Bài 1 Trang 35 Sgk Ngữ Văn 6

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Câu 1 (Trang 43 Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1)
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Phân Tích
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Phân Tích (Chi Tiết)
  • Luyện Tập: Từ Láy Trang 43 Sgk Ngữ Văn 7
  • Giải Bài Tập Trang 43 Sgk Sinh Học Lớp 11: Quang Hợp Ở Nhóm Các Thực Vật C3, C4 Và Cam Giải Bài Tập
  • Trả lời câu hỏi bài 1 luyện tập trang 35 SGK Ngữ văn lớp 6 tập 2 phần hướng dẫn soạn bài Bức tranh của em gái tôi ngữ văn 6.

    Đọc Tài Liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 trang 35 sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập Hai phần Luyện tập soạn bài Bức tranh của em gái tôi chi tiết nhất.

    Đề bài: Viết một đoạn văn thuật lại tâm trạng của người anh trong truyện khi đứng trước bức tranh được giải nhất của em gái.

    Trả lời bài 1 luyện tập trang 35 SGK văn 6 tập 2

    Một số đoạn văn mẫu:

    (1) Đứng trước bức tranh em gái vẽ mình, người anh giật sững người. Chẳng hiểu sao anh phải bám chặt lấy mẹ. Thoạt nhiên là sự ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ. Dưới con mắt của em gái, anh trai hoàn hảo đến thế ư? Người anh nhìn như thôi miên vào dòng chữ đề trên bức tranh: “Anh trai tôi”. Vậy mà dưới con mắt anh thì …

    Con đã nhận ra con chưa? – Mẹ vẫn hồi hộp.

    Người anh không trả lời vì anh muốn khóc quá. Bởi vì nếu nói với mẹ, anh nối rằng: “Không phái con đâu. Đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy”.

    (2) Đứng trước bức tranh hoàn mỹ này, người anh tự vấn mình : “Đây là ai ? Tôi ư? Không! Đây là tâm hồn và lòng nhân hậu của em tôi”. Người anh vô cùng xúc động, anh có thể rơi nước mắt ngay lúc này. Bức tranh đẹp quá, đẹp đến nỗi anh không còn nhận ra chính mình nữa. Câu hỏi của mẹ thoạt tiên gây ra sự ngỡ ngàng vì mọi thứ như không phải hiện thực, anh đã hẹp hòi, ích kỷ vậy mà cô em gái bé nhỏ vẫn luôn xem anh là người thân thuộc nhất. Cảm xúc đan xen, niềm hãnh diện len vào, hãnh diện vì có cô em gái tài năng, nhân hậu. Sau đó là nỗi xấu hổ, anh không ngờ dưới mắt em mình anh hoàn hảo đến vậy, còn anh thì…

    (3) Người anh trai sau khi nhìn thấy bức tranh đạt giải nhất của cô em gái thì ngỡ ngàng, hãnh diện rồi cảm thấy xấu hổ. Thoạt đầu ngỡ ngàng bởi người anh không hề biết trong lòng cô em gái mình lại là người hoàn hảo đến thế, sau tất cả những sự thờ ơ, vô tâm với em. Tiếp đó là sự hãnh diện vì được em gái vẽ rất đẹp, một người anh mơ mộng, suy tư chứ không phải người anh nhỏ nhen, ghen tị. Tất cả sự hãnh diện đó tiếp nối là sự xấu hổ với em, với bản thân. Người anh dằn vặt chính mình và cảm thấy không xứng đáng với vị trí đặc biệt trong lòng người em. Chính sự nhân hậu, hồn nhiên của người em đã giúp người anh tỉnh thức, nhìn nhận đúng về bản thân mình.

    Bài 1 luyện tập trang 35 SGK ngữ văn 6 tập 2 do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn theo các cách trình bày khác nhau giúp em chuẩn bị bài và soạn bài Bức tranh của em gái tôi tốt hơn trước khi đến lớp.

    Chúc các em học tốt !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ, Trang 31 Sgk Văn 11
  • Soạn Bài Hầu Trời, Trang 12 Sgk Văn 11
  • Soạn Bài Nghĩa Của Từ Trang 35 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Bài Tập Ôn Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Phần Đọc
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Viết Bài Làm Văn Số 3
  • Soạn Bài Nghĩa Của Từ Trang 35 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hầu Trời, Trang 12 Sgk Văn 11
  • Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ, Trang 31 Sgk Văn 11
  • Bài 1 Trang 35 Sgk Ngữ Văn 6
  • Giải Câu 1 (Trang 43 Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1)
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Phân Tích
  • Soạn bài Nghĩa của từ chi tiết

    I. Nghĩa của từ là gì?

    – tập quán : thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc, …) được hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo.

    – lẫm liệt : hùng dũng, oai nghiêm

    – nao núng : lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa

    Em hãy cho biết :

    Câu 1: Mỗi chú thích trên gồm mấy bộ phận?

    Câu 2: Bộ phận nào trong chú thích nên lên nghĩa của từ?

    Câu 1: Mỗi chú thích đã cho gồm 2 bộ phận:

    – Chữ đậm: từ

    – Chữ thường: giải thích nghĩa (sau dấu hai chấm).

    Câu 2: Bộ phận trong chú thích nêu lên nghĩa của từ là: Bộ phận chữ thường, sau dấu hai chấm nêu lên nghĩa của từ.

    Câu 3: Từ là đơn vị có tính hai mặt trong ngôn ngữ:

    – Mặt nội dung và mặt hình thức.

    – Mặt nội dung chính là nghĩa của từ.

    II. Cách giải thích nghĩa của từ

    Đọc lại các chú thích đã dẫn ở phần I

    – Học sinh đọc lại các chú thích ở phần I

    Mỗi chú thích trong câu 1, nghĩa của từ được giải thích bằng cách nào?

    Trong ba trường hợp chú thích trên, nghĩa của từ được giải thích theo hai kiểu:

    – Trình bày khái niệm mà từ biểu thị (tập quán).

    – Đưa ra từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ được giải thích (lẫm liệt, nao núng).

    – Tập quán được giải thích bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị (thói quen của một cộng đồng được hình thành từ lâu đời trong đời sống, được mọi ngời làm theo)

    – Lẫm liệt, nao núng được giải thích bằng cách đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa (hùng dũng, oai nghiêm; lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa).

    III. Luyện tập

    Đọc lại một vài chú thích ở sau các văn bản đã học. Cho biết mỗi chú thích giải nghĩa từ theo cách nào?

    Ví dụ:

    • Áo giáp: áo được làm bằng chất liệu đặc biệt (da thú hoặc bằng sắt), chống đỡ binh khí và bảo vệ cơ thể.
    • Ghẻ lạnh: thờ ơ, nhạt nhẽo, xa lánh đối với người lẽ ra phải gần gũi, thân thiết.
    • Quần thần: các quan trong triều (xét trong quan hệ với vua).
    • Sứ giả: người vâng mệnh trên (ở đây là vua) đi làm một việc gì ở các địa phương trong nước hoặc nước ngoài (sứ: người được vua hay nhà nước phái đi để đại diện; giả: kẻ, người).
    • Khôi ngô: vẻ mặt sáng sủa, thông minh.

    – …: học và luyện tập để có hiểu biết, có kĩ năng.

    – …: nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo.

    – …: tìm tòi, hỏi han để học tập.

    – …: Học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát).

    Có thể điền từ vào chỗ trống như sau:

    – học hành : học và luyện tập để có hiểu biết, có kĩ năng

    – học lỏm : nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo.

    – học hỏi : tìm tòi, hỏi han để học tập

    – học tập : học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát).

    Điền các từ trung gian, trung niên, trung bình vào chỗ trống cho phù hợp:

    – …: ở vào giữa trong bậc thang đánh giá, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp.

    – …: ở vị trí chuyển tiếp hoặc nối liền giữa hai bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật,…

    – …: đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già.

    Có thể điền từ vào chỗ trống như sau:

    – trung bình : khoảng giữa trong bậc thang đánh giác, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp.

    – trung gian : ở vị trí chuyển tiếp hoặc nối liền giữa hai bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật …

    – trung niên : đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già.

    Giải thích các từ sau theo những cách đã biết:

    – Giếng

    – Rung rinh

    – Hèn nhát

    Giải thích các từ sau theo những cách đã biết :

    – Giếng : hố đào thẳng đứng, sâu trong lòng đất, thường để lấy nước (Giải thích theo cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị)

    – Rung rinh : rung động, đung đưa (Giải thích theo cách đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích)

    – Hèn nhát :

    • thiếu can đảm đến mức đáng khinh (Giải thích theo cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị)
    • run sợ đớn hèn (Giải thích theo cách đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích)

    Đọc truyện sau đây và cho biết giải nghĩa từ mất như nhân vật Nụ có đúng không.

    Cô Chiêu đi đò với cái Nụ. Cái Nụ ăn trầu, lỡ tay đánh rơi ống vôi bạc của cô Chiêu xuống sông. Để cô Chiêu khỏi mắng mình, nó rón rén hỏi: – Thưa cô, cái gì mà mình biết nó ở đâu rồi thì có thể gọi là mất được không cô nhỉ? Cô Chiêu cười bảo: – Cái con bé này hỏi đến lẩm cẩm. Đã biết là ở đâu rồi thì sao gọi là mất được nữa! Cái Nụ nhanh nhảu tiếp luôn: – Thế thì cái ống vôi của cô không mất rồi. Con biết nó nằm ở dưới đáy sông đằng kia. Con vừa đánh rơi xuống đấy. (Theo Truyện tiếu lâm Việt Nam)

    Ví dụ này đề cập đến hai loại nghĩa của từ:

    – Nghĩa đen (nghĩa từ điển) khi bị tách ra khỏi văn bản mà nghĩa vẫn không đổi.

    – Nghĩa bóng (nghĩa văn cảnh) khi từ nằm trong một hoàn cảnh nhất định, nằm trong mạng lưới quan hệ ý nghĩa với các từ khác trong văn bản.

    *Giải thích nghĩa từ “mất”:

    – Nghĩa đen: trái nghĩa với “còn”.

    – Nghĩa văn cảnh (nghĩa bóng): Nhân vật Nụ đã giải thích nghĩa cụm từ không mất là biết nó ở đâu. Đặc biệt, cách giải thích của Nụ được cô Chiêu chấp nhận.

    Như vậy, mất không phải là mất, mất có nghĩa là còn.

    So với cách giải nghĩa đen thì “mất” giải thích của Nụ là sai nhưng ở trong văn cảnh, trong truyện thì đúng và rất hay.

    Soạn bài Nghĩa của từ ngắn nhất

    I. Nghĩa của từ là gì?

    Bài tập trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 1

    1. Mỗi chú thích trên gồm 2 bộ phận

    Từ in đậm

    Tập quán

    Thói quen của một cộng đồng được hình thành từ lâu trong đời sống được mọi người làm theo

    Lẫm liệt

    Hùng dung, oai nghiêm

    Nao núng

    Lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa

    Kết luận

    Âm tiết → tiếng → từ → câu → đoạn văn (hình thức cấu tạo, ngữ âm, ngữ pháp)

    Biểu vật, biểu niệm, biểu thái.

    2. Bộ phận không in đạm nêu lên nghĩa của từ.

    3. Nghĩa của từ ứng với phần nội dung trong mô hình.

    II. Cách giải thích nghĩa của từ

    Bài 2 trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 1

    Trong mỗi chú thích trên, nghĩa của từ đã được giải thích bằng cách:

    Có 2 cách chính:

    – Trình bày khái niệm mà từ biểu thị.

    – Đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích.

    III. Luyện tập

    Bài 1 trang 36 SGK Ngữ văn 6 tập 1

    – hoảng hốt: chỉ tình trạng sợ sệt, vội vã, cuống quýt (giải nghĩa từ bằng từ đồng nghĩa).

    – trượng: đơn vị đo bằng thước Trung Quốc (trình bày khái niện mà từ biểu thị).

    – tre đằng ngà: giống tre có lớp cật ngoài trơn, bóng, màu vàng (giải nghĩa bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị)

    Bài 2 trang 36 SGK Ngữ văn 6 tập 1

    Điền lần lượt là:

    – Học tập

    – Học lỏm

    – Học hỏi

    – Học hành

    Bài 3 trang 36 SGK Ngữ văn 6 tập 1

    Các từ cần điền

    – Trung bình

    – Trung gian

    – Trung niên

    Bài 4 trang 36 SGK Ngữ văn 6 tập 1

    – Giếng: là hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, là nơi chứa nước sinh hoạt hằng ngày.

    – Rung rinh: là một chuyển động nhẹ nhàng và liên tiếp.

    – Hèn nhát: là thiếu can đảm đến mức đáng khinh.

    Bài 5 trang 36 SGK Ngữ văn 6 tập 1

    – Từ mất có nhiều nghĩa:

    • Nghĩa 1: không còn thuộc về mình nữa
    • Nghĩa 2: không thấy, không còn nhìn thấy nữa
    • Nghĩa 3: chết

    Nhân vật nụ đã dựa vào việc cô chủ hiểu theo nghĩa thứ hai để tự bào chữa cho mình trong việc đánh rơi cái ống vôi của cô chủ xuống lòng sông.

    Kiến thức cần nhớ

    – Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ,…) mà từ biểu thị.

    – Có thể giải thích nghĩa của từ bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị hay là đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích.

    Để giúp các em tiếp cận bài học được dễ dàng hơn, Đọc tài liệu gửi đến các em bộ đề trắc nghiệm bài Nghĩa của từ để các em thử sức.

    Hướng dẫn soạn bài nghĩa của từ ngữ văn 6 chi tiết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Ôn Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Phần Đọc
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Viết Bài Làm Văn Số 3
  • Top 42 Đề Kiểm Tra, Đề Thi Ngữ Văn Lớp 11 Chọn Lọc, Có Đáp Án
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài
  • ✅ Đề Thi Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì 1 (Có Đáp Án
  • Giải Bài Tập Tin Học 11 Trang 35, 36

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Trang 36, 37 Sgk Giải Tích 11: Một Số Phương Trình Lượng Giác Thường Gặp
  • Giải Toán Lớp 6 Bài 11: Dấu Hiệu Chia Hết Cho 2 Và 5
  • Giải Bài Tập Tiếng Anh 6 Unit 6: Places
  • Giải Bài Tập Trang 67 Sgk Toán 1: Luyện Tập Phép Cộng, Phép Trừ Trong Phạm Vi 6
  • Giải Sách Bài Tập Toán 6 Trang 66, 67 Câu 5, 6, 7, 8 Tập 1
  • Hãy cho biết sự khác nhau giữa hằng có đặt tên và biến?

    Trả lời:

    Hằng có đặt tên lưu trữ một hằng, giá trị này không thể thay đổi trong suốt thời gian chạy chương trình.

    Biến cũng lưu trữ một giá trị. Giá trị này có thể thay đổi được.

    Ví dụ:

    Ta có const e=5;

    Sau đó nếu ta có lệnh thay đổi giá trị trong e. e:=6; Thì khi biên dịch sẽ có lỗi.

    Tuy nhiên nếu ta sử dụng biến e:=5;. Sau đó thay đổi giá trị e:=6; thì hoàn toàn hợp lệ.

    Bài 2 (trang 35 sgk Tin học lớp 11)

    Tại sao phải khai báo biến?

    Trả lời:

    + Khai báo biến nhằm tạo ra cho trình biên dịch biết kiểu biến để cấp phát bộ nhớ cho phù hợp.

    Ví dụ: nếu ta khai báo biến a kiểu integer trình biên dịch sẽ cấp phát 2 byte bộ nhớ để lưu trữ giá trị.

    Còn nếu a kiểu real thì trình biên dịch sẽ cấp phát 6 byte bộ nhớ.

    + Trình dịch sẽ biết cách tổ chức ô nhớ chứa giá trị của biến. Đưa tên biến vào danh sách các đối tượng được chương trình quản lí.

    + Đưa tên biến vào danh sách các đối tượng được chương trình quản lí.

    + Trình dịch biết cách truy cập giá trị của biến và áp dụng thao tác thích hợp cho biến.

    Bài 3 (trang 35 sgk Tin học lớp 11)

    Trong Pascal nếu một biến chỉ nhận giá trị nguyên trong phạm vi từ 10 đến 25532 thì biến đó có thể được khai báo hằng trong các kiểu dữ liệu nào?

    Trả lời:

    Nhắc lại phạm vi của các biến.

    Dựa vào bảng trên ta thấy biến đó có thể sử dụng các kiểu dữ liệu: integer, word, longint, Real, Extended.

    Vì biến thực có thể chứa giá trị nguyên.

    Bài 4 (trang 35 sgk Tin học lớp 11)

    Biến P có thể nhận các giá trị 5; 10; 15; 20; 30; 60; 90 và biến X có thể nhận các giá trị 0,1; 0.2; 0,3; 0.4; 0.5. Khai báo nào trong các khai báo sau là đúng?

    Trả lời:

    a) Var X,P: byte; (Sai vì biến kiểu Byte không nhận giá trị thực).

    b) Var P,X:real ; (Đúng vì biến thực có thể lưu được giá trị nguyên).

    c) Var P:real;X:byte (Sai vì giá trị kiểu byte không lưu được giá trị thực)

    d) Var X:real;P:byte (Đúng).

    Bài 5 (trang 35 sgk Tin học lớp 11)

    Trả lời:

    a) Var S:integer; Tốn 2 byte bộ nhớ.

    b) Var S:real; Tốn 6 byte bộ nhớ.

    c) Var S:word; Tốn 2 byte bộ nhớ.

    d) Var S:longint; Tốn 4 byte bộ nhớ.

    e) Var S:boolean; Tốn 1 byte bộ nhớ tuy nhiên không lưu trữ được hết khoảng giá trị cần thiết.

    Vậy dùng kiểu integer và word vẫn đảm bảo đúng mà tốn ít bộ nhớ nhất.

    Bài 6 (trang 35 sgk Tin học lớp 11)

    Trả lời:

    (1+z)*(x+y/z)/(a-(1/(1+x*x*x)))

    Bài 7 (trang 36 sgk Tin học lớp 11)

    Trả lời:

    Bài 8 (trang 36 sgk Tin học lớp 11)

    Hãy viết biểu thức logic cho kết quả true khi tọa độ (x,y) là điểm nằm trong vùng gạch chéo kể cả biên của các hình 2.a và 2.b.

    Trả lời:

    Bài 9 (trang 36 sgk Tin học lớp 11)

    Trả lời:

    Nhận thấy 2 phần gạch chéo trong ô vuông tương đương với 2 phần bỏ trống. Như vậy nếu diện tích phần bị gạch chéo đúng bằng ½ diện tích hình tròn bán kính là a.

    Bài 10 (trang 36 sgk Tin học lớp 11)

    Lập trình tính và đưa ra màn hình vận tốc v khi chạm đất của vật rơi từ độ cao h,biết rằng v=√2gh, trong đó g là gia tốc rơi tự do và g=9.8m/s 2. Độ cao h(m) được nhập vào từ bàn phím.

    Trả lời:

    st

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 6 Bài 10, 11
  • Giải Bài Tập Trang 10, 11 Sgk Toán 9 Tập 1 Bài 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12,
  • Giải Bài Tập Hóa 10 Nâng Cao Sách Giáo Khoa Chương Nguyên Tử
  • Hướng Dẫn Giải Bài Tập Giải Tích 12 Trang 18 Sách Giáo Khoa
  • Giải Bài 4, 5, 6 Trang 64, 65 Sgk Sinh 12
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Thương Vợ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Thương Vợ (Tế Xương)
  • Bài Tập Làm Văn Số 2 Lớp 11 Đề 2: Hình Ảnh Người Phụ Nữ Việt Nam Thời Xưa Qua Bài “bánh Trôi Nước”, “tự Tình 2” Và “thương Vợ”
  • Liên Hệ Giữa Phép Nhân Và Phép Khai Phương, Giải Toán 9 Bài 3
  • Bài 15,16,17, 18,19,20, 21,22,23, 24,25,26 Trang 75,76 Toán 9 Tập 2: Góc Nội Tiếp
  • Giải Bài Tập Trang 75, 76 Sgk Toán 9 Tập 2 Bài 15, 16, 17, 18, 19, 20,
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thương vợ

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 11

    VnDoc.com xin giới thiệu tới bạn đọc tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Thương vợ, tài liệu đã được chúng tôi cập nhật nội dung chi tiết sẽ là nguồn thông tin hữu ích giúp các bạn học sinh lớp 11 khai thác vận dụng làm bài tập một cách hiệu quả hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.

    Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Thương vợ

    1. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu? (Chú ý những từ ngữ có giá trị tạo hình, hình ảnh con cò trong ca dao được tác giả vận dụng một cách sáng tạo). Gợi ý trả lời Hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu được thể hiện qua nỗi lòng thương vợ của ông Tú. Tình thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân và những đức tính cao đẹp của bà Tú. Mở đầu tác giả giới thiệu về hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú, qua đó hiện lên hình ảnh bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi:

    Quanh năm buôn bán ở mom sông.

    Hoàn cảnh vất vả, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. “Quanh năm” là suốt cả năm, không trừ ngày nào, dù mưa hay nắng. “Quanh năm” còn là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là “mom sông” – phần đất ở bờ sông nhô ra phía lòng sông.

    Như thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú, Cần thấy được những sáng tạo của Tú Xương khi vận dụng hình ảnh, ngôn ngữ của văn học dân gian. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện giữa cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao: “Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”) mà còn trong cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ “khi quãng vắng” tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu, nguy hiểm. Cách đảo ngữ – đưa từ lặn lội lên đầu câu, cách thay con cò bằng thân cò nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú, gợi nỗi đau thân phận.

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

    Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn bả trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. “Buổi đò đông” đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn “khi quãng vắng”. Trong ca dao, người mẹ từng căn dặn con: “Con ơi nhớ lấy câu này – Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”, “Buổi đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn, mặc cả, cáu gắt, những sự chen lấn xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc. Hai câu thực đối nhau về từ ngữ (“khi quãng vắng” đối với “buổi đò đông”) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả, gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn bả trong cảnh chen chúc làm ăn.

    Hai câu thơ nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương tấm lòng xót thương da diết.

    2. Phân tích những câu thơ nói lên đức tính cao đẹp của bà Tú. Gợi ý trả lời Đức tính cao đẹp của bà Tú được thể hiện qua bốn câu thơ sau:

    Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không.

    Bà Tú là người đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con, duyên một mà nợ hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất vả vì chồng con.

    Tác giả mượn hình ảnh: nắng, mưa để chỉ sự vất vả của vợ. Các từ: năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ cho (“năm nắng mười mưa”) vừa nói lên sự vất vả gian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.

    3. Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối là lời của ai, có ý nghĩa gì?

    Gợi ý trả lời

    Lời “chửi” trong câu thơ là lời Tú Xương tự rủa mát mình nhưng lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ông chửi “thói đời” bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ. Từ hoàn cảnh riêng, tác giả lên án thói đời bạc bẽo nói chung.

    4. Nỗi lòng thương vợ của nhà thơ được thể hiện như thế nào? Qua bài thơ, anh (chị) có nhận xét gì về tâm sự và về vẻ đẹp nhân cách của Tú Xương?

    Gợi ý trả lời

    Qua bài thơ, Tác giả thể hiện sự yêu thương, quý trọng, tri ân vợ. Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện ra phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nhìn tinh mới nhận ra. Ở bài thơ Thương Uợ, ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ. Qua tác phẩm ta thấy Tú Xương là một người có nhân cách qua lời tự trách mình. Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên, nhưng duyên một mà nợ hai. Tú Xương tự coi mình là cái nợ đời mà bà Tú phải gánh chịu. Chữ “bạc” trong hai câu thơ: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không” chính là sự trách mình, chửi mình nhưng lời trách, chửi ấy rất đỗi chân thành. Để rồi Tú Xương đi đến sự chế giễu cái “vô tích sự” của mình. Xã hội xưa “trọng nam khinh nữ”, coi người phụ nữ là thân phận phụ thuộc: “xuất giá tòng phu” (lấy chồng theo chồng), “phu xướng, phụ tuỳ” (chồng nói, vợ theo). Một nhà nho như Tú Xương dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhận khiếm khuyết. Một con người như thế là một nhân cách đẹp.

    Luyện tập

    Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ trên.

    Gợi ý trả lời

    Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ:

    – Vận dụng hình ảnh:

    + Hình ảnh con cò trong ca dao nhiều khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương, chịu khó: “Con cò lặn lội bờ sông – Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”; thân phận người lao động với nhiều bất trắc, thua thiệt: “Con cò mà đi ăn đêm – Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…”.

    + Hình ảnh con cò trong bài Thương vợ nói về bà Tú có phần xót xa, tội nghiệp hơn hình ảnh con cò trong ca dao. Con cò trong ca dao xuất hiện giữa cái rợn ngợp của không gian, con cò trong thơ Tú Xương ở giữa sự rợn ngợp của cả không gian và thời gian. Chỉ bằng ba từ “khi quãng vắng”, tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, chứa đầy lo âu, nguy hiểm. Cách thay con cò bằng thân cò càng nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú và gợi nỗi đau thân phận.

    – Vận dụng từ ngữ:

    Thành ngữ “năm nắng mười mưa” được vận dụng sáng tạo: nắng, mưa chỉ sự vất vả, năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo, vừa nói lên sự vất vả gian truân, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà Tú.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Giải Bài 33 34 35 36 37 38 39 Trang 115 116 Sgk Toán 6 Tập 1
  • Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Văn Lớp 11 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 116 Sbt
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận So Sánh
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Học (Kì 2)
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Học Sách Bài Tập Ngữ Văn 11 Tập 2
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Ôn Tập Phần Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Đề Thi Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì 1 (Có Đáp Án
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài
  • Top 42 Đề Kiểm Tra, Đề Thi Ngữ Văn Lớp 11 Chọn Lọc, Có Đáp Án
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Viết Bài Làm Văn Số 3
  • Bài Tập Ôn Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Phần Đọc
  • VnDoc.com mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập : Ôn tập phần Văn học, tài liệu sẽ là nguồn thông tin hữu ích dành cho các bạn học sinh ôn tập phần văn học hiệu quả hơn để . Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.

    Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Ôn tập phần Văn học

    Gợi ý trả lời câu hỏi

    1. Phát triển trong hoàn cảnh của một nước thuộc địa, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều chịu sự tác động mạnh mẽ sâu sắc của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 chia làm hai bộ phận: Văn học công khai và văn học không công khai.

    – Do khác nhau về quan điểm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ nên bộ phận văn học công khai lại phân hoá thành nhiều xu hướng, trong đó có hai xu hướng chính nổi lên là văn học lãng mạn và văn học hiện thực.

    – Bộ phận văn học không công khai có thơ văn cách mạng, tiêu biểu nhất là thơ văn sáng tác trong tù.

    2. Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng tám năm 1945 trong sách này, cần phân biệt tiểu thuyết hiện đại với tiểu thuyết trung đại, để ôn tập.

    3. Sáng tạo tình huống là một trong những vấn đề then chốt của nghệ thuật truyện ngắn. Mỗi truyện ngắn thường chứa đựng một tình huống, tài năng của nhà văn được thể hiện một phần ở chỗ sáng tạo nên những tình huống truyện độc đáo. Đó là tình huống nhầm lẫn (“Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc); tình huống trào phúng: mâu thuẫn giữa mục đích có vẻ tốt đẹp và thực chất là tai hoạ (Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan); tình huống éo le: những tâm hồn tri âm tri kỉ bị đặt trong thế thù địch, việc cho chữ – một công việc đầy tính văn hoá – lại diễn ra trong chốn ngục tù hôi hám (Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân); tình huống bi kịch: mâu thuẫn giữa khát vọng sống lương thiện, khát vọng làm người và tình trạng bị cự quyệt quyền làm người (Chí Phèo của Nam Cao).

    4. Các em nên xem lại những bài học có nêu trong câu hỏi những bài viết về các truyện ngắn trong sách này để hướng dẫn cho HS

    5. Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một cuốn tiểu thuyết hiện thực trào phúng, dùng hình thức giễu nhại để lật tẩy tính chất giả dối, bịp bợm, chỉ biết chạy theo đồng tiền và lối sống ăn chơi đồi bại của xã hội trưởng giả những năm trước 1945. Đối tượng trào phúng ở chương Hạnh phúc của một tang gia là cái xã hội thượng lưu trí thức ấy, tự bản thân nó chứa đầy mâu thuẫn trào phúng. Nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích này được thể hiện ở những phương diện sau: phát hiện mâu thuẫn và tạo dựng được tình huống trào phúng độc đáo (“hạnh phúc” chung của tang gia và “hạnh phúc” riêng của từng người), nghệ thuật miêu tả đám tang, ngôn ngữ mang giọng mỉa mai, giễu nhại và những cách chơi chữ, so sánh bất ngờ, độc đáo,…

    6. Riêng câu hỏi về đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng) cần lưu ý: Vở kịch triển khai hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa việc xây dựng Cửu Trùng Đài phục vụ cho bọn hôn quân bạo chúa với đời sống khốn cùng của nhân dân và mâu thuẫn giữa khát vọng sáng tạo nghệ thuật to lớn với điều kiện khó khăn của đất nước. Tác giả đã giải quyết mâu thuẫn thứ nhất theo quan điểm nhân dân, nhưng không phê phán, quy tội cho Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Còn cách giải quyết mâu thuẫn thứ hai như thế cũng là thoả đáng, gợi ra ở người đọc những suy nghĩ riêng. Câu 7, 8. Các em tự làm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Tình Yêu Và Thù Hận
  • Ôn Tập Phần Văn Học (Kì Ii), Trang 115 Sgk Văn 11
  • Bài 3 Luyện Tập Trang 42 Sgk Ngữ Văn 11
  • Luyện Tập Về Câu Nghi Vấn Tu Từ
  • Luyện Tập Về Nghĩa Của Câu
  • Bài 1 Luyện Tập Trang 11 Sgk Ngữ Văn 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Con Rồng Cháu Tiên; Bánh Chưng, Bánh Giầy Sách Bài Tập Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Bài Giải Sách Bài Tập Toán 6 Trang 12 Tập 1 Câu 56
  • Giải Soạn Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh Sbt Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Sơn Tinh, Thủy Tinh
  • Soạn Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh (Chi Tiết)
  • Trả lời câu hỏi bài 1 luyện tập trang 11 SGK Ngữ văn lớp 6 tập 2 phần hướng dẫn soạn bài Bài học đường đời đầu tiên ngữ văn 6.

    Đọc Tài Liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 luyện tập trang 11 sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập Hai phần Luyện tập soạn bài Bài học đường đời đầu tiên chi tiết nhất.

    Đề bài: Ở đoạn cuối truyện, sau khi chôn cất Dế Choắt, Dế Mèn đứng lặng hồi lâu trước nấm mồ của người bạn xấu số. Em thử hình dung tâm trạng của Dế Mèn và viết một đoạn văn diễn tả lại tâm trạng ấy theo lời của Dế Mèn.

    Trả lời bài 1 luyện tập trang 11 SGK văn 6 tập 2

    Cách trả lời 1:

    Tôi đem xác Dế Choắt đến chôn vào một vùng cỏ um tùm. Tôi đắp thành một nấm mộ to. Tôi đứng lặng giờ lâu nghĩ về người bạn hàng xóm xấu số bị chết trong một cái hang nông choèn. Phải chi cái hôm nọ đến chơi và dạy cho Dế Choắt phải làm hang thế này, thế nọ, mình chỉ cần cho Choắt đào một đoạn hầm sang nhà mình là đủ cho cậu ta thoát hiểm. Phải chi mình không chọc giận chị Cốc to lớn lênh khênh. Chao ôi, cứ nghĩ đến cái mỏ khổng lồ của chị Cốc bổ xuống những cú như trời giáng ! Dế Choắt chắc là kiệt sức nhảy né tránh để rồi tuyệt vọng nhận cái mổ oan nghiệt…

    Tôi đã không cầm nổi nước mắt khi đắp những viên đất cuối cùng cho người dưới mộ lúc ánh hoàng hôn rưới máu xuống những ngọn cỏ so le vàng. Tôi òa lên nức nở: Dế Choắt ơi ! Cậu sống khôn thác thiêng, cậu đừng trách móc gì mình nữa. Kể từ nay mình sẽ sống tất cả vì mọi người. Mình sẽ đi khắp bốn phương trời để kết nghĩa huynh đệ với tất cả, mong làm điều thiện diệt trừ cái ác… Mình sẽ hi sinh cá nhân để chuộc cái lỗi hôm nay.

    Tôi thất thểu bò vào nhà mình. Tất cả tối om, trống trải. Ngày mai tôi quyết định đi thực hiện lời hứa với người bạn đã khuất của mình.

    Cách trả lời 2:

    Tôi cảm thấy hối hận và đau xót lắm. Trò đùa ngỗ ngược của tôi đã khiến cho anh Choắt phải vạ lây. Tôi giận cái thói huênh hoang, hống hách của mình. Càng nghĩ đến lời anh Choắt, tôi càng thấy thấm thía hơn. Hôm nay, cũng may mà thoát nạn nhưng nếu không cố mà sửa cái thói hung hăng bậy bạ đi thì khéo sớm muộn rồi tôi cũng sẽ tự rước hoạ vào mình. Sự việc hôm nay quả thực đã dạy cho tôi một bài học đường đời quá lớn. Chắc cho đến mãi sau này, tôi cũng không thể nào quên.

    Cách trả lời 3:

    Tôi hối hận lắm. Người hàng xóm ốm yếu mà tôi vẫn coi khinh, vẫn dửng dưng nay tại tôi mà phải chết oan, tại cái thói huênh hoang, hống hách của tôi. Tôi giận mình lắm. Nếu như tôi nghe lời can ngăn không bày trò trêu chị Cốc, nếu như trước đó tôi biết thông cảm giúp đỡ anh Choắt thì có lẽ cơ sự đã không như thế này. Tôi dại quá. Hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ cho những cử chỉ ngu dại của mình thôi. Tôi sẽ không quên bài học này, bài học được đánh đổi bằng cả mạng sống bạn bè.

    Bài 1 luyện tập trang 11 SGK ngữ văn 6 tập 2 do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn theo các cách trình bày khác nhau giúp em chuẩn bị bài và soạn bài Bài học đường đời đầu tiên tốt hơn trước khi đến lớp.

    Chúc các em học tốt !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1 Trang 16 Sgk Ngữ Văn 6
  • Soạn Bài Chủ Đề Và Dàn Bài Của Bài Văn Tự Sự Sbt Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Chủ Đề Và Dàn Bài Của Bài Văn Tự Sự
  • Soạn Bài Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt Trang 15 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Bài Giải Sách Bài Tập Toán 6 Trang 15 Tập 1 Câu 6.4, 6.5
  • Luyện Tập: Ngữ Cảnh, Trang 106 Sgk Văn 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài 1, 2, 3, 4, 5 Trang 106 Sgk Vật Lý Lớp 10
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Thao Tác Lập Luận Bình Luận
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Học (Học Kì 2)
  • Ôn Tập Phần Văn Học Văn 11 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 103 Sbt Văn 11…
  • 1. Câu 1 trang 106 SGK Văn 11.

    Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, có câu viết:

    Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

    Câu văn trên xuất phát từ bối cảnh: Tin tức về kẻ địch đến đã phong thanh mười tháng nay, vậy mà lệnh quan (đánh giặc) vẫn chẳng thấy đâu. Người nông dân đã thấy rõ sự dơ bẩn của kẻ thù và căm ghét chúng mỗi khi thấy bóng dáng tàu xe của chúng.

    2. Câu 2 trang 106 SGK Văn 11.

    Hồ Xuân Hương mở đầu bài thơ Tự tình (bài II) bằng hai câu thơ sau:

    Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non.

    Hai câu thơ trên của Xuân Hương gắn với tình huống giao tiếp cụ thế: Đêm khuya, tiếng trống canh dồn dập mà người phụ nữ thì cô đơn, trơ trọi,.. Câu thơ diễn tả tình huống, còn tình huống là nội dung đề tài của câu thơ. Tất nhiên, ngoài việc diễn tả tình huống, câu thơ còn bộc lộ tâm sự của nhân vật trữ tình.

    3. Câu 3 trang 106 SGK Văn 11.

    Từ hoàn cảnh về cuộc sống của Tú Xương, có thể thấy bà Tú là một người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó làm ăn để nuôi chồng, nuôi con. Bà Tú kiếm sống bằng nghề buôn bán nhỏ. Những chi tiết trong hoàn cảnh sống của gia đình Tú Xương chính là bối cảnh tình huống cho nội dung các câu thơ trong bài (6 câu đầu). Ví dụ, việc dùng thành ngữ “một duyên hai nợ” không phải chỉ nói đến nỗi vất vả của bà Tú, mà xuất phát từ chính ngữ cảnh sáng tác: Bà Tú phải làm để nuôi cả chồng và con.

    4. Câu 4 trang 106 SGK Văn 11.

    Vào năm Đinh Dậu (1897), chính quyền mới do thực dân Pháp lập nên (nhà nước) đã bắt các sĩ tử Hà Nội xuống thi chung ở trường thi Nam Định. Theo thông lệ, kì thi Hương được tổ chức ba năm một lần. Những thông tin này chính là ngữ cảnh của câu thư:

    Nhà nước ba năm mà một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà.

    Trong khoa thi Hương của năm Đinh Dậu ấy, Toàn quyền Pháp ở Hà Nội là Đu-me đã cùng vợ đến dự. Những sự kiện này chính là ngữ cảnh tạo nên câu thư:

    Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra. 5. Câu 5 trang 106 SGK Văn 11.

    Bài tập nêu tình huống (bối cảnh giao tiếp hẹp) là: Lúc di đường, hai người không quen biết gặp nhau. Trong tình huống đó, thường người ta không bao giờ đường đột ngột hỏi về những chuyện riêng tư (có hay không có đồng hồ) mà chỉ hỏi nhau về những đề tài mang tính khách quan, có quan hệ đến mọi người. Chính vì thế, trong ngữ cảnh này, không thể hiểu câu hỏi của người đi dường là nói về đề tài cái đồng hồ mà phải hiểu đó là câu hỏi hỏi về thời gian, nhằm mục đích nêu nhu cầu cần biết về thời gian lúc đó.

    Đã có app Học Tốt – Giải Bài Tập trên điện thoại, giải bài tập SGK, soạn văn, văn mẫu…. Tải App để chúng tôi phục vụ tốt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Liên Kết Câu Và Liên Kết Đoạn Văn
  • Giải Bài Tập Trang 43 Sgk Sinh Học Lớp 11: Quang Hợp Ở Nhóm Các Thực Vật C3, C4 Và Cam Giải Bài Tập
  • Luyện Tập: Từ Láy Trang 43 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Phân Tích (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Phân Tích
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Viết Bài Làm Văn Số 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Ôn Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Phần Đọc
  • Soạn Bài Nghĩa Của Từ Trang 35 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Soạn Bài Hầu Trời, Trang 12 Sgk Văn 11
  • Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ, Trang 31 Sgk Văn 11
  • Bài 1 Trang 35 Sgk Ngữ Văn 6
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 11

    VnDoc.com mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học, với nội dung mà chúng tôi tổng hợp bao gồm những gợi ý hay để giúp các bạn học sinh làm bài viết số 3 được tốt hơn. Qua bộ tài liệu này chắc chắn các bạn học sinh sẽ học tốt Ngữ văn 11.

    Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Viết bài làm văn số 3 – Nghị luận văn học

    Gợi ý trả lời câu hỏi Đề 1

    So sánh tài sắc của Thuý Vân và Thuý Kiều, Nguyễn Du đã tả Thuý Vân:

    Vân xem trang trọng khác Uời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

    Đó là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu của Thuý Vân, nhưng Thuý Kiều còn đẹp hơn:

    Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Làn thu thuỷ, nét xuân Sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc dành đòi một, tài dành hoạ hai.

    Thuý Kiều chẳng những rất đẹp, nàng còn rất tài hoa (giỏi thơ, giỏi hoạ, giỏi đàn) và có tâm hồn đa sầu, đa cảm. Tâm hồn ấy còn tìm đến những khúc ca ai oán:

    Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân.

    Nguyễn Du quan niệm tạo hoá hay ghen ghét với những người tài sắc (Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen). Tài sắc của Thuý Kiều như báo trước số phận mười lăm năm lưu lạc của nàng. Đoạn trích này thể hiện kín đáo dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du.

    Đề 2

    Nguyễn Khuyến và Tú Xương cùng sống trong một thời đại (buổi đầu của thời đại thực dân nửa phong kiến nước ta, với bao điều nhố nhăng, bất công, tàn ác,…).

    Cả hai đều có nỗi niềm chung: đau xót và căm ghét. Nhưng thân thế và hoàn cảnh của Nguyễn Khuyến và Tú Xương có chỗ khác nhau: Nguyễn Khuyến đỗ đạt, có khoa danh,… còn Tú Xương tám lần đi thi chỉ đỗ tú tài và không được bổ dụng, cảnh nhà nheo nhóc, túng thiếu. Giọng thơ của hai tác giả cũng khác nhau: Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, thâm thuý; Tú Xương mạnh mẽ, cay độc (tìm những câu thơ thích hợp để dẫn chứng).

    Đề 3

    Đọc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ta thấy hình tượng người nông dân – nghĩa sĩ: mộc mạc, chất phác, không quen chiến đấu (dẫn chứng) nhưng rất mực nghĩa khí, căm thù quân xâm lược, xả thân chống giặc (dẫn chứng). Đây là hình tượng người nông dân – anh hùng chống ngoại xâm Xuất hiện lần dầu tiên trong một tác phẩm văn học Việt Nam.

    Đề 4

    Các em chỉ nói một vài điều thấm thía và xúc động nhất khi tìm hiểu cuọc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Mỗi cá nhân có một cảm nhận riêng, cần diễn đạt suy nghĩ và cảm nhận của mình một cách chân thành. Đây là dạng đề yêu cầu các em vừa phải vận dụng những kiến thức văn học sử, vừa phải trình bày những suy nghĩ riêng của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 42 Đề Kiểm Tra, Đề Thi Ngữ Văn Lớp 11 Chọn Lọc, Có Đáp Án
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài
  • ✅ Đề Thi Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì 1 (Có Đáp Án
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Ôn Tập Phần Văn Học
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Tình Yêu Và Thù Hận
  • Bài 3 Luyện Tập Trang 42 Sgk Ngữ Văn 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Phần Văn Học (Kì Ii), Trang 115 Sgk Văn 11
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Tình Yêu Và Thù Hận
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Ôn Tập Phần Văn Học
  • ✅ Đề Thi Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì 1 (Có Đáp Án
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài
  • Trả lời câu hỏi bài 3 luyện tập trang 42 SGK Ngữ văn lớp 11 tập 2 phần hướng dẫn soạn bài Chiều tối ngữ văn 11.

    Tài liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 3 luyện tập trang 42 sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập Hai phần luyện tập soạn bài Chiều tối của chủ tịch Hồ Chí Minh chi tiết và đầy đủ nhất.

    Trong bài Đọc thơ Bác, Hoàng Trung Thông viết:

    Vần thơ của Bác, vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.

    Điều đó thể hiện trong bài thơ Chiều tối như thế nào?

    Trả lời bài 3 luyện tập trang 42 SGK văn 11 tập 2

    Cách trả lời 1:

    Nhà thơ Hoàng Trung Thông đã ca ngợi thơ Bác: vừa có chất thép mà vẫn đậm đà chữ “tình”. Điều đó được thể hiện rất rõ trong bài thơ ” Chiều tối “.

    – Chất thép:

    + Hai câu thơ đầu, Bác đã vẽ nên một bức tranh mang vẻ đẹp cổ điển, tả ít mà gợi nhiều, chỉ hai nét phác họa mà gợi lên hồn cảnh vật.

    – Chất tình:

    + Hình ảnh Bác trong bài thơ đã vượt hoàn cảnh, tâm hồn để hướng đến ánh sáng, gắn bó với cuộc đời, con người. Qua đó thấy được tình yêu thiên nhiên, Tổ quốc, yêu cuộc sống bình dị của người lao động.

    + Bài thơ tuy viết về cảnh chiều tối nhưng lại thắp sáng lên trong lòng người đọc một ngọn lửa hồng ấm áp của niềm tin yêu đời.

    Cách trả lời 2:

    Hai câu thơ của Hoàng Trung Thông thấy được bài thơ trong Nhật kí trong tù của Bác luôn có sự hài hòa chất thép và chất tình:

    – Chất thép: tinh thần chiến sĩ chủ động, bình tĩnh trước gian khổ, vượt lên hoàn cảnh bằng niềm lạc quan.

    – Chất tình: tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống dung dị người lao động.

    Cách trả lời 3:

    Thép và tình trong thơ Hồ Chí Minh (biểu hiện rõ nhất qua tập Nhật kí trong tù):

    – Chất thép chính là cái dũng khí kiên cường, phong thái ung dung tự tại, lạc quan yêu đời.

    – Chất tình là tình cảm dào dạt với thiên nhiên, cuộc sống và con người.

    Trong bài thơ Chiều tối: Thiên nhiên được cảm thụ theo một quan điểm riêng và thể hiện theo một bút pháp riêng. Thiên nhiên trong bài thơ đồng điệu với lòng người. Nó khắc sâu tình yêu quê hương, yêu cuộc sống và khát khao tự do.

    Chúc các em học tốt !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luyện Tập Về Câu Nghi Vấn Tu Từ
  • Luyện Tập Về Nghĩa Của Câu
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ
  • Nghĩa Của Câu (Tiếp Theo), Trang 18 Sgk Văn 11
  • Soạn Bài Nghĩa Của Câu (Chi Tiết)
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Đố Mẹo Có Đáp Án, Hay Và Khó Nhất 2022
  • 7 Bài Tập Excel Cơ Bản Có Lời Giải Hay Nhất
  • Soạn Bài Lớp 6: Phương Pháp Tả Người
  • Soạn Bài Phương Pháp Tả Cảnh Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài Phương Pháp Tả Cảnh Siêu Ngắn
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 11

    Để học tốt Ngữ văn lớp 11, chúng tôi mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, với nội dung đã được chúng tôi cập nhật một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.

    Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    I. PHẦN MỘT: TÁC GIẢ

    1. Nêu những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu. Anh (chị) cảm nhận sâu sắc điều gì qua cuộc đời nhà thơ?

    Gợi ý trả lời

    Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, tục gọi là Đồ Chiểu, sinh tại quê mẹ – làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), xuất thân trong gia đình nhà nho, cha là Nguyễn Đình Huy quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông là lá cờ đầu của văn thơ yêu nước chống thực dân Pháp khi chúng mới bắt đầu xâm lược nước ta. Văn thơ ông hừng hực tinh thần yêu nước và khí thế chiến đấu chống Pháp và bè lũ tay sai, có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân.

    Tác phẩm chính: Dương Từ Hà Mậu, Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều vấn đáp y thuật, … Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là một trấm gương trong sáng, cao đẹp về nhân cách, nghị lực và ý chí, về lòng yêu nước, thương dân và thái độ kiên trung, bất khuất trước kẻ thù. Thơ văn ông là một bài ca đạo đức, nhân nghĩa, là tiếng nói yêu nước cất lên từ cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, là thành tựu nghệ thuật xuất sắc mang đậm sắc thái Nam Bộ.

    2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

    – Dựa vào những đoạn trích đã học về Truyện Lục Vân Tiên (ở lớp 9 và lớp 11), hãy cho biết lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tình cảm nào.

    – Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu? Tác động tích cực của những sáng tác thơ văn ấy đối với cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đương thời ?

    – Theo anh (chị), sắc thái Nam Bộ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện ở những điểm nào? Gợi ý trả lời

    – Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa: Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho, cho nên lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông không thể không mang tinh thần Nho giáo. Nhưng ông cũng là một trí thức nhân dân, suốt đời sống ở nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác. Họ cũng có cách hiểu dân dã của mình về nhân nghĩa: nhân là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn, nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa vợ chồng, tình bạn bè, tinh thần hiệp nghĩa sẵng sàng cứu khốn phò nguy. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần sâu sắc điều đó. Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Vân Tiên hầu hết là những người sinh trưởng nơi thôn ấp nghèo khó (những chàng nho sinh hàn vi như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh, những ông Ngư, ong Tiều, ông Quán, chú Tiểu đồng, lão bà dệt vải.”), tâm hồn ngay thẳng, không màng danh, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người bị nạn.

    – Lòng yêu nước thương dân: Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Đây là thời kì lịch sử mà cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gọi là ” khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc ta. Đất nước mất dần vào tay giặc, các phong trào chống Pháp lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống nơi chiến trường. Nhưng “súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”: thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sáng rõ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc gặp buổi thương đau: “Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi, than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại” (Văn tế Trương Định). Ông căm uất chửi thẳng vào mắt kẻ thù: “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta, bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ông hết lòng ca ngợi những sĩ phu như Trương Định, Phan Tòng đã một lòng vì nước, vì dân: “Viên đạn nghịch thần treo trước mặt – Lưỡi gươm định khái nắm trong tay” (Thơ điếu Phan Tòng). Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã chia đất khác, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thị – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều y thuật vấn đáp). Với nội dung đó có thể nói thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời, có tác dụng động viên, khích lệ không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân.

    – Sắc thái độc đáo của Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Các nhân vật như Vân Tiên, ông Ngư, Hớn Minh… họ đều mộc mạc, chất phác nhưng nặng nghĩa, nặng tình. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵng sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét riêng trong vẻ đẹp của người Viêt Nam.

    3*. Với những kiến thức đã học về Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, anh (chị) cảm nhận được điều gì gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa hai nhà thơ này ? Hãy trình bày ý kiến của mình.

    Gợi ý trả lời

    Nguyễn Trãi nhân nghĩa đã hướng tới người dân. Ông kêu gọi người cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân giặc bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, xây dựng nền chính trị nhân chính, khoan thư sức dân. Đến Nguyễn Đình Chiểu, ông đặc biệt đề cao chữ nghĩa, biểu dương những truyền thống đạo đức tốt đẹp giữa con người với con người, quan tâm sâu sắc đến quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng đất mới Nam Kì, vốn rất xem trọng mối liên hệ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa truyền thống.

    LUYỆN TẬP

    Căn cứ vào những kiến thức đã học về Nguyễn Đình Chiểu và các tác phẩm của ông, anh (chị) suy nghĩ như thế nào về nhận định của nhà thơ Xuân Diệu: “Cái ưu ái đối với người lao động, sự kính mến họ là một đặc điểm của tâm hồn Đồ Chiểu”?

    Gợi ý trả lời

    Có thể giải bài tập theo những gợi ý sau:

    a) Giải thích câu nói của nhà thơ Xuân Diệu. (Chú ý làm rõ “cái ưu ái”, “sự kính mến” đối với người lao động).

    b) Chứng minh nhận định đó qua cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và những tác phẩm đã học (Truyện Lục Vân Tiên, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc):

    – Những yếu tố nào trong cuộc đời đã góp phần hình thành nét đẹp tâm hồn đó ở Nguyễn Đình Chiểu?

    – Nhân vật người lao động đã chiếm lĩnh tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? (Họ là những ai trong Truyện Lục Vân Tiên và thơ văn yêu nước? Nguyễn Đình Chiểu đã đề cao những phẩm chất nhân cách gì của họ? Họ đã có những đóng góp tích cực cho cuộc đời như thế nào?)

    – Lập trường nhân dân, tấm lòng yêu thương, cảm thông, chăm lo đến quyền lợi nhân dân đã chi phối nguồn cảm xúc của Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? (Chú ý phân tích Lẽ ghét thương, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).

    – Cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Đình Chiểu về người nông dân – nghĩa sĩ biểu hiện qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc?

    c) Kết luận: Đánh giá chung về sức sống lâu bền của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    2. PHẦN HAI: TÁC PHẨM

    1. Đọc Tiểu dẫn, nắm những nét cơ bản về thể văn tế. Tìm bố cục của bài văn tế này.

    Gợi ý trả lời

    Vận dụng những hiểu biết về thể văn tế đã nói ở trên để tìm bố cục của bài này và ý nghĩa từng đoạn.

    Đoạn 1 – Lung khởi (câu l, 2): khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân – nghĩa sĩ.

    Đoạn 2 – Thích thực (từ câu 3 đến câu 15): tái hiện chân thực hình ảnh người nông dân – nghĩa sĩ, từ cuộc đời lao động vất vả, tủi cực đến giây phút vươn mình trở thành dũng sĩ, đánh giặc và lập chiến công.

    Đoạn 3 – Ai vãn (từ câu 16 đến câu 28): bày tỏ lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác giả và của nhân dân đối với người nghĩa sĩ.

    Đoạn 4 – Kết (hai câu cuối): ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.

    2. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện trong bài văn tế như thế nào ? (Chú ý phân tích qua cả quá trình: hình ảnh họ trong cuộc sống bình thường, những biến chuyển khi quân giặc xâm phạm tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây).

    Theo anh (chị), đoạn văn miêu tả này đạt giá trị nghệ thuật cao ở những điểm nào (về nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật ngôn ngữ, bút pháp trữ tình,…)?

    Gợi ý trả lời

    Đoạn 1

    Có hai ý lớn: khung cảnh bão táp của thời đại, phản ánh biến cố chính trị lớn lao chi phối toàn bộ thời cuộc là sự đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp và ý chí kiên cường bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta (chú ý những từ chỉ các yếu tố không gian to lớn như đất, tròn và những động từ gợi sự khuếch tán âm thanh và ánh sáng như rền, tỏ); ý nghĩa bất tử của cái chết vì nghĩa lớn. Tất cả hợp thành một bệ đỡ hoành tráng cho bức tượng đài sẽ được dựng ở đoạn sau thành một chỉnh thể có tầm vóc to lớn, bài văn tế trở nên đậm chất sử thi.

    Đoạn 2

    + Tái hiện hình ảnh người nông dân trước “trận nghĩa đánh Tây”. Các em đọc để tìm hiểu và phân tích các chi tiết diễn tả cái nhìn chân thực và chan chứa niềm cảm thông đối với cuộc đời lam lũ, tủi cực của người nông dân (câu 3, chú ý từ ngữ gợi cảm cui cút) và dụng ý nghệ thuật của tác giả khi nhấn mạnh vào đặc điểm họ hoàn toàn xa lạ với công việc binh đao (câu 4, 5), nhằm tạo sự đối lập để tôn cao tầm vóc người anh hùng ở đoạn sau.

    + Bước chuyển biến khi quân giặc xâm phạm đất đai, bờ cõi của cha ông: Các em đọc tiếp từ câu 6 đến câu 9, tìm những chi tiết miêu tả lần lượt những bước chuyển biến về tình cảm – lòng căm thù giặc (câu 6, 7), về nhận thức – ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp cứu nước (câu 8, chú ý giải thích nghĩa câu, cuối cùng là hành động tự nguyện “mến nghĩa làm quân chiêu mộ” và ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của người nông dân – nghĩa sĩ (câu 9, lưu ý những cụm từ có sắc thái biểu cảm mạnh: nào đợi, chẳng thèm, ra sức đoạn kình, ra tay bộ hổ). Những bước chuyển biến được miêu tả chân thực, sinh động, hợp lí, gần gũi với cách suy nghĩ và lời ăn tiếng nói của người nông dân. (Ví dụ: “Trông tin quan như trời hạn trông mưa,… ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”).

    + Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong “trận nghĩa đánh Tây” (từ câu 10 đến câu 15). Có hai ý các em cần khai thác:

    * Hình ảnh của đội quân áo vải được khắc hoạ hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo tính ước lệ của văn thơ trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lí tưởng hoá (các em dẫn chứng từ các câu 10, 11, 12). Đáng chú ý là những chi tiết chân thực đều được chọn lọc tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính khái quát, đặc trưng cao (ví dụ: manh áo vải, ngọn tầm bông, rơm con cúi, lưỡi dao phay gắn bó đến không thể tách rời trong cuộc sống những người nông dân thuở ấy). Do thế, bức tượng đài ánh lên một vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà không kém “chất” anh hùng bởi tấm lòng mến nghĩa, bởi tư thế hiên ngang, coi thường mọi khó khăn, thiếu thốn: nào đợi tập rèn, không chờ bày bố, nào đợi mang…, chi nài sắm… (Có thể so sánh với vẻ phi thường của người anh hùng Từ Hải trong Truyện Kiều: “Râu hùm, hàm én, mày ngài – Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” và hình ảnh rạng ngời oai phong của Lục Vân Tiên khi cầm quân đánh giặc ngoại xâm: “Vân Tiên đầu đội kim khôi – Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô”).

    * Hình tượng những người anh hùng được khắc nổi trên nền một trận công đồn đầy khí thế tiến công. Các em đọc lại những câu 13, 14, 15, tìm những chi tiết miêu tả trận đánh, nhận xét về những biện pháp nghệ thuật: Hệ thống từ ngữ: dùng rất nhiều từ chỉ hành động mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, xô, hè, ó,…), dứt khoát (đốt xong, chém đặng, trối kệ), nhiều khẩu ngữ nông thôn và từ ngữ mang tính địa phương Nam Bộ (nhà dạy đạo, như chẳng có, thằng Tây, hè, ó, trối kệ,…). Phép đối: đối từ ngữ (trống kì / trống giục, lướt tới / xông Uào; đạn nhỏ / đạn to; đâm ngang / chém ngược; hè trước / ó sau,…); đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm Uông/địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng; vũ khí thô sơ; rơm con cúi, lưởi dao phay / chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan hai; đối thanh bằng – trắc (kia/ nọ, kì/giục, tới/Uào, nhỏ / to, ngang / ngược, trutóc / sau,…).

    Hiệu quả nghệ thuật: tạo nhịp điệu đoạn văn nhanh, mạnh, dứt khoát, sôi nổi góp phần tái hiện một trận công đồn của nghĩa quân Cần Giuộc rất khẩn trương, quyết liệt, sôi động và đầy hào hứng.

    Trên cái nền trận đánh đó là hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ coi giặc cũng như không, liều mình như chẳng có, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ, nào sợ… đạn nhỏ đạn to… Khí thế của họ là khí thế đạp lên đầu thù xốc tới, không quản ngại bất kì sự gian khổ, hi sinh nào, rất tự tin và đầy ý chí quyết thắng. Hình ảnh đó oai phong, lẫm liệt như hình tượng các dũng sĩ trong những thiên anh hùng ca thuở xưa, nhưng lại gần gũi, sống động, tưởng như họ vừa “Rũ bùn đứng dậy sáng loà” (Nguyễn Đình Thi).

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động.

    3. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Theo anh (chị), đó là những cảm xúc gì? Vì sao tiếng khóc đau thương này lại không hề bi luỵ?

    Gợi ý trả lời

    Đoạn Ai vãn của bài văn tế. Ở đoạn này, các tình cảm đan cài vào nhau, nên chọn phương pháp khai thác theo hình tượng. Đây là đoạn văn bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của tác giả và của nhân dân đương thời đối với người nghĩa sĩ, cho nên tính trữ tình bao trùm, nhưng xen kẽ vào đó vẫn có những yếu tố hiện thực, có giá trị làm tăng độ sâu nặng của cảm xúc.

    Trước hết, các em cần đọc và tìm hiểu những nguồn cảm xúc cộng hưởng trong tiếng khóc thương của tác giả, các em cần tìm và phân tích qua những chi tiết nghệ thuật của đoạn văn:

    – Nỗi xót thương đối với người nghĩa sĩ: Ở đây có nỗi tiếc hận của người phải hi sinh khi sự nghiệp còn đang dang dở, chí nguyện chưa thành (câu 16, 24), nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với những người mẹ già, vợ trẻ (câu 25), nỗi căm hờn những kẻ đã gây nên nghịch cảnh éo le (câu 21) hoà chung với tiếng khóc uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước, của dân tộc (câu 27). Nhiều niềm cảm thương cộng lại thành nỗi đau sâu nặng (“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo”), không chỉ ở trong lòng người mà dường như còn bao trùm khắp cỏ cây, sông núi, sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tông Thạnh, Bến Nghé, Đồng Nai, tất cả đều nhuốm màu tang tóc, bi thương.

    – Niềm cảm phục và tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên bảo vệ từng “tấc đất ngọn rau”, “bát cơm manh áo” của mình chống lại kẻ thù hung hãn (câu 19, 20), đã lấy cái chết để làm rạng ngời một chân lí cao đẹp của thời đại: thà chết vinh còn hơn sống nhục (câu 22, 23).

    – Biểu dương công trạng của người nông dân – nghĩa sĩ, đời đời được nhân dân ngưỡng mộ, Tổ quốc ghi công (câu 26, 28). Sau khi đã phân tích qua cả đoạn văn, các em nên chốt lại:

    Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người nghĩa sĩ.

    Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của cả dân tộc trước làn sóng xâm lăng của thực dân. Nó không chỉ gợi nỗi đau thương mà cao hơn nữa, còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ.

    Các em có thể tìm hiểu thêm đoạn Ai vãn trong Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (của Nguyễn Đình Chiểu, ra đời khi cả Nam Kì đã mất vào tay giặc) để thấy tiếng khóc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc tuy rất bi thiết, nhưng không đượm màu tang tóc, thê lương kéo dài như bài kia chính là nhờ nó còn bao hàm nhiều nguồn cảm xúc khác (đặc biệt là niềm cảm phục tự hào) và sự khẳng định của tác giả về ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước, vì dân mà muôn đời con cháu tôn thờ (câu 26, 28,30).

    Chi tiết không thể bỏ sót là khi viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu còn đang được tiếp sức bởi khí thế ngút trời của phong trào chống xâm lược những ngày đầu, khi nhân dân đang nhất tề nổi dậy khắp nơi.

    4. Sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế chủ yếu là do những yếu tố nào ? Hãy phân tích một số câu tiêu biểu.

    Gợi ý trả lời

    Câu hỏi có tính chất tổng kết về mặt nghệ thuật:

    – Những yếu tố làm nên sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế: cảm xúc chân thành, sâu nặng, mãnh liệt (câu 3, 25), giọng văn bi tráng, thống thiết (câu 22, 23, 24), hình ảnh sống động (câu 13, 14, 15).

    – Nghệ thuật ngôn ngữ: giản dị, dân dã nhưng được chọn lọc tinh tế, có sức biểu cảm lớn và giá trị thẩm mĩ cao (cui cút; tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo; chia rượu lạt, gặm bánh mì, mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng,…), nhiều biện pháp tu từ được sử dụng thành công (câu 14, 15).

    – Giọng điệu thay đổi theo dòng cảm xúc: đoạn 2 sôi nổi, hào hứng như reo vui cùng chiến thắng của nghĩa quân, đoạn 3 chuyển sang trầm lắng, thống thiết, có lúc như nức nở, xót xa (câu 24, 25), có lúc như tiếng kêu thương ai oán (câu 27); đoạn 4 trang nghiêm như một lời khấn nguyện thiêng liêng.

    LUYỆN TẬP

    1. Đọc diễn cảm bài văn tế.

    2. Nói về quan niệm sống của ông cha ta thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Cái sống được cha ông ta quan niệm là không thể tách rời với hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh là sự đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục. Anh (chị) hãy viết một đoạn văn phân tích những câu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thể hiện đầy đủ, sâu sắc triết lí nhân sinh đó.

    Gợi ý trả lời

    Bài tập này yêu cầu: Hiểu nhận định của Giáo sư Trần Văn Giàu, biết vận dụng để tìm và phân tích những câu văn hay, thể hiện đầy đủ triết lí nhân sinh đó trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

    a) Giải thích nhận định của Giáo sư Trần Văn Giàu. (Lưu ý: bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp những năm cuối thế kỉ XIX; mối tương quan giữa sự sống – chết của cá nhân với lẽ nhục – vinh; quan niệm về lẽ nhục – vinh ở thời đại đó).

    b) Tìm và phân tích những câu mà anh (chị) cho là hay và thể hiện đầy đủ, sâu sắc quan niệm sống đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Giải Hay Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Gợi Ý Trả Lời Câu Hỏi
  • 4 Đề Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 9 Có Đáp Án
  • Đề Thi Chọn Đội Tuyển Hsg Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tỉnh Nam Định
  • 50 Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9
  • 14 Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Lớp 9 Có Đáp Án
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100