đố:

    – Lần 2: Để vua tự nói ra sự vô lí, phi lí của điều mà vua đã đố.

    – Lần 3: Cũng bằng cách đố lại.

    – Lần 4: Dùng kinh nghiệm đời sống dân gian.

    * Những cách giải đố của cậu bé thông minh, lí thú ở chỗ:

    – Đẩy thế bí về phía người ra câu đố, lấy “gậy ông đập lưng ông”.

    – Làm cho những người ra câu đố tự thấy cái vô lí, phi lí của điều mà họ nói.

    – Những lời giải đố đều không dựa vào sách vở, mà dựa vào kiến thức đời sống.

    – Làm cho người ra câu đố, người chứng kiến và người nghe ngạc nhiên vì sự bất ngờ, giản dị và rất hồn nhiên của những lời giải.

    Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1): Hãy nêu ý nghĩa của truyện Em bé thông minh. Trả lời:

    Truyện Em bé thông minh có các ý nghĩa sau:

    – Đề cao trí thông minh dân gian.

    – Ý nghĩa mua vui, hài hước.

    Câu chuyện cổ tích Em bé thông minh đề cao phẩm chất trí tuệ của con người, cụ thể là người lao động nghèo. Đó là trí thông minh được đúc rút từ hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú. Những người nông dân khi xưa tuy không mấy ai được cắp sách đến trường nhưng những kinh nghiệm, những kiến thức họ có được là nhờ có cuộc đời, trường học của họ là trường đời.

    Luyện tập

    Hãy kể một câu chuyện ” Em bé thông minh ” mà em biết

    Truyện trạng Quỳnh

    Lúc Quỳnh còn là học trò nhà nghèo, phải ra đền Sòng xin cấy rẽ. Đền Sòng quê ông là nơi thờ Bà Chúa Liễu nổi tiếng rất linh thiên, không ai là không kinh sợ. Chúa Liễu có nhiều ruộng và bà cũng cho cấy rẽ để lấy lợi. Lần ấy, Quỳnh vào đền khấn mượn đất xong thì khấn quẻ âm dương hỏi Chúa là bà lấy gốc hay lấy ngọn trong vụ thu hoạch tới. Lần đầu Chúa bảo lấy ngọn, thế là vụ ấy Quỳnh trồng khoai lang. Đến khi khoai đã có củ, đào khoai xong, Quỳnh đem hết củ về nhà còn bao nhiêu dây khoai Quỳnh đem để đền bà chúa.

    Lần thứ hai, xin âm dương, Chúa đòi lấy gốc để ngọn cho Quỳnh. Mùa ấy Quỳnh liền trồng lúa. Đến mùa gặt, Quỳnh cắt hết bông và đem gốc rạ trả cho Bà Chúa!

    Chúa Liễu hai lần bị Quỳnh lừa, tức giận lắm xong đã trót hứa rồi, không biết làm thế nào được. Lần thứ ba, Quỳnh đến xin thì Chúa bảo lấy cả gốc lẫn ngọn, còn khúc giữa cho Quỳnh, Quỳnh giả vờ kêu ca:

    – Chị lấy thế em còn gì được nữa !

    Khấn đi khấn lại mãi, Chúa nhất định không nghe, Quỳnh về trồng ngô, đến kỳ bẻ ngô bao nhiêu bắp Quỳnh giữ lại, còn ngọn với gốc Quỳnh đem nộp cho Chúa.

    Chúa mắc mưu Quỳnh ba lần, đòi lại ruộng, song trong ba vụ ấy, Quỳnh đã kiếm cũng được cái vốn kha khá rồi.

    Vua nước láng giềng muốn kéo quân sang xâm lược nhưng trước hết muốn thử xem nước ta có người tài hay không bèn cho sứ giả mang sang một chiếc vỏ ốc vặn thật dài và đố xâu sợi chỉ qua. Tất cả triều đình không ai giải được lại tìm đến cậu bé. Với trí thông minh khác người, lại sống gần gũi với thực tế, cậu bé vừa chơi vừa giải đố, kết quả là tránh được cho đất nước một cuộc chiến tranh. Nhà vua thấy thế bèn xây dinh thự ngay cạnh hoàng cung để cậu ở cho tiện việc hỏi han đồng thời phong cho cậu làm Trạng nguyên.

    Bố cục Bố cục: 3 đoạn

    – Đoạn 1 (Từ đầu … đến ” lỗi lạc “): Vua sai quan đi khắp nơi tìm người tài giỏi giúp nước.

    – Đoạn 2 (Tiếp theo … đến ” láng giềng “): Sự mưu trí, thông minh của em bé qua các lần thử thách.

    – Đoạn 3 (Còn lại): Em bé trở thành trạng nguyên.

    ND chính

    Truyện đề cao trí thông minh, trí khôn dân gian (qua hình thức giải những câu đố và vượt qua những thử thách oái ăm). Tạo ra tiếng cười vui vẻ và hồn nhiên trong đời sống hằng ngày.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Dấu Gạch Ngang Trong Mẩu Chuyện Dưới Đây Và Nêu Tác Dụng Của Mỗi Dấu?
  • Luyện Từ Và Câu: Ôn Tập Về Dấu Câu (Dấu Gạch Ngang) Trang 159 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 2
  • Giải Bài 2 Trang 63 Sgk Địa Lí Lớp 8
  • Giải Bài Tập Địa Lí Lớp 8 Bài 41: Miền Bắc Và Đông Bắc Bắc Bộ
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Danh Từ Tiếng Anh Đáp Án Giải Chi Tiết
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Em Bé Thông Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Family And Friends Lv 1, 2, 3, 4, 5
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 1).
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 6)
  • Bộ Đề Thi Học Kì 2 Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 6
  • Lời Giải Bài Tập Hóa 8 Bài 10 Hay Nhất 2022
  • Hướng dẫn soạn văn Em bé thông minh – Chương trình Ngữ văn lớp 6

    1. Thể loại

    Truyện “Em bé thông minh” thuộc thể loại truyện cổ tích, được dân gian sáng tác và còn lưu truyền cho tới ngày nay. Các nhân vật xuất hiện trong truyện cổ tích thường là những người có số phận bất hạnh, người có tài năng kì lạ, có trí thông minh siêu phàm hoặc là những con vật biết nói, có tính cách giống con người …

    Truyện cổ tích khác biệt với các loại truyện khác ở phương diện người kể chuyện kể lại nó và người nghe thì tiếp nhận dựa theo trí tưởng tượng của mình. Bên cạnh yếu tố hư cấu, tưởng tượng thì truyện cổ tích vẫn có sự liên hệ với đời sống hiện thực thông qua đặc điểm về nội dung, ngôn ngữ, tính chất của cốt truyện…

    Về nội dung tư tưởng, truyện cổ tích thường mang tinh thần lạc quan, có hậu, kết thúc thì cái thiện luôn thắng cái ác.

    Ngày xưa, có một vị vua muốn tìm người tài giúp ích cho đất nước. Ông đã sai cận thần đi dò la khắp nơi mà một thời gian vẫn chưa tìm được người xuất chúng.

    Một ngày nọ, vị cận thần đi qua cánh đồng làng gặp hai cha con đang làm ruộng, ông hỏi: “Trâu của ông một ngày cày được mấy đường”. Cậu con trai nhanh nhảu hỏi vặn lại quan là “ngựa của ngài một ngày đi được mấy bước” khiến quan sửng sốt. Biết là đã tìm ra người tài nên quan về bẩm báo vua. Vua vẫn muốn thử tài cậu bé, bắt làng đó phải nuôi trâu đực để đẻ ra trâu con. Cậu bé cùng cha vào cung, tâu với vua là muốn cha đẻ em bé cho để có người chơi cùng. Bằng cách này, nhà vua đã tự thừa nhận sự vô lí trong yêu cầu của mình, hai cha con được thưởng hậu hĩnh.

    Nước láng giềng muốn thử xem nước ta có người tài hay không đã cho sứ giả mang sang một chiếc vỏ ốc vặn thật dài và yêu cầu ta phải luồn sợi chỉ qua vỏ ốc. Nhà vua cho người tìm đến cậu bé và cậu bé đã bày cách giúp nước ta thoát nạn. Nhà vua phong cậu làm Trạng Nguyên, ở dinh thự trong cung để giúp vua trị quốc.

    Câu 1

    Trong truyện cổ tích, việc sử dụng các câu đố để thử tài nhân vật khá là phổ biến. Việc sử dụng câu đố để thử tài nhân vật có các tác dụng như sau:

    – Tạo ra các tình huống gây thú vị, bất ngờ cho người đọc.

    – Liên kết và phát triển cốt truyện theo một mạch thống nhất.

    – Các tình huống có tác dụng thể hiện được trí thông minh, lanh lợi của nhân vật.

    Câu 2. Sự mưu trí, thông minh của em bé được thử thách qua 4 lần:

    – Lần thứ hai: Cậu bé đã thay mặt dân làng vào cung và bắt vua phải thừa nhận sự phi lí trong lệnh của mình (Cha của em bé là giống đực không thể đẻ được cũng giống như việc nhà vua bắt nuôi trâu đực để đẻ là vô lí).

    – Lần thứ ba: Cậu bé đã đố lại nhà vua (Nhờ rèn cây kim thành dao để xẻ thịt chim).

    – Lần tứ tư: Lần này, việc giải đố không phải là nhà vua ra đề mà là sứ giả nước láng giềng ra đề. Cậu bé đã dùng kinh nghiệm dân gian để giúp nhà vua giải được câu đố.

    Câu 3: Trong mỗi lần được thử thách, em bé đã giải đố các câu hỏi của nhà vua một cách thông minh và linh hoạt

    – Lần hai: Cậu bé tự tạo dựng ra một tình huống bất ngờ, làm cho nhà vua phải thừa nhận sự phi lí của mình.

    – Lần thứ ba: Cậu bé đố lại nhà vua làm nhà vua khâm phục.

    – Lần thứ tư: Cậu bé sử dụng kinh nghiệm trong dân gian để giải đố.

    Những cách xử lí tình huống của em bé vô cùng thông minh, hóm hỉnh khiến nhà vua phải tâm phục, khẩu phục.

    Câu 4. Truyện em bé thông minh có ý nghĩa to lớn, đề cao phẩm chất trí tuệ của con người:

    – Truyện ca ngợi sự thông minh, đề cao phẩm chất trí tuệ của con người.

    – Trí thông minh của con người không phải chỉ có ở những người vương tôn quý tộc mà ngay cả những người nông dân bình dị cũng có trí thông minh xuất chúng. Trí thông minh ấy bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, từ kinh nghiệm sống của con người.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh
  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 7: Em Bé Thông Minh
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh (Chi Tiết)
  • Tìm Dấu Gạch Ngang Trong Mẩu Chuyện Dưới Đây Và Nêu Tác Dụng Của Mỗi Dấu?
  • Luyện Từ Và Câu: Ôn Tập Về Dấu Câu (Dấu Gạch Ngang) Trang 159 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 2
  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 7: Em Bé Thông Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Em Bé Thông Minh
  • Sách Family And Friends Lv 1, 2, 3, 4, 5
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 1).
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 6)
  • Soạn văn 6 VNEN Bài 7: Em bé thông minh

    A. Hoạt động khởi động

    1 (trang 43 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Quan sát những bức hình sau và đoán xem thần đồng toán học Lương Thế Vinh đã xử trí như thế nào khi sứ giả nhà Minh thách ông cân một con voi.

    – Đưa voi lên một chiếc thuyền

    – Đánh dấu mép nước bên thuyền trước và sau khi đưa voi lên

    – Vẫn chiếc thuyền ấy, đổ đá vào thuyền đến lúc thuyền chìm xuống đến đúng vạch mép nước khi voi lên thuyền.

    – Lấy đá ra và cân chỗ đá đó.

    2 (trang 43 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Từ câu chuyện Lương Thế Vinh, theo em, thế nào là người thông minh?

    Người thông minh là người biết quan sát, biết vận dụng và ghi nhớ, hiểu mình hiểu người, biết linh hoạt xử lý trong mọi tình huống.

    B. Hoạt động hình thành kiến thức

    1 (trang 44, 45, 46, 47 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Đọc văn bản sau: Em bé thông minh

    2 (trang 47, 48 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Tìm hiểu văn bản

    a (trang 47 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Những chi tiết nào trong truyện cho thấy cách ứng xử thông minh của em bé?

    Những chi tiết trong truyện cho thấy cách ứng xử thông minh của em bé:

    A. Tạo tình huống mẫu thuẫn

    B. Thách đố và giải đố

    C. Tạo tình huống hài hước

    D. Cả ba cách trên

    Để thể hiện trí thông minh của em bé, tác giả dân gian đã tạo tình huống mâu thuẫn, thách đố và giải đố, tạo tình huống hài hước

    Vậy đáp án đúng là: D. Cả ba cách trên

    M. Hỏi vặn lại bằng một câu đố tương tự

    2. Câu đố của vua (lần 1)

    Đóng kịch, trách cha không đẻ em bé để cho vua tự nói điều phi lý. Cậu bé dùng lý lẽ của vua (giống đực không đẻ) để bác ý vua.

    3. Câu đố của vua (lần 2)

    Giải thích bằng cách đố lại: yêu cầu vua rèn cái kim may thành dao để làm thịt con chim sẻ dọn thành ba cỗ thức ăn.

    4. Câu đố của sứ thần nước láng giềng

    Vận dụng kinh nghiệm dân gian của các cụ ngày xưa để lại (buộc sợi chỉ vào mình kiến bôi mỡ một đầu rồi để kiến bò sang)

    d (trang 48 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Tác dụng của những câu trả lời ấy đối với câu chuyện là gì? Chọn ô phù hợp

    e (trang 48 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Qua câu chuyện này, tác giả muốn nói lên điều gì nhất?

    A. Sự sáng suốt, thận trọng của nhà vua

    B. Sự khôn khéo, lém lỉnh của em bé

    C. Sự sắc sảo của nhân dân trong các câu đố

    D. Sự thông minh và trí không dân gian

    Chọn B

    g (trang 48 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Từ câu chuyện Em bé thông minh, em rút ra được những bài học gì ?

    Về ý nghĩa:

    – Đề cao trí thông minh trong cuộc sống

    – Ước mơ đất nước có những con người thông minh tài giỏi.

    3 (trang 48 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Chữa lỗi dùng từ (dùng từ không đúng nghĩa)

    Kể lại câu chuyện Em bé thông minh, các bạn học sinh đã nói những câu sau:

    – Khi dân làng nhận được lệnh vua ai nấy đều tưng tửng

    – Hai cha con xin làng một con trâu và một thúng gạo làm phí tổn để thỉnh kinh liệu việc đó.

    – Khi hai cha con đang ăn cơm ở cổng quán thì sứ của nhà vua tới.

    Theo em, bạn học sinh đó đã dùng không đúng những từ nào? Vì sao không đúng? Hãy thay bằng các từ đúng?

    Đánh số thứ tự những câu mà các bạn học sinh nói là (1), (2), (3), (4) ta có nhận xét như bảng sau:

    4 (trang 48 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Kể chuyện em bé thông minh

    Kể lại chuyện em bé thông minh theo gợi ý sau:

    – Mở đầu: Giới thiệu tình huống truyện, hoàn cảnh dẫn đến sự xuất hiện của em bé.

    – Thân bài: Kể các tình huống thể hiện trí thông minh của em bé trong truyện

    – Kết bài: Khẳng định tài trí của em bé và nêu cảm nghĩ của bản thân.

    – Mở đầu:

    Xưa có vị vua sai cận thần đi tìm người tài giúp nước. Tìm mãi chưa thấy, một hôm qua cánh đồng thấy hai cha con đang cho trâu cày, ông ta nghĩ bụng muốn thử hai cha con này, liền cao giọng:

    – Này lão kia! Trâu của lão một ngày cày được mấy đường?

    Người cha còn ngẩn ra thì đứa con đã nhanh nhảu hỏi vặn: Thế xin hỏi ỏng câu này đã: Nếu ống trả lời đúng ngựa của ông đi một ngày được mấy bước, tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi một ngày cày được mấy đường.

    – Thân bài:

    Nghe kể vua mừng lắm, nhưng còn nghi ngờ muốn thử thêm lần nữa. Vua ban cho làng cậu bé 1 con trâu đực và ba thúng gạo nếp, bắt dân làng sau 1 năm phải khiến con trâu ấy đẻ thành 9 con, nếu không cả làng bị phạt.

    Dân làng hoang mang, còn cậu bé thản nhiên bảo làng cứ mổ trâu ra ăn lộc vua, còn lại cậu bé sẽ giải quyết được. Dân làng tuy ngờ vực nhưng có sự cam đoan thì cũng đồng ý. Thế rồi hai cha con lên kinh.

    Đến hoàng cung, chú bé một mình vào trong kêu khóc, vua tra khảo. Hỏi ra thì cậu bé bảo:

    – Tâu đức vua! Mẹ con không may chết sớm, mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.

    Vua bật cười, phán: …”Giống đực thì làm sao mà đẻ được? “

    Vậy là vua mắc bẫy, cậu bé đứng lên kêu về câu chuyện vua bắt làng cậu nuôi trâu đực sinh con.

    Vẫn muốn thử lần nữa, vua sai người mang cho cậu con chim sẻ, bảo cậu làm thịt thành 3 mâm cỗ. Cậu bé không ngần ngại đưa sứ giả cây kim bảo về tâu vua rèn cho cậu thành con dao xẻ thịt. Từ đó vua phải gật gù công nhận trí thông minh của cậu.

    Hồi ấy, nước láng giềng lăm le nước ta, cho sứ thần sang dò xem nước ta có người tài không, sứ giả mang theo câu đố: Làm thế nào xỏ sợi chỉ qua con ốc vặn rất dài?

    Triều thần bó tay, cậu bé biết được thì cất tiếng ngân nga câu hát dân gian. Vua hiểu ngay ý, thì ra bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng, bôi mỡ đầu kia vỏ ốc, con kiến tự khắc xỏ chỉ qua ốc. Sứ giả láng giềng ngạc nhiên thán phục.

    – Kết bài:

    Em bé thông minh là một câu chuyện cổ tích rất hay. Tuy chỉ là một cậu bé nhưng đã có những khả năng suy luận và mưu trí thật không thua kém nhiều người lớn tuổi, thậm chí cậu còn có những sáng kiến mà người lớn không nghĩ ra được!

    C. Hoạt động luyện tập

    1 (trang 49 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Đọc văn bản sau: Chuyện Lương Thế Vinh

    a (trang 49 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Tự đọc – hiểu câu chuyện trên bằng cách hoàn thành các câu hỏi:

    (1) Ai là nhân vật thông minh được kể trong câu chuyện?

    (2) Chi tiết nào chứng minh sự thông minh, tài trí của nhân vật ?

    (3) Để thể hiện trí thông minh của nhân vật, tác giả dân gian đã chọn hình thức nghệ thuật nào? Tác dụng của hình thức ấy?

    (4) Em có nhận xét gì về cách giải đố của nhân vật ? Cách giải đố ấy lí thú ở chỗ nào?

    (1) Nhân vật thông minh được kể trong truyện là thần đồng toán học Lương Thế Vinh

    (2) Chi tiết chứng minh sự thông minh tài trí của nhân vật: Khi quả bưởi lăn xuống hố sâu, hẹp Lương Thế Vinh đã dùng chiếc nón múc nước ở vũng gần đó và đổ vào hố, quả bưởi từ từ nổi lên.

    (3) Để thể hiện trí thông minh của nhân vật, tác giả dân gian đã chọn hình thức tự sự.

    Tác dụng: giúp người đọc nắm được trình tự câu chuyện một cách chi tiết, dễ hiểu → thấy được tính cách nhân vật.

    (4) cách giải đố của nhân vật rất lí thú (gần gũi dân gian), dựa vào những hiện tượng, kiến thức đời sống (quả bưởi dù nặng hay nhẹ rơi xuống nước sẽ nổi).

    b (trang 49, 50 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Điền vào bảng sau điểm giống và khác nhau giữa nhân vật em bé trong truyện Em bé thông minh và Chuyện Lương Thế Vinh.

    Em bé thông minh Chuyện Lương Thế Vinh

    Giống

    – Đều nói về trí thông minh của con người (chủ yếu là trẻ nhỏ).

    – Đề cao tinh thần học hỏi và trí tuệ của người Việt

    Khác

    – Nhân vật không có thật

    – Giải đố bằng cách lấy cái không xác định lý giải cái xác định và kinh nghiệm dân gian

    – Nhân vật có thật

    – Giải đố bằng kinh nghiệm thực tế

    c (trang 50 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Từ những câu chuyện trên, em hãy cho biết: Những người thông minh là những người như thế nào? Làm thế nào để trở thành người thông minh.

    – Người thông minh là: người biết tư duy linh hoạt, biết lắng nghe, đối diện tích cực với cuộc sống và có thể chăm sóc gia đình, công việc vẹn toàn.

    – Để trở thành người thông minh, cần:

    + Biết thắc mắc, tìm tòi, học hỏi; tự nhận thức được cái gì là tốt là xấu

    + Chăm chỉ đọc sách, nghe nhạc, ít xem tivi….

    2 (trang 50 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Luyện tập về dùng từ đúng nghĩa

    Thứ tự lựa chọn từ: thông thạo, thông thái, thông minh

    b (trang 50 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Gạch dưới các kết hợp từ đúng:

    – Tương lai sáng lạn – Tương lai xán lạn

    – Bản tuyên ngôn – Bảng tuyên ngôn

    – Bôn ba hải ngoại – Buôn ba hải ngoại

    – Nói năng tùy tiện – Nói năng tự tiện

    – Tương lai sáng lạn – Tương lai xán lạn

    – Bản tuyên ngôn – Bảng tuyên ngôn

    – Bôn ba hải ngoại – Buôn ba hải ngoại

    – Nói năng tùy tiện – Nói năng tự tiện

    c (trang 50 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Chữa lỗi dùng từ trong các câu sau:

    – Mặc dù còn một số yếu điểm nhưng so với năm học cũ, lớp 6B đã có những tiến bộ vượt bậc

    – Trong cuộc họp lớp, Lan đã được các bạn nhất trí đề bạt làm lớp trưởng

    – Làm sai thì cần thực thà nhận lỗi, không nên bao biện

    – Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn những cái tinh tú của văn hóa dân tộc.

    Lỗi sai trong các câu là lỗi dùng sai từ:

    – Câu 1: yếu điểm. Sửa lại: khuyết điểm

    – Câu 2: đề bạt. Sửa lại: bầu

    – Câu 3: thực thà. Sửa lại: thật thà

    – Câu 4: tinh tú. Sửa lại: tinh túy

    3 (trang 50 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Mỗi nhóm cử một đại diện kể lại Chuyện Lương Thế Vinh theo các yêu cầu.

    D. Hoạt động vận dụng

    1 (trang 50 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Nêu một tình huống thể hiện cách ứng xử thông minh, khéo léo trong cuộc sống.

    Ở làng nọ có một người đàn ông thông minh sở hữu 1 cái giếng nước. Giếng luôn đầy nước, trong vắt, nguồn nước chưa bao giở cạn. Một ngày nọ anh quyết định bán nó cho bác nông dân gần nhà với giá hời.

    Một trưa, qua ngang đó, anh thấy bác nông dân đang múc nước giếng, gã tiến lại gần ngăn bác nông dân lại: “Tôi chỉ bán cái giếng cho ông, còn nước vẫn là của tôi. Ông không được múc nước lên dùng thế”.

    Bác nông dân nghĩ quả thực vậy, buồn rầu đi về. Nhưng không có nước vườn hoa màu của ông không có gì để tưới. Ấm ức, bác nông dân mang sự việc trình quan. Quan gọi anh chàng kia lên hỏi, anh chàng đó cố đáp và chắc mẩm cái lý về mình.

    Quan huyện gật gù, mỉm cười: “Vậy thì ngươi nhanh chóng về múc hết nước trong giếng ra, trả lại giếng cho bác nông dân, hoặc ngươi thuê cái giếng dự trữ nước cho bác ấy, chứ ngươi không thể để nước của ngươi mãi trong giếng nhà bác ấy mãi được”. Anh chàng kia đành lủi thủi chịu thua trí khôn của quan.

    2 (trang 50, 51 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Lập dàn ý chi tiết cho bài kể miệng về bản thân và gia đình (theo mẫu):

    * Giới thiệu bản thân:

    – Mở bài: Lời chào, trước tiên giới thiệu lý do mình đứng trước mọi người giới thiệu.

    – Thân bài:

    + Họ tên: Nguyễn Mai Linh, 11 tuổi

    + Địa chỉ: Ngõ …, đường …, quận …, tỉnh/ Tp

    + Vài nét về gia đình: gồm mấy người? có những ai?

    + Công việc hằng ngày: Đi học, về nhà giúp đỡ bố mẹ làm việc nhà và học bài đầy đủ vào mỗi tối….

    + Sở thích: xem phim hoạt hình, đọc truyện và chơi thể thao

    + Ước mơ: trở thành hướng dẫn viên du lịch/…

    + Câu nói thích nhất: Nếu không tiến lên phía trước thì bạn sẽ mãi dậm chân tại chỗ.

    – Kết bài: Cảm ơn mọi người đã lắng nghe

    * Giới thiệu gia đình:

    – Mở bài:

    Lời chào: Xin chào các bạn. Mình xin được tự giới thiệu mình là …, học sinh lớp …, trường …. Mình muốn giới thiệu các bạn biết về gia đình mình.

    – Thân bài:

    + Giới thiệu chung: Gia đình mình gồm 4 thành viên, bố mẹ, mình và em gái mình. Gia đình mình sống trong một căn hộ nhỏ ở ….

    + Kể về bố: Bố mình là … là cô giáo, hàng ngày ngoài giờ lên lớp mẹ còn phải chăm lo mọi việc cho gia đình.

    + Kể về em gái: Em tên là …[tên], em ấy năm nay 1 tuổi, đang tập nói và rất đáng yêu.

    + Tình cảm của mình với gia đình: Gia đình luôn là nơi mình cảm thấy ấm áp và tràn ngập tình yêu thương. Gia đình là động lực để mình phấn đấu học tập ngày càng tốt hơn.

    – Kết bài: Cảm ơn mọi người đã lắng nghe!

    3* (trang 51 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Trong thực tiễn sử dụng tiếng việt của người Việt hiện nay, một số trường hợp sau thường bị nhầm lẫn. Hãy sử dụng từ điển tiếng việt để giải nghĩa giúp mọi người phân biệt sự khác nhau giữa những từ đó.

    yếu điểm: điểm quan trọng, có ý nghĩa lớn

    điểm yếu: điểm dễ bị tổn thương nhất

    bàng quang: cơ quan chứa nước tiểu do thận tiết ra cho quá trình đi tiểu

    bàng quan: làm ngơ, ngoài cuộc, coi như không dính líu gì đến mình

    khuyến mại: hoạt động xúc tiến thương mại nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định

    khuyến mãi: hoạt động tác động lên người bán hàng nhằm kích thích việc mua hàng hóa

    tri thức: gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục

    trí thức: là người có kiến thức sâu xa về một hay nhiều lĩnh vực hơn sự hiểu biết của dân chúng trong xã hội từng thời kỳ.

    sáng lạn

    xán lạn: tươi sáng rực rỡ

    tuýp: ống nhỏ, dài, thường bằng kim loại. Ví dụ: tuýp thuốc mỡ, tuýp kem đánh răng…

    E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

    1 (trang 51 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Tìm và kể lại một câu chuyện khác về một em bé thông minh.

    Nguyễn Hiền sinh năm 1234, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi cha từ bé và được mẹ cho theo học sư thầy trong làng. Cậu bé Nguyễn Hiền sớm thể hiện tư chất vượt trội, học tập rất nhanh. 11 tuổi, Hiền đã nổi tiếng và được mệnh danh thần đồng.

    Tương truyền, có lần sứ giả nước khác sang thăm, thách đố vua quan nhà Trần xâu chỉ qua con ốc. Triều đình bó tay. Lúc đó vua nhớ đến trạng Nguyễn Hiền, sai người đến hỏi ý kiến.

    “Tích tịch tình tang Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng Bên thì lấy giấy mà bưng Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang”.

    Quan nghe xong, biết đây là câu trả lời triều đình cần liền vội vã về kinh.

    2 (trang 52 sgk Ngữ văn 6 tập 1 VNEN). Tìm và đọc truyện Cây bút thần (Truyện cổ tích Trung Quốc)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh (Chi Tiết)
  • Tìm Dấu Gạch Ngang Trong Mẩu Chuyện Dưới Đây Và Nêu Tác Dụng Của Mỗi Dấu?
  • Luyện Từ Và Câu: Ôn Tập Về Dấu Câu (Dấu Gạch Ngang) Trang 159 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 2
  • Giải Bài 2 Trang 63 Sgk Địa Lí Lớp 8
  • Giải Bài Tập Địa Lí Lớp 8 Bài 41: Miền Bắc Và Đông Bắc Bắc Bộ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Em Bé Thông Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Em Bé Thông Minh
  • Bài 3: Giải Bài Tập Ghi Số Tự Nhiên
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Thánh Gióng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6: Thánh Gióng
  • Soạn Bài: Thánh Gióng (Siêu Ngắn Gọn)
  • Em bé thông minh

    Câu 1 (trang 74 SGK Ngữ Văn 6 Tập 1 – trang 41 VBT Ngữ Văn 6 Tập 1): Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích không? Tác dụng của hình thức này?

    Trả lời:

    – Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến.

    – Tác dụng của hình thức này: đưa ra tình huống để nhân vật bộc lộ trí thông minh của mình.

    Câu 2 (trang 74 SGK Ngữ Văn 6 Tập 1 – trang 41 VBT Ngữ Văn 6 Tập 1): Sự mưu trí, thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó hơn lần trước không? Vì sao?

    Trả lời:

    – Tóm tắt nội dung mỗi lần thử thách bằng một câu ngắn:

    + Quan hỏi cha cậu bé mỗi ngày trâu cày được mấy đường, cậu bé hỏi lại quan mỗi ngày ngựa của quan đi được mấy bước.

    + Vua sai dân làng nuôi ba con trâu đực tới năm sau thì thành chín con, cậu bé bèn khóc lóc với vua cha không chịu đẻ em bé.

    + Vua sai sứ giả mang con chim sẻ bắt phải dọn thành ba cỗ thức ăn, em bé mang cho sứ giả cây kim tâu với đứa vua rèn thành một con dao xẻ thịt chim.

    + Sứ giả muốn ta xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột con ốc vặn dài và rỗng hai đầu, em bé hát bài đồng dao giúp cho vua giải được câu đố của sứ thần.

    – Thử thách sau có khó hơn lần trước. Lần đầu là thử thách của vị quan, sau đó là thử thách của nhà vua và cuối cùng là thử thách của sứ giả, gắn với bộ mặt của quốc gia. Đặt ra thử thách như thế thì trí thông minh của em bé mới được khẳng định một cách rõ ràng và chắc chắn.

    Câu 3 (trang 74 SGK Ngữ Văn 6 Tập 1 – trang 41 VBT Ngữ Văn 6 Tập 1): Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì để giải thích những câu đố oái oăm? Theo em, những cách ấy lí thú ở chỗ nào?

    Trả lời:

    – Em bé đã dùng nhưng cách sau đây để giải những câu đố:

    + Hỏi vặn lại xem ngựa của quan một ngày đi được mấy bước.

    + Khóc lóc với vua rằng cha không chịu đẻ em bé và nhờ vua phân xử.

    + Đưa cho sứ giả cây kim và tâu với đức vua rèn thành con dao để xẻ thịt chim.

    + Buộc chỉ ngang lưng con kiến càng, bôi mỡ vào một bên vỏ ốc để kiến chui sang.

    – Những cách ấy lý thú ở chỗ:

    + Ba câu đố đầu tiên: Dựa vào sự vô lý ở câu đố, dùng chính sự vô lý ấy để vặn lại người đố khiến người đố công nhận.

    + Câu đố cuối cùng: Hiểu được đặc tính của loài kiến và lợi dụng kích thước nhỏ của kiến để giúp xâu sợi dây xuyên qua ruột con ốc vặn.

    Câu 4 (trang 74 SGK Ngữ Văn 6 Tập 1 – trang 42 VBT Ngữ Văn 6 Tập 1): Hãy nêu ý nghĩa của truyện cổ tích Em bé thông minh.

    – Trí thông minh trong truyện là của một em bé chừng bảy, tám tuổi, là con của một người nông dân ở một làng quê nọ, thuộc tầng lớp nhân dân trong xã hội xưa.

    – Truyện hàm ý ca ngợi.

    – Truyện này không nói đến chân lý thiện thắng ác, không giống như Thạch Sanh và Sọ Dừa.

    → Truyện ca ngợi sự thông minh và trí khôn của em bé, thông qua đó ca ngợi sự thông minh và trí khôn của dân gian, từ đó tạo nên tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên trong đời sống hằng ngày.

    Câu 5. Những chi tiết nào trong truyện làm em bật cười? Tại sao em cười?

    Trả lời:

    – Những chi tiết gây cười:

    + Em bé vặn hỏi ngựa của quan một ngày đi được mấy bước.

    + Em bé khóc lóc với vua cha không chịu đẻ em bé.

    + Em bé muốn rèn cây kim thành con dao.

    – Lí do: Đây là những yêu cầu vô lý, hoang đường, không thể thực hiện được, quan trọng hơn là em bé đã dùng sự vô lý để đáp lại sự vô lý trong câu đố mà người khác đưa ra.

    Câu 6. Trí thông minh của em bé bắt nguồn từ đâu (dựa trên cơ sở nào)? Điều đó có ý nghĩa gì?

    Trả lời:

    – Trí thông minh của em bé bắt nguồn từ kinh nghiệm trong đời sống lao động hằng ngày, đó là trí khôn dân gian.

    – Điều đó thể hiện sự ca ngợi đối với trí khôn của nhân dân lao động.

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 6 (VBT Ngữ Văn 6) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • ✅ Tính Từ Và Cụm Tính Từ
  • ✅ Cụm Danh Từ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Cụm Động Từ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Danh Từ (Tiếp Theo)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Cụm Danh Từ
  • Soạn Bài : Em Bé Thông Minh (Truyện Cổ Tích)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Câu Ghép (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Mỏi Tay Với 1090 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Địa Lý 12 Có Đáp Án Phần 1
  • Lý Thuyết Công Nghệ 12 Bài 25: Máy Điện Xoay Chiều Ba Pha
  • Lời Giải Hay Cho Một Bài Toán Hay Loigiaihaychomotbaitoan Doc
  • Tài Liệu Trắc Nghiệm Địa Lý 12 (Bài 1 Đến 10) Có Đáp Án Hay
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    1*. Hình thức dùng các câu đố để thử tài con người rất phổ biến trong các câu chuyện cổ tích. Việc ra câu đố và giải đố, liên kết các sự kiện, nhân vật xung quanh hệ thống câu đố có nhiều tác dụng, trong đó chủ yếu là tạo ra các tình huống để phát triển cốt truyện, tạo sức hấp dẫn, cuốn hút người đọc, người nghe. Bên cạnh đó, tài năng, phẩm chất trí tuệ của các nhân vật cũng được bộc lộ trong quá trình giải quyết các câu đố mà người thường không giải được.

    2. Sự mưu trí, thông minh của em bé được thử thách qua bốn lần, lần sau khó hơn lần trước:

    – Lần thứ hai: Thay mặt dân làng hoá giải câu đố của vua (bắt trâu đực đẻ ra trâu con).

    – Lần thứ ba: Trả lời câu đố vua giao cho chính mình (vua đã biết người tài là ai nên không cần đố cả làng nữa).

    Điều đáng chú ý là khi giải đố, em bé đã không dựa vào các kiến thức sách vở mà sử dụng các kiến thức ngay trong thực tế đời sống. Với những câu đố không thể có lời giải, em bé đã đẩy chính người đố vào thế bí, khiến cho cả người ra câu đố, người chứng kiến (và nhất là các thính giả của câu chuyện) bị bất ngờ, thán phục, làm bật ra tiếng cười vui vẻ.

    4. Câu chuyện cổ tích Em bé thông minh đề cao phẩm chất trí tuệ của con người, cụ thể là người lao động nghèo. Đó là trí thông minh được đúc rút từ hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú. Những người nông dân khi xưa tuy không mấy ai được cắp sách đến trường nhưng những kinh nghiệm, những kiến thức họ có được là nhờ có cuộc đời, trường học của họ là trường đời.

    Bằng các tình huống bất ngờ, truyện đã đem lại cho người đọc, người nghe những tiếng cười vui vẻ, thú vị.

    Vua nước láng giềng muốn kéo quân sang xâm lược nhưng trước hết muốn thử xem nước ta có người tài hay không bèn cho sứ giả mang sang một chiếc vỏ ốc vặn thật dài và đố xâu sợi chỉ qua. Tất cả triều đình không ai giải được lại tìm đến cậu bé. Với trí thông minh khác người, lại sống gần gũi với thực tế, cậu bé vừa chơi vừa giải đố, kết quả là tránh được cho đất nước một cuộc chiến tranh. Nhà vua thấy thế bèn xây dinh thự ngay cạnh hoàng cung để cậu ở cho tiện việc hỏi han đồng thời phong cho cậu làm Trạng nguyên.

    Truyện được xây dựng chủ yếu qua hệ thống các câu đố, tạo nên các tình tiết hồi hộp, li kì, hấp dẫn. Do đó, lời kể cần nêu bật cách xử lí tình huống, phương pháp giải đáp vừa linh hoạt vừa đơn giản và hiệu quả đến bất ngờ.

    Hệ thống các câu đối thoại rất độc đáo: mỗi kiểu đối thoại thể hiện một đặc điểm tính cách khác nhau.

    – Giọng em bé láu lỉnh, tinh nghịch, hồn nhiên, dí dỏm, hay hỏi vặn lại nhằm mục đích đẩy người đố vào thế bí, thế bị động.

    – Giọng ông bố có vẻ cam chịu, có phần sợ hãi: “Đã ăn thịt còn lo liệu thế nào? Mày đừng có làm dại mà bay mất đầu con ạ!”.

    3*. Hãy kể một câu chuyện “Em bé thông minh” mà em biết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tổng Kết Về Ngữ Pháp Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Trắc Nghiệm Cụm Danh Từ
  • Soạn Bài Cụm Danh Từ
  • Đáp Án Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9
  • Học Sinh Giỏi Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh Ngữ Văn 6

    --- Bài mới hơn ---

  • 2 Bài Văn Kể Lại Truyện Em Bé Thông Minh Bằng Lời Văn Của Em, Hay, Đặc
  • Địa Lí 10 Bài 34 Ngắn Nhất: Thực Hành: Vẽ Biểu Đồ Tình Hình Sản Xuất Một Số Sản Phẩm Công Nghiệp Trên Thế Giới.
  • Giải Địa Lí 10 Bài 34: Thực Hành Vẽ Biểu Đồ Tình Hình Sản Xuất Một Số Sản Phẩm Công Nghiệp Trên Thế Giới
  • Giải Bài Tập 2 Bài 7 Gdcd 12
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 12 Bài 1: Pháp Luật Và Đời Sống
  • Soạn bài Em Bé Thông Minh Ngữ văn 6

    Bố cục của bài “Em bé thông minh”

    – Đoạn 1 (Từ đầu … lỗi lạc): Nhà vua cũng đã sai quan tìm người tài.

    – Đoạn 2 (tiếp … láng giềng): Quan đã đưa ra những thử thách chứng tỏ sự thông minh của cậu bé nổi tiếng thần đồng này.

    – Đoạn 3 (còn lại): Cậu bé thông minh được làm trạng nguyên.

    Câu 1* (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):Hình thức câu đố đế thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích hay không? Tác dụng của hình thức này?

    Chúng ta có thể nhận thấy được hình thức dùng câu đố thử tài nhân vật phổ biến trong truyện cổ tích. Bởi yếu tố này dường như cũng vừa tạo sự hấp dẫn, cuốn hút người đọc đồng thời cũng đã lại tạo ra tình huống phát triển cốt truyện đơn giản đến phức tạp. Thế rồi cũng đồng thời thể hiện tài năng, trí tuệ hơn người của nhân vật em bé thông minh.

    Câu 2 (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó hơn lần trước không? Vì sao?

    Người đọc thấy được sự thông minh được thử thách qua bốn lần:

    – Lần 2: Nhà vua đố nuôi trâu đực mà lại đẻ con.

    – Lần 3: Bắt thịt một con chim sẻ thành ba cỗ bàn thức ăn đầy

    – Lần 4: Đó là lần đó xâu sợi chỉ mềm qua đường ruột ốc dài.

    Tất cả các thử thách ngày càng khó hơn gấp bội lần bởi ta nhận thấy được vị trí của người thách đố như cũng một tăng lên, câu hỏi cũng tăng lên thể hiện được sự thông minh của cậu.

    Câu 3 (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):Trong mỗi lần thử thách, em bé đâ dùng những cách gì để giải những câu đố oái oăm? Theo em, những cách ấy lí thú ở chỗ nào?

    Người đọc cũng nhận thấy được chính sự lí thú ở những cách giải đố đượ đưa ra thì lại đều được dùng các kiến thức ngay trong thực tế đời sống luôn gần gũi. Chính điều này cũng đã tạo nên sự ngạc nhiên và thán phục cho mọi người.

    – Lần 1: Cậu bé đã đố lại viên qua.

    – Lần 2: Cậu bé cũng đã dùng lí lẽ của vua để thừa nhận sự phi lí.

    – Lần 3: Cậu bé thông minh đã đố lại nhà vua.

    – Lần 4: Cậu bé cũng đã dùng chính kinh nghiệm dân gian để giải đố

    Câu 4 (trang 74 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):Hãy nêu ý nghĩa của truyện Em bé thông minh?

    Thông qua câu chuyện “Em bé thông minh” nêu được ý nghĩa truyện: Luôn luôn đề cao sự thông minh cũng như đề cao cả trí khôn dân gian (Chính trong câu đố và cách giải đố cũng đã thể hiện được điều nàu), thông qua câu truyện tạo ra tiếng cười bất ngờ, vui vẻ cho người đọc đặc biệt là các em học sinh.

    Câu 2* (Sách giáo khoa trang 74 Ngữ Văn 6 Tập 1): Em hãy kể một câu chuyện “Em bé thông minh” mà em biết.

    Chúc các em học thật tốt!

    Minh Nguyệt

    Soạn bài Sự việc và nhân vật trong văn tự sự

    Soạn bài Thánh Gióng

    Soạn bài Bức tranh của em gái tôi

    Soạn bài Cây bút thần

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Em Bé Thông Minh Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • ✅ Em Bé Thông Minh
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh Ngữ Văn Lớp 6
  • Soạn Bài Cụm Danh Từ Ngắn Nhất
  • Giải Bài Tập Sgk Công Nghệ Lớp 11 Bài 21: Nguyên Lí Làm Việc Của Động Cơ Đốt Trong
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Em Bé Thông Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 3: Giải Bài Tập Ghi Số Tự Nhiên
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Thánh Gióng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6: Thánh Gióng
  • Soạn Bài: Thánh Gióng (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Ếch Ngồi Đáy Giếng, Đeo Nhạc Cho Mèo Sbt Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Câu 1 (trang 66 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

    Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích không? Tác dụng của hình thức này?

    Phương pháp giải:

    Đọc kĩ phần ghi nhớ trong SGK để tìm câu trả lời.

    Đánh dấu x vào ô để xác nhận hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật trong truyện cổ tích.

    Lời giải chi tiết:

    – Hình thức dùng câu đố để thử tài nhân vật có phổ biến.

    – Tác dụng của hình thức này: đưa ra tình huống để nhân vật bộc lộ trí thông minh của mình.

    Câu 2 Câu 2 (trang 66 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

    Sự mưu trí, thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó hơn lần trước không? Vì sao?

    Phương pháp giải:

    Hãy so sánh nội dung của mỗi lần thử thách. Điều quan trọng là tự em phải quan niệm được như thế nào là khó hơn, như thế nào là dễ hơn.

    Lời giải chi tiết:

    – Tóm tắt nội dung mỗi lần thử thách bằng một câu ngắn:

    + Quan hỏi cha cậu bé mỗi ngày trâu cày được mấy đường, cậu bé hỏi lại quan mỗi ngày ngựa của quan đi được mấy bước.

    + Vua sai dân làng nuôi ba con trâu đực tới năm sau thì thành chín con, cậu bé bèn khóc lóc với vua cha không chịu đẻ em bé.

    + Vua sai sứ giả mang con chim sẻ bắt phải dọn thành ba cỗ thức ăn, em bé mang cho sứ giả cây kim tâu với đứa vua rèn thành một con dao xẻ thịt chim.

    + Sứ giả muốn ta xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột con ốc vặn dài và rỗng hai đầu, em bé hát bài đồng dao giúp cho vua giải được câu đố của sứ thần.

    – Thử thách sau có khó hơn lần trước. Lần đầu là thử thách của vị quan, sau đó là thử thách của nhà vua và cuối cùng là thử thách của sứ giả, gắn với bộ mặt của quốc gia. Đặt ra thử thách như thế thì trí thông minh của em bé mới được khẳng định một cách rõ ràng và chắc chắn.

    Câu 3 Câu 3 (trang 67 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

    Trong mỗi lần thử thách, em bé đã dùng những cách gì để giải thích những câu đố oái oăm? Theo em, những cách ấy lí thú ở chỗ nào?

    Phương pháp giải:

    Những câu đố oái oăm nếu giải đúng thì chắc chắn không thể giải được. Cậu bé đã dùng hình thức khác để chống lại người đố. Tìm xem hình thức đó là gì?

    Riêng trường hợp xâu sợi chỉ mềm qua vỏ con ốc vặn thì em bé không dùng hình thức khác để “chống lại” người đố. Em đã giải đúng. Em bé dựa vào đâu để giải câu đố này.

    Lời giải chi tiết:

    – Em bé đã dùng nhưng cách sau đây để giải những câu đố:

    + Hỏi vặn lại xem ngựa của quan một ngày đi được mấy bước.

    + Khóc lóc với vua rằng cha không chịu đẻ em bé và nhờ vua phân xử.

    + Đưa cho sứ giả cây kim và tâu với đức vua rèn thành con dao để xẻ thịt chim.

    + Buộc chỉ ngang lưng con kiến càng, bôi mỡ vào một bên vỏ ốc để kiến chui sang.

    – Những cách ấy lý thú ở chỗ:

    + Ba câu đố đầu tiên: Dựa vào sự vô lý ở câu đố, dùng chính sự vô lý ấy để vặn lại người đố khiến người đố công nhận.

    + Câu đố cuối cùng: Hiểu được đặc tính của loài kiến và lợi dụng kích thước nhỏ của kiến để giúp xâu sợi dây xuyên qua ruột con ốc vặn.

    Câu 4 Câu 4 (trang 67 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

    Hãy nêu ý nghĩa của truyện cổ tích Em bé thông minh.

    Phương pháp giải:

    Cần lưu ý, đây là câu chuyện nói về trí thông minh. Hãy trả lời những câu hỏi nhỏ sau để từ đó trả lời được câu hỏi chính:

    – Trí thông minh nêu trong truyện là của ai? Thuộc loại người nào trong xã hội?

    – Truyện này hàm ý ca ngợi hay phê phán?

    – Truyện này có nói đến chân lí thiện thắng ác không? Nói trên phương diện nào? Có giống như truyện Thạch Sanh, Sọ Dừa không?

    Lời giải chi tiết:

    – Trí thông minh trong truyện là của một em bé chừng bảy, tám tuổi, là con của một người nông dân ở một làng quê nọ, thuộc tầng lớp nhân dân trong xã hội xưa.

    – Truyện hàm ý ca ngợi.

    – Truyện này không nói đến chân lý thiện thắng ác, không giống như Thạch Sanh và Sọ Dừa.

    → Truyện ca ngợi sự thông minh và trí khôn của em bé, thông qua đó ca ngợi sự thông minh và trí khôn của dân gian, từ đó tạo nên tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên trong đời sống hằng ngày.

    Câu 5 Câu 5 (trang 68 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

    Những chi tiết nào trong truyện làm em bật cười? Tại sao em cười?

    Lời giải chi tiết:

    – Những chi tiết gây cười:

    + Em bé vặn hỏi ngựa của quan một ngày đi được mấy bước.

    + Em bé khóc lóc với vua cha không chịu đẻ em bé.

    + Em bé muốn rèn cây kim thành con dao.

    – Lí do: Đây là những yêu cầu vô lý, hoang đường, không thể thực hiện được, quan trọng hơn là em bé đã dùng sự vô lý để đáp lại sự vô lý trong câu đố mà người khác đưa ra.

    Câu 6 Câu 6 (trang 69 VBT Ngữ văn 6, tập 1):

    Trí thông minh của em bé bắt nguồn từ đâu (dựa trên cơ sở nào)? Điều đó có ý nghĩa gì?

    Phương pháp giải:

    Đọc kĩ phần Ghi nhớ trong SGK để tìm câu trả lời.

    Lời giải chi tiết:

    – Trí thông minh của em bé bắt nguồn từ kinh nghiệm trong đời sống lao động hằng ngày, đó là trí khôn dân gian.

    – Điều đó thể hiện sự ca ngợi đối với trí khôn của nhân dân lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Em Bé Thông Minh
  • ✅ Tính Từ Và Cụm Tính Từ
  • ✅ Cụm Danh Từ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Cụm Động Từ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Danh Từ (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh Ngữ Văn Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Em Bé Thông Minh
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Em Bé Thông Minh Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Soạn Bài Em Bé Thông Minh Ngữ Văn 6
  • 2 Bài Văn Kể Lại Truyện Em Bé Thông Minh Bằng Lời Văn Của Em, Hay, Đặc
  • Địa Lí 10 Bài 34 Ngắn Nhất: Thực Hành: Vẽ Biểu Đồ Tình Hình Sản Xuất Một Số Sản Phẩm Công Nghiệp Trên Thế Giới.
  • Em Bé Thông Minh là một chuyện cổ tích hay và đặc sắc, nằm trong khung chương trình Ngữ văn 6. Tuy là một truyện dân gian mang được một sự hấp dẫn các em học sinh nhưng để học và phát hiện ra những điều mới lạ, kiến thức văn học thông qua câu chuyện cổ tích này thì các em cũng phải soạn bài cẩn thận. giải Văn hôm nay cũng mang đến cho học sinh bài sọn đầy đủ và chi tiết nhất.

    Soạn bài Em Bé Thông Minh

    Bài làm I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NHỚ

    Câu 1, Hình thức câu đố đế thử tài nhân vật có phổ biến trong truyện cổ tích hay không? Tác dụng của hình thức này?

    Những hình thức dùng các câu đố để thử tài con người rất phổ biến trong các câu chuyện cổ tích. Có thể nói thì chính việc ra câu đố và giải đố, liên kết các sự kiện, hay chính những nhân vật xung quanh hệ thống câu đố luôn luôn mang lại nhiều tác dụng. Và trong đó chủ yếu là tạo ra rất nhiều các tình huống để phát triển cốt truyện, tạo sức hấp dẫn, cuốn hút người đọc và người nghe. Không chỉ dừng lại ở đó thì chính tài năng hay đó cũng chính là các phẩm chất trí tuệ của các nhân vật cũng đã được bộc lộ trong quá trình tìm ra nhiều lời giải đáp được các câu đố mà người thường không giải được.

    Câu 2. Sự mưu trí thông minh của em bé được thử thách qua mấy lần? Lần sau có khó hơn lần trước không? Vì sao?

    – Lần 2: Chú bé cũng đã thay mặt dân làng hoá giải câu đố của vua (bắt trâu đực có thể đẻ ra trâu con).

    – Lần 3: Để có thể trả lời câu đố vua giao cho chính mình (Ông vua đã biết người tài là ai nên không cần đố cả làng nữa).

    Câu 3. Trong mỗi lần thử thách, em bé đâ dùng những cách gì để giải những câu đố oái oăm? Theo em, những cách ấy lí thú ở chỗ nào?

    4, Hãy nêu ý nghĩa của truyện Em bé thông minh?

    Thông qua câu chuyện cổ tích “Em bé thông minh” thì tác giả dân gian cũng đã đề cao phẩm chất trí tuệ của con người, cụ thể ở đây cũng chính là người lao động nghèo. Trí thông minh của cậu bé cũng lại được đúc rút ra từ chính hiện thực phong phú.

    1. Tóm tắt tác phẩm Em bé thông minh

    2. Lời kể trong truyện Em bé thông minh

    Truyện cũng đã được xây dựng chủ yếu qua hệ thống các câu đố, tạo nên các tình tiết hồi hộp mang được tính li kì và vô cùng hấp dẫn.

    Người đọc nhận thấy được hệ thống các câu đối thoại rất độc đáo đó chính là cứ mỗi kiểu đối thoại thể hiện một đặc điểm tính cách khác nhau.

    – Giọng em bé thông minh thì cũng thật láu lỉnh, tinh nghịch mang được sự hồn nhiên

    – Giọng của ông bố cậu bé luôn vẻ cam chịu, có phần sợ hãi nữa.

    3, Em hãy kể một câu chuyện “Em bé thông minh” mà em biết.

    Các câu chuyện như: Thần đồng xưa của nước ta của Quốc Chấn, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi (tập 2), hay những mẩu chuyện về Truyện Trạng Quỳnh, Truyện Trạng Lợn,…

    Chúc các em học tập vui vẻ!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Cụm Danh Từ Ngắn Nhất
  • Giải Bài Tập Sgk Công Nghệ Lớp 11 Bài 21: Nguyên Lí Làm Việc Của Động Cơ Đốt Trong
  • Thực Hành: Bản Vẽ Xây Dựng Trang 62 Sgk Công Nghệ 11
  • Công Nghệ 11 Bài 6: Thực Hành Biểu Diễn Vật Thể
  • Hướng Dẫn Giải Những Bài Toán Hay Violympic Lớp 5
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100