Soạn Bài Ẩn Dụ Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 23: Ẩn Dụ
  • ✅ Đêm Nay Bác Không Ngủ (Minh Huệ)
  • Giải Soạn Bài Câu Trần Thuật Đơn Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Câu Trần Thuật Đơn Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 Trang 58…
  • Giải Soạn Bài Viết Bài Làm Văn Số 6: Văn Tả Người (Làm Tại Lớp) Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • 1. Bài tập 1, trang 69, SGK.

    2. Bài tập 2, trang 70, SGK.

    3. Bài tập 3, trang 70, SGK.

    4. Bài tập 4, trang 70, SGK.

    5. Thay thế các từ ngữ in đậm sau bằng những ẩn dụ thích hợp :

    Trong ánh hoàng hôn, những nương sắn với màu nắng vàng lộng lẫy trên khắp các sườn đồi.

    Trong đôi mắt sâu thẳm của ông, tôi thấy một niềm hi vọng.

    6. Đọc lại truyện Bức tranh của em gái tôi (Tạ Duy Anh), hãy cho biết tại sao Kiều Phương – nhân vật người em gái trong truyện – lại được gọi là Mèo. Cách gọi tên như vậy có phải là ẩn dụ không ? Tại sao ?

    Tìm trong các hoạt động giao tiếp đời sống hằng ngày những cách gọi tên tương tự.

    Gợi ý làm bài

    1. So sánh đặc điểm và tác dụng của ba cách diễn đạt sau:

    – Cách 1: Miêu tả trực tiếp về Bác Hồ.

    – Cách 2: Dùng phép so sánh, tác dụng định danh nhân vật.

    – Cách 3: Dùng phép ẩn dụ, tác dụng hình tượng hóa nhân vật.

    2. Tìm các ẩn dụ:

    a.

    – Ăn quả: người hưởng thành quả của người đi trước.

    – Kẻ trồng cây: Người tạo ra thành quả, người đi trước.

    b. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

    – Mực: đen, khó tẩy rửa.

    – Sáng: sáng sủa

    – Mực (đen) có sự tương đồng với hoàn cảnh xấu, người xấu.

    – Đèn (sáng) có sự tương đồng với hoàn cảnh tốt, người tốt.

    c. Thuyền về có nhớ bên chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    – Thuyền: sự vật, phương tiện giao thông vận tải đường thủy, có tính chất cơ động.

    – Bến: sự vật, đầu mối giao thông, có tính chất cố định.

    – Thuyền có sự tương đồng với người đi xa.

    – Bến có sự tương đồng với người ở lại.

    d. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    – Mặt trời (đi qua trên lăng): mặt trời tự nhiên.

    – Mặt trời (trong lăng rất đỏ): hình ảnh ẩn dụ, ngầm chỉ Bác Hồ.

    Cơ sở của sự liên tưởng:

    – Bác Hồ đem lại cho đất nước và dân tộc những thành quả cách mạng vô cùng to lớn.

    – Thể hiện lòng thành kính, biết ơn của nhân dân đối với Bác.

    – Cả Bác Hồ và mặt trời đều là cội nguồn của ánh sáng, sự sống của người dân Việt Nam.

    3. Tìm những ẩn dụ chuyển đổi cảm giác:

    a. Thấy mùi: từ khứu giác (mũi ngửi) chuyển sang thị giác (mắt nhìn).

    Thấy mùi hồi chín chảy qua mặt: từ xúc giác (cảm giác khi da tiếp xúc với vật) chuyển qua khứu giác.

    b. Ánh nắng chảy đầy vai.

    Tác dụng: mới lạ, độc đáo.

    c. Tiếng rơi rất mỏng.

    Tác dụng: mới lạ, độc đáo.

    d. Ướt tiếng cười của bố.

    Tác dụng: mới lạ, sinh động.

    4. Học sinh nghe và viết lại cho đúng chính tả.

    5. HS tự tìm các ẩn dụ có nghĩa tương đương với các từ in đậm đã cho trong bài tập để thay vào.

    6. HS tìm xem giữa bé Kiều Phương và Mèo có điểm gì giống nhau. Từ đó xác định xem có phải ẩn dụ không.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoán Dụ Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Câu 3.a,3.b,3.c Phần Bài Tập Bổ Sung
  • Bài 1.a, 1.b, 1.c Phần Bài Tập Bổ Sung
  • Giải Bài C4, C5, C6, C7, C8 Trang 38, 39 Sgk Vật Lí 9
  • Bai 32: Dieu Kien Xuat Hien Dong Dien Cam Ung
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 23: Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Đêm Nay Bác Không Ngủ (Minh Huệ)
  • Giải Soạn Bài Câu Trần Thuật Đơn Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Câu Trần Thuật Đơn Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 Trang 58…
  • Giải Soạn Bài Viết Bài Làm Văn Số 6: Văn Tả Người (Làm Tại Lớp) Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Các Thành Phần Chính Của Câu Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23 SGK

    Giải bài tập Ngữ văn bài 23: Ẩn dụ

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 23: Ẩn dụ là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm, giúp các bạn thuận tiện hơn trong quá trình học bài và chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo.

    Ẩn dụ I. Kiến thức cơ bản

    * Ấn dụ là tên gọi sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    * Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp là:

    – Ấn dụ hình thức.

    – Ân dụ cách thức.

    – Ẩn dụ phẩm chất.

    – Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

    II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Ẩn dụ là gì?

    Trong khổ thơ

    a)

    Anh đội viên nhìn Bác Càng nhìn lại càng thương Người cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm.

    (Minh Huệ)

    – Cụm từ người cha dùng để chỉ Bác Hồ.

    – Có thể ví như vậy là vì: Sự chăm sóc của Bác đối với anh đội viên và mọi người giống như sự chăm sóc của người cha đối với các con của mình.

    – Cách nói như vậy rất giống với phép so sánh về sự tương đồng. Nhưng khác với phép so sánh ở chỗ – trong so sánh có dùng từ để so sánh: Như, giống như… còn ở phép ẩn dụ không có từ so sánh và sự vắng mặt của một vế → Phép ẩn dụ còn gọi là so sánh ngầm.

    2. Các kiểu ẩn dụ Về thăm nhà Bác làng sen Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng.

    (Nguyễn Đức Mậu)

    Thắp, lửa hồng: Dùng để chỉ hoa râm bụt ở nhà Bác có màu hồng giống như ngọn lửa. Nhưng đó còn là ngọn lửa toả sáng từ con người Bác, cuộc đời Bác. Ân dụ phẩm chất

    b) Chao ôi trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng

    (Nguyễn Tuân)

    + Nắng giòn tan dùng để chỉ niềm vui được gặp lại sông Đà.

    + Giòn tan thường để chỉ âm thanh – trong ví dụ trên được dùng để diễn tả tâm trạng Ấn dụ chuyển đổi cảm giác

    c) Một số kiểu tương đồng để tạo phép ẩn dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

    (Tục ngữ)

    (tương đồng về phẩm chất)

    Nặng lòng xưa giọt mưa đau Mát lòng nay trận mưa mau quê nhà.

    (Tố Hữu)

    (Ẩn dụ về chuyển đổi cảm giác)

    III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. So sánh đặc điểm và tác dụng của ba cách diễn đạt. Cách 1: Bác Hồ mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm. Cách 2: Bác Hồ như người cha Đốt lửa cho anh nằm. Cách 3: Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm.

    + Cách 1 dùng cách nói bình thường, cách 2 dùng phép so sánh, cách 3 dùng phép ẩn dụ.

    + Cách 1 gợi được hình ảnh mái tóc bạc, nhưng lại không nêu được hình tượng người cha. Cách 2 tạo được hình tượng người cha nhưng lại rơi mất mái tóc bạc. Cách 3 là hay nhất ý nghĩa biểu tượng cao, vừa tạo dựng được cả hai.

    Ăn quả tương đồng với sự hưởng thụ thành quả, trồng cây tương đồng với sự tạo ra thành quả Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

    (Tục ngữ)

    Mực tương đồng với sự tối tăm, cái xấu, cái dở. Đèn tương đồng với sự tốt đẹp sáng sủa, cái hay, cái tốt.

    Thuyền ơi có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    (Ca dao)

    – Thuyền luôn di chuyển đi ngược về xuôi tương đồng với hình ảnh người con trai nay đây mai đó. Bến luôn đứng yên một chỗ, tương đồng với hình ảnh người con gái ở nhà chờ đợi.

    – Lấy quan hệ giữa thuyền và bến – để nói hộ sự đợi chờ của người con gái đối với người yêu đi xa.

    e)

    Ngày ngày Mặt Trời đi qua trên lăng Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ.

    (Viễn Phương)

    Mặt trời thiên nhiên xua tan đêm tối đem lại ánh sáng, sự sống cho muôn loại tương đồng với hình ảnh Bác Hồ đem lại ánh sáng của độc lập tự do, xua tan bóng đêm nô lệ.

    Câu 3. Tìm những ẩn dụ chuyển đổi cảm giác trong câu văn, câu thơ và nêu lên tác dụng của những ẩn dụ đó.

    a) Buổi sáng, mọi người đổ ra đường. Ai cũng muốn ngẩng lên cho thấy mùi hôi chảy qua mặt.

    (Tô Hoài)

    – Mùi hồi chín, là cảm nhận bằng khứu giác (hương thơm của trái cây).

    – Chảy qua mặt, cảm nhận bằng thị giác (có thể nhìn thấy) Ấn dụ chuyển đổi cảm giác. vợ

    – Tác dụng: Diễn tả mùi thơm lan toả nhiều đến mức có thể nhìn thấy được.

    Cha lại dắt con đi trên cát mịn Ánh nắng chảy đầy oai.

    (Hoàng Trung Thông)

    – Thường thì ánh nắng được cảm nhận bằng thị giác: Vàng óng, vàng tươi, vàng, vàng nhạt.

    – Ánh nắng trong câu thơ “chảy đầy oai”, ánh nắng chảy thành dòng có thể cảm nhận bằng xúc giác. Câu thơ vì vậy mà gợi hình, gợi cảm hơn.

    Ngoài thềm rơi chiếc lá đa Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

    (Trần Đăng Khoa)

    – Tiếng rơi là âm thanh thường được cảm nhận bằng thính giác.

    – Tiếng rơi trong câu thơ lại được diễn tả rơi mỏng và nghiêng, như vậy tiếng rơi ở đây được cảm nhận bằng thị giác.

    – Phép ẩn dụ có tác dụng diễn tả âm thanh của chiếc lá rơi rất khẽ, rất nhẹ, qua âm thanh mà biết được cách rơi và độ dày mỏng của lá thì đó là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ.

    d)

    Em thấy cả trời sao Xuyên qua từng kẽ lá Em thấy cơn mưa rào Ướt tiếng cười của bố.

    (Phan Thế Cải)

    – Trời sao trạng thái tĩnh, Xuyên qua từng kẽ lá trạng thái động, sự chuyển động trong cảm nhận của thị giác.

    – Thấy cơn mưa là cảm nhận bằng thị giác, tiếng cười cảm nhận bằng thính giác, Ướt tiếng cười vừa bằng thị giác, vừa thính giác và xúc giác.

    – Tác dụng: Thể hiện sự ngộ nghĩnh, hồn nhiên của trẻ thơ.

    Luyện nói về văn miêu tả 1. Đọc đoạn văn sau đây:

    Xong bài giảng, chuyển sang viết tập. Thầy Ha-men đã chuẩn bị cho ngày hôm đó những tờ mẫu mới tinh, trên có viết bằng “chữ rông” thật đẹp: Pháp, An-dát, Pháp, An-dát. Những tờ mẫu treo trước bàn học trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp. Ai nấy đều chăm chú hết sức, và cứ im phăng phắc! Chỉ nghe thấy tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy. Có lúc những con bọ dừa bay vào nhưng chẳng ai để ý, ngay cả những trò nhỏ nhất cũng vậy, chúng đang cặm cụi vạch những nét sổ với một tấm lòng, một ý thức, như thể cái đó cũng là tiếng Pháp… Trên mái nhà trường, chim bồ câu gù thật khẽ […]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ẩn Dụ Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài Hoán Dụ Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Câu 3.a,3.b,3.c Phần Bài Tập Bổ Sung
  • Bài 1.a, 1.b, 1.c Phần Bài Tập Bổ Sung
  • Giải Bài C4, C5, C6, C7, C8 Trang 38, 39 Sgk Vật Lí 9
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Ôn Dịch Thuốc Lá
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Mẹ Hiền Dạy Con
  • Soạn Bài Mẹ Hiền Dạy Con
  • Soạn Bài Mẹ Hiền Dạy Con Ngắn Gọn Nhất: Bà Mẹ Thầy Mạnh Tử Là Người Mẹ, Người Thầy Với Lòng Thương Con Hết Mực
  • Giải VBT Ngữ Văn 6: Ẩn dụ

    Câu 1 (trang 61 VBT Ngữ Văn 6 Tập 2): Kể tên các kiểu ẩn dụ. Mỗi kiểu cho một ví dụ.

    Trả lời:

    Ẩn dụ hình thức

    Ẩn dụ cách thức

    Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người

    Ẩn dụ phẩm chất

    Hồ Chí Minh – Người là mặt trời của cả dân tộc

    Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

    Những sợi nắng chảy dài qua từng kẽ lá

    Câu 2 (trang 61 VBT Ngữ Văn 6 Tập 2): Bài tập 1, trang 69 SGK: So sánh đặc điểm và tác dụng của ba cách diễn đạt sau đây:

    – Cách 1:

    Bác Hồ mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm

    – Cách 2:

    Bác Hồ như người cha

    Đốt lửa cho anh nằm

    – Cách 3:

    Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm

    Trả lời:

    a, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    b, Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

    c, Thuyền về có nhớ bến chăng?

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

    d, Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

    a, Buổi sáng, mọi người đổ ra đường. Ai cũng muốn ngẩng lên cho thấy mùi hồi chín chảy qua mặt.

    b, Cha lại dắt con đi trên cát mịn

    Ánh nắng chảy đầy vai

    c, Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

    d, Em thấy cả trời sao

    Xuyên qua từng kẽ lá

    Em thấy cơn mưa rào

    Ướt tiếng cười của bố

    Trả lời:

    Câu 5 (trang 63 VBT Ngữ Văn 6 Tập 2): Tìm và phân tích các ẩn dụ trong đoạn trích sau

    Trả lời:

    nắng hạ, mặt trời, chói, vườn hoa lá, hương, tiếng chim

    khắc họa một cách trực quan, giàu hình ảnh cảm xúc của người thanh niên yêu nước khi được giác ngộ lý tưởng Cách mạng

    Câu 6 (trang 63 VBT Ngữ Văn 6 Tập 2): Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, chúng ta thường nói:

    – Nói ngọt lọt đến xương

    – Nói nặng quá

    Đó là ẩn dụ thuộc kiểu nào? Hãy tìm thêm một số ví dụ tương tự

    Trả lời:

    Đây là ẩn dụ thuộc kiểu:

    Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

    Ví dụ: Những giọt nắng rơi đầy bên hiên nhà.

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 6 (VBT Ngữ Văn 6) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Bài Những Câu Hát Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước, Con Người
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Những Câu Hát Than Thân
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Bài Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Kể Chuyện Tưởng Tượng
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ẩn Dụ Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài So Sánh (Tiếp Theo) Trang 41 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 18: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên
  • Giải Soạn Bài Vượt Thác Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Vượt Thác Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài Vượt Thác Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Hướng dẫn Soạn Bài 23 sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập hai. Nội dung bài Soạn bài Ẩn dụ sgk Ngữ văn 6 tập 2 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, tự sự, cảm thụ, phân tích, thuyết minh… đầy đủ các bài văn mẫu lớp 6 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn lớp 6.

    I – Ẩn dụ là gì

    Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    1. Trả lời câu hỏi 1 trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Có thể ví được như vậy bởi tình yêu thương của Bác Hồ dành cho các anh đội viên cũng như tình cảm người cha dành cho các con vậy.

    2. Trả lời câu hỏi 2 trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Cách nói này có gì giống và khác phép so sánh?

    Trả lời:

    Cách nói trên có điểm giống với phép so sánh nếu chúng ta liên tưởng và viết thành câu: Bác Hồ là người Cha.

    Khác phép so sánh là không xuất hiện trên văn bản vế A (vế được so sánh – Bác Hồ) mà chỉ có vế B (vế dùng đế so sánh – Người Cha). Nói cách khác, đây là phép so sánh ngầm.

    II – Các kiểu ẩn dụ

    Có 4 kiểu ẩn dụ thường gặp là:

    – Ẩn dụ hình thức;

    – Ẩn dụ cách thức;

    – Ẩn dụ phẩm chất;

    – Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

    1. Trả lời câu hỏi 1 trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Về thăm nhà Bác làng Sen,

    (Nguyễn Đức Mậu)

    – Từ “thắp” chỉ việc dùng lửa châm vào một vật có khả năng bốc cháy.

    – Từ “lửa hồng” là hiện tượng sự vật bị cháy.

    Có thể ví như vậy vì dựa trên cơ sở mối liên tưởng tương đồng giữa màu đỏ của hoa râm bụt và hình ảnh ngọn lửa. Hình ảnh hoa râm bụt đỏ khẽ đưa trong gió giống như ngọn lửa đang cháy.

    2. Trả lời câu hỏi 2 trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.

    (Nguyễn Tuân)

    Trả lời:

    Kết hợp hai hình ảnh: nắng (nhận biết qua thị giác) và giòn tan (cảm nhận qua thính giác, xúc giác, không nhìn được) tạo nên cụm từ nắng giòn tan mới lạ. Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác từ vị giác sang thị giác.

    3. Trả lời câu hỏi 3 trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Từ những ví dụ đã phân tích ở các phần I và II, hãy nêu lên một số kiểu tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng thường được sử dụng để tạo phép ẩn dụ.

    Trả lời:

    – Ẩn dụ dựa vào sự tương đồng về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng (ẩn dụ hình thức).

    – Ẩn dụ dựa vào sự tương đồng về cách thức thực hiện hành động (ẩn dụ cách thức).

    – Ẩn dụ dựa vào sự tương đồng về phẩm chất giữa các sự vật, hiện tượng (ẩn dụ phẩm chất).

    – Ẩn dụ dựa vào sự tương đồng về cảm giác (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác).

    Ví dụ: (nắng) giòn tan – (nắng) to, rực rỡ.

    III – Luyện tập

    1. Trả lời câu hỏi 1 trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    So sánh đặc điểm và tác dụng của ba cách diễn đạt sau đây:

    – Cách 1:

    Bác Hồ mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm

    – Cách 2:

    Bác Hồ như Người Cha Đốt lửa cho anh nằm

    Cách 3:

    Người Cha mái tóc bạc Đốt lửa cho anh nằm

    (Minh Huệ)

    Trả lời:

    – Cách 1: Miêu tả trực tiếp về Bác Hồ: Bác Hồ mái tóc bạc – Đốt lửa cho anh nằm.

    – Cách 2: Dùng phép so sánh, tác dụng định danh nhân vật: Bác Hồ như Người Cha – Đốt lửa cho anh nằm.

    – Cách 3: Dùng phép ẩn dụ, tác dụng hình tượng hóa nhân vật: Người Cha mái tóc bạc/ Đốt lửa cho anh nằm.

    Cách diễn đạt có dùng so sánh và ẩn dụ tạo cho câu nói có hình tượng, giàu cảm xúc hơn so với cách nói bình thường và ẩn dụ làm cho câu nói hàm súc cao hơn so sánh.

    2. Trả lời câu hỏi 2 trang 70 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    a) Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    (Tục ngữ)

    b) Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

    (Tục ngữ)

    c) Thuyền về có nhớ bến chăng?

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    (Ca dao)

    d) Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    (Viễn Phương)

    Trả lời:

    a) Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

    – Ăn quả có nét tương đồng với hưởng thụ thành quả

    – Trồng cây có nét tương đồng với phẩm chất người lao động

    ⟹ Câu tục ngữ khuyên chúng ta khi được hưởng thụ thành quả lao động phải nhớ đến công lao người lao động đã vất vả mới tạo được thành quả đó.

    b) Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

    – Mực tương đồng với môi trường xấu, không tốt.

    – Đèn mang nét tương đồng với môi trường tốt sáng rạng.

    ⟹ Ở môi trường tốt dễ thành người tốt, ngược lại môi trường xấu sẽ dễ làm kẻ xấu.

    c) Thuyền và bến là hai hình ảnh ẩn dụ.

    – Thuyền có nét tương đồng với sự phong lưu, đa tình của các chàng trai.

    – Còn bến thường tương đồng với hình ảnh thủy chung son sắt của người con gái.

    d) Mặt trời ở dòng thơ thứ hai ( Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ) ẩn dụ cho Bác Hồ. Bởi vì Bác giống như mặt trời tự nhiên, đem lại ánh sáng, nguồn sống cho cả một dân tộc.

    3. Trả lời câu hỏi 3 trang 70 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    a) Buổi sáng, mọi người đổ ra đường. Ai cũng muốn ngẩng lên cho thấy mùi hồi chín chảy qua mặt.

    (Tô Hoài)

    b) Cha lại dắt con đi trên cát mịn

    Ánh nắng chảy đầy vai.

    (Hoàng Trung Thông)

    c) Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.

    (Trần Đăng Khoa)

    d) Em thấy cả trời sao

    Xuyên qua từng kẽ lá Em thấy cơn mưa rào Ướt tiếng cười của bố.

    (Phan Thế Cải)

    Trả lời:

    a) Mùi hồi chín chảy qua mặt: Mùi (khứu giác) + chảy (thị giác).

    Tác dụng: giúp con người cảm nhận sự vật bằng nhiều giác quan.

    b) Ánh nắng chảy đầy vai: Ánh nắng được miêu tả như một thứ “chất lỏng” để có thể “chảy”

    Tác dụng: Cách diễn đạt khiến cho hình ảnh ánh nắng trở nên mềm mại, tự nhiên và gần gũi với con người.

    c) Tiếng rơi rất mỏng: Tiếng lá rơi (thính giác) → có hình khối cụ thể ( mỏng – xúc giác) và có dáng vẻ ( rơi nghiêng – thị giác)

    Tác dụng: khiến người đọc hình dung được tiếng rơi khẽ khàng của chiếc lá, một tiếng rơi được cảm nhận bằng tấm lòng của người yêu cái đẹp.

    d) Trời sao xuyên qua từng kẽ lá.

    Cơn mưa rào ướt tiếng cười của bố.

    Tác dụng: Gợi sự liên tưởng thú vị, mới lạ về tiếng cơn mưa rào. Sự hòa quyện, thâm nhập của cơn mưa vào tiếng cười.

    4. Câu 4 trang 70 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Chính tả (nghe – viết): Buổi học cuối cùng (từ Tuy nhiên, thầy vẫn đủ can đảm đến lớn lao đến thế).

    “Bài tập nào khó đã có giaibaisgk.com”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Phó Từ Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 6 Hai Tập
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Hoán Dụ Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Bài 16.1, 16.2, 16.3, 16.4, 16.5, 16.6, 16.7 Trang 45 Sbt Vật Lí 8
  • Bài 35.5, 35.6, 35.7 Trang 45 Sbt Hóa Học 9
  • Soạn Bài Hoán Dụ Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ẩn Dụ Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 23: Ẩn Dụ
  • ✅ Đêm Nay Bác Không Ngủ (Minh Huệ)
  • Giải Soạn Bài Câu Trần Thuật Đơn Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Câu Trần Thuật Đơn Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 Trang 58…
  • 1. Bài tập 1, trang 84, SGK.

    2. Bài tập 2, trang 84, SGK.

    3. Chỉ ra phép hoán dụ có trong những câu thơ sau và cho biết mối quan hệ giữa các sự vật trong mỗi phép hoán dụ là gì.

    – Sống trong cát, chết vùi trong cát

    Những trái tim như ngọc sáng ngời.

    (Tố Hữu)

    Mồ hôi mà đổ xuống đồng

    Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương Mồ hôi mà đổ xuống vườn Dâu xanh, lúa tốt vấn vương tơ tằm.

    4. Đọc các câu thơ sau và cho biết trong trường hợp nào cụm từ miền Nam được dùng như là một hoán dụ.

    Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát.

    (Viễn Phương)

    Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thuỷ

    Đang xông lên chống Mĩ tuyến đầu.

    (Lê Anh Xuân)

    5. Tìm ẩn dụ và hoán dụ trong các câu sau :

    a) Nhận của quá khứ những con đê vỡ, những nạn đói ta đã làm nên các mùa vàng năm tấn, bảy tấn.

    (Chế Lan Viên)

    b)

    Bóng hồng nhác thấy nẻo xa Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai.

    (Nguyễn Du)

    Gợi ý làm bài

    1. Ví dụ : ở câu 1 có từ làng xóm : chỉ người “nông dân”.

    (Hoán dụ này dựa trên quan hệ giữa vật chứa đựng với vật bị chứa đựng.)

    2. Để phân biệt hoán dụ với ẩn dụ, cần chú ý đến mối quan hệ giữa sự vật gốc và sự vật mới được gọi tên.

    3, 4. Tham khảo cách phân tích sau :

    5. Lưu ý, người phụ nữ thời xưa thường mặc váy (áo) màu đỏ (hồng).

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 3.a,3.b,3.c Phần Bài Tập Bổ Sung
  • Bài 1.a, 1.b, 1.c Phần Bài Tập Bổ Sung
  • Giải Bài C4, C5, C6, C7, C8 Trang 38, 39 Sgk Vật Lí 9
  • Bai 32: Dieu Kien Xuat Hien Dong Dien Cam Ung
  • Bai 26: Ung Dung Cua Nam Cham
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 24: Hoán Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Anh 9: Unit 6. Language Focus
  • Unit 6 Lớp 9 Language Focus
  • Unit 6 Lớp 8: Language Focus
  • Giải Sbt Hóa 8 Bài 6: Đơn Chất Và Hợp Chất
  • Giải Bài Tập Hóa 8 Bài 34: Bài Luyện Tập 6
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Hoán Dụ

    Giải bài tập Ngữ văn bài 24: Hoán Dụ

    Hoán Dụ I. Kiến thức cơ bản * Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. * Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp là: – Lấy một bộ phận để gọi toàn thể; – Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng; – Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật; – Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng. II. Tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Hoán dụ là gì?

    * Trong câu thơ:

    Áo nâu liền với áo xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

    2. Các kiểu hoán dụ a) Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

    (Hoàng Trung Thông)

    Bàn tay là bộ phận của cơ thể con người → để chỉ sức lao động, sức sáng tạo.

    Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

    + Một, ba là số lượng cụ thể

    + Mối quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng.

    Ngày Huế đổ máu Chú Hà Nội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè.

    (Tố Hữu)

    + Đổ máu là hình ảnh nói về sự tàn khốc, dữ dội của chiến tranh.

    + Lấy dấu hiệu của sự vật (đặc điểm, tính chất) để gọi sự vật.

    3. Một số kiểu quan hệ thường được sử dụng để tạo ra phép hoán dụ.

    + Lấy bộ phận để gọi toàn thể:

    Một tay gây dựng cơ đồ Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành. Rất đẹp hình ảnh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo.

    (Tố Hữu)

    + Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật:

    Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    (Tố Hữu)

    Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.

    (Nguyễn Du)

    III. Hướng dẫn luyện tập. Câu 1. Chỉ ra phép hoán dụ trong những câu thơ, câu văn sau, và cho biết quan hệ giữa các sự vật trong mỗi phép hoán dụ là gì? a) Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể.

    (Hồ Chí Minh)

    – Làng xóm ta dùng để chỉ cuộc sống của người nông dân, kiểu hoán dụ lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.

    – Đói rách dùng để chỉ cuộc sống cơ cực vất vả, Nhộn nhịp dùng để chỉ cuộc sống ấm no hạnh phúc.

    Vì lợi ích mười năm phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm phải trồng người.

    (Hồ Chí Minh)

    Lợi ích mười năm, trăm năm dùng theo nghĩa chỉ lượng, kiểu hoán dụ lấy cái cụ thể gọi cái trừu tượng.

    Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    (Tố Hữu)

    – Áo chàm dùng để chỉ đồng bào miền núi, kiểu hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật.

    Vì sao? Trái đất nặng ân tình Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh.

    (Tố Hữu)

    – Trái đất dùng để chỉ nhân loại, kiểu hoán dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Câu 2. Hoán dụ có gì giống và khác với ẩn dụ? Cho ví dụ minh hoạ.

    Cả hai biện pháp đều lấy tên gọi của sự vật hiện tượng này để gọi tên sự vật hiện tượng khác.

    + Khác nhau – Ấn dụ dựa mối quan hệ tương đồng.

    – Hoán dụ trên cơ sở mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng.

    Cầu cong như cái lược ngà Sông dài mái tóc cung nga buông hờ.

    Mái tóc có đặc điểm: Mềm mại, thướt tha, vì vậy có thể dùng làm ẩn dụ để nói về dòng sông.

    Bóng hồng nhác thấy nẻo xa Xuân Lan, thu cúc, mặn mà cả hai.

    (Nguyễn Du)

    Câu thơ nói về vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều. Ngày xưa những phụ nữ khuê các thường hay bận y phục màu hồng. Y phục màu hồng đã trở thành đặc trưng của phụ nữ, tác giả đã dùng bóng hồng để hoán dụ chỉ người con gái.

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 24: Lượm

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trả Lời Câu Hỏi Gdcd 6 Bài 12 Trang 31
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 11
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 11 Bài 6: Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Đất Nước
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 9
  • Giải Bài Tập Bài 6 Trang 22 Sgk Gdcd Lớp 9
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Hoán Dụ Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 6 Hai Tập
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Phó Từ Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Ẩn Dụ Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài So Sánh (Tiếp Theo) Trang 41 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 18: Bài Học Đường Đời Đầu Tiên
  • Hướng dẫn Soạn Bài 24 sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập hai. Nội dung bài Soạn bài Hoán dụ sgk Ngữ văn 6 tập 2 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, miêu tả, tự sự, cảm thụ, phân tích, thuyết minh… đầy đủ các bài văn mẫu lớp 6 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn lớp 6.

    I – Hoán dụ là gì?

    Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

    1. Trả lời câu hỏi 1 trang 82 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Các từ ngữ in đậm trong câu thơ chỉ ai?

    Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.

    (Tố Hữu)

    Trả lời:

    – Áo nâu: chỉ người nông dân.

    – Áo xanh: chỉ người công nhân.

    – Nông thôn: chỉ những người sống ở nông thôn.

    – Thị thành: chỉ những người sống ở thị thành.

    2. Trả lời câu hỏi 2 trang 82 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Giữa áo nâu, áo xanh, nông thôn, thị thành với sự vật được chỉ có mối quan hệ như thế nào?

    Trả lời:

    – Giữa áo nâu, áo xanh với sự vật được chỉ có mối quan hệ giữa đặc điểm, tính chất: người nông dân thường mặc áo nâu, còn người công nhân thường mặc áo xanh khi làm việc.

    – Giữa nông thôn, thị thành với sự vật được chỉ có mối quan hệ giữa vật chứa đựng (nông thôn, thị thành) với vật bị chứa đựng (những người sống ở nông thôn và thành thị).

    3. Trả lời câu hỏi 3 trang 82 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Nêu tác dụng của cách diễn đạt này.

    Trả lời:

    Cách dùng như trên ngắn gọn, tăng tính hình ảnh và hàm súc cho câu văn, nêu bật được đặc điểm của những người được nói đến.

    II – Các kiểu hoán dụ

    Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp là:

    – Lấy một bộ phận để gọi toàn thể.

    – Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.

    – Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật.

    – Lấy cái cụ thể để gọi cái từu tượng.

    1. Trả lời câu hỏi 1 trang 83 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    a) Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

    (Hoàng Trung Thông)

    b) Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

    (Ca dao)

    Chú Hà Nội về Tình cờ chú cháu Gặp nhau Hàng Bè.

    (Tố Hữu)

    Trả lời:

    a) Bàn tay: chỉ bộ phận con người dùng để lao động, cầm nắm, nó tượng trưng cho sức lao động, người lao động chân chính.

    b) Một, ba: Biểu thị số lượng cụ thể, xác định, ở đây chỉ sự hợp lại của các cá thể, tập thể tạo ra sức mạnh chung

    c) Đổ máu: là thương tích, mất mát, hi sinh, ở đây biểu thị chiến tranh bắt đầu xảy ra.

    2. Trả lời câu hỏi 2 trang 83 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Giữa bàn tay với sự vật mà nó biểu thị trong ví dụ a, mộtba với số lượng mà nó biểu thị trong ví dụ b, đổ máu với hiện tượng mà nó biểu thị trong ví dụ c có quan hệ như thế nào?

    Trả lời:

    – Câu a) biểu thị mối quan hệ giữa bộ phận với cái toàn thể.

    – Câu b) biểu thị mối quan hệ giữa cái cụ thể với cái trừu tượng.

    – Câu c) biểu thị quan hệ dấu hiệu của sự vật với sự vật.

    3. Trả lời câu hỏi 3 trang 83 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Từ những ví dụ đã phân tích ở phần I và phần II, hãy liệt kê một số kiểu quan hệ thường được sử dụng để tạo ra phép hoán dụ.

    Trả lời:

    Một số kiểu quan hệ thường được sử dụng để tạo phép hoán dụ:

    – Lấy bộ phận để gọi toàn thể.

    – Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.

    – Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật.

    – Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    III – Luyện tập

    1. Trả lời câu hỏi 1 trang 84 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Chỉ ra phép hoán dụ trong những câu thơ, câu văn sau và cho biết mối quan hệ giữa các sự vật trong mỗi phép hoán dụ là gì.

    a) Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể.

    (Hồ Chí Minh)

    b) Vì lợi ích mười năm phải trồng cây,

    Vì lợi ích trăm năm phải trồng ngườ i.

    (Hồ Chí Minh)

    c) Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    (Tố Hữu)

    d) Vì sao? Trái đất nặng ân tình

    Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh

    (Tố Hữu)

    Trả lời:

    a) Làng xóm ta (chỉ người nông dân): quan hệ giữa cái chứa đựng và cái bị chứa đựng;

    (chỉ thời gian trước mắt), trăm năm (chỉ thời gian lâu dài): quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng;

    c) Áo chàm (chỉ người Việt Bắc): quan hệ giữa dấu hiệu của sự vật và sự vật;

    d) Trái Đất (chỉ những người sống trên trái đất – nhân loại nói chung): quan hệ giữa cái chứa đựng và cái bị chứa đựng.

    2. Trả lời câu hỏi 2 trang 84 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Hoán dụ có gì giống và khác với ẩn dụ? Cho ví dụ minh hoạ.

    Trả lời:

    – Giống: đều là những biện pháp tu từ xây dựng trên cơ sở các mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng. Gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác.

    – Khác:

    + Ẩn dụ: Mối quan hệ giữa các sự vật tương đồng với nhau (so sánh ngầm). Tương đồng về: hình thức, cách thức thực hiện, phẩm chất, cảm giác.

    + Hoán dụ: Mối quan hệ giữa các sự vật có mối quan hệ tượng cận, gần gũi với nhau (bộ phận – toàn thể, vật chứa đựng – vật bị chứa đựng,dấu hiệu của sự vật – sự vật, cụ thể – trừu tượng).

    3. Câu 3 trang 84 sgk Ngữ văn 6 tập 2

    Chính tả (nhớ – viết): Đêm nay Bác không ngủ (từ Lần thứ ba thức dậy đến Anh thức luôn cùng Bác).

    “Bài tập nào khó đã có giaibaisgk.com”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 16.1, 16.2, 16.3, 16.4, 16.5, 16.6, 16.7 Trang 45 Sbt Vật Lí 8
  • Bài 35.5, 35.6, 35.7 Trang 45 Sbt Hóa Học 9
  • Giải Bài Tập Sbt Hóa 12 Bài 28: Luyện Tập Tính Chất Của Kim Loại Kiềm, Kim Loại Kiềm Thổ Và Hợp Chất Của Chúng
  • Giải Bài Tập Sbt Hóa Học Lớp 11 Đầy Đủ Và Hay Nhất
  • Giải Bài 2.10 Trang 15 Sách Bài Tập (Sbt) Hóa Học 10 Nâng Cao
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 2: Từ Mượn

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Lượm (Tố Hữu)
  • Soạn Bài Thực Hành Về Thành Ngữ, Điển Cố
  • Giải Bài Tập Tiếng Nhật Lớp 8
  • Giải Bài Tập Sgk Công Nghệ Lớp 6 Bài 7: Thực Hành Cắt Khâu Vỏ Gối Hình Chữ Nhật
  • Giải Bài Tập Tiếng Nhật
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2 SGK

    Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Từ mượn được VnDoc sưu tầm và đăng tải. Đây là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

    Từ mượn I. Kiến thức cơ bản

    * Từ mượn là những từ chúng ta vay mượn của tiếng nước ngoài để biểu thị những sự vật, hiện tượng, đặc điểm mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị.

    * Bộ phận từ mượn quan trọng nhất của tiếng Việt là từ mượn tiếng Hán (gồm từ gốc Hán và từ Hán Việt). Bên cạnh đó tiếng Việt cần mượn từ của một số ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga.

    * Các từ mượn đã được Việt hoá thì viết như từ thuần Việt. Đối với những từ mượn chưa được Việt hoá hoàn toàn, nhất là những từ gồm trên hai tiếng, ta nên dùng gạch nối để nối các tiếng với nhau.

    * Mượn từ là một cách làm giàu tiếng Việt. Tuy vậy, để bảo vệ sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, không nên mượn từ nước ngoài một cách tuỳ tiện.

    II. Hướng dẫn tìm hiểu câu hỏi phần bài học 1. Từ thuần Việt và từ mượn Câu 1+2: Giải thích từ trượng và tráng sĩ trong câu:

    Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn mười trượng.

    ( Thánh Gióng)

    + Trượng: Đơn vị đo bằng 10 thước Trung Quốc cổ (tức là 3,33 mét).

    + Tráng sĩ: Là người có sức lực cường tráng, chí khí mạnh mẽ hay làm việc lớn được mọi người tôn trọng. (Tráng: Khoẻ mạnh, to lớn; Sĩ: Người trí thức ngày xưa).

    + Hai từ này có nguồn gốc từ tiếng Hán.

    Câu 3: Xác định từ vay mượn từ tiếng Hán và ngôn ngữ khác.

    + Từ vay mượn từ tiếng Hán: Sứ giả, buôn, mít tinh, giang sơn, gan, điện

    + Từ vay mượn từ ngôn ngữ khác (Anh, Nga, Pháp): Ti-vi, xà phòng, ra-đi-ô, in-tơ-nét, ga, Xô viết

    Câu 4: Nhận xét về cách viết các từ vay mượn trên.

    + Từ vay mượn tiếng Hán khi viết không dùng gạch nối để nối.

    + Từ vay mượn ngôn ngữ khác có hai cách viết:

    – Dùng dấu gạch nối đối với những từ chưa được Việt hoá.

    – Từ đã được Việt hoá không dùng dấu gạch nối.

    2. Nguyên tắc mượn từ Ý kiến của Bác nêu ra hai vấn đề:

    + Mượn từ là để làm giàu tiếng Việt.

    + Không nên mượn tiếng nước ngoài một cách tuỳ tiện.

    b) Ngày cưới, trong nhà Sọ Dừa cỗ bàn thật linh đình, gia nhân chạy ra, chạy vào tấp nập.

    c) Ông vua nhạc pốp Mai-cơn Giắc-xơn đã quyết định nhảy vào lãnh địa in-tơ-nét với việc mở một trang chủ riêng.

    + Các từ mượn của các câu trên được mượn từ ngôn ngữ tiếng Hán và ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga:

    * Từ mượn của ngôn ngữ Hán: Sính lễ, cỗ bàn, gia nhân.

    * Từ mượn của ngôn ngữ khác: pốp, Mai-cơn Giắc-xơn, in-tơ-nét, trang chủ, lãnh địa.

    b) Từ mượn là tên một số bộ phận của xe đạp: Ốc vít, bu loong, gác-ba-ga, phanh, nan hoa, ghi đông

    e) Từ mượn là tên một số đồ vật: Ra-đi-ô, ti vi, cát-sét, sơ mi, pi-a-nô, mì chính v.v…

    b) Ngọc Linh là một fan / người say mê bóng đá cuồng nhiệt

    c) Anh đã hạ nốc ao /đo ván võ sĩ nước chủ nhà

    + Từ vay mượn trong các ví dụ trên là: Gọi điện, fan, say mê.

    + Các từ: Gọi điện, người say mê, nốc ao dùng trong trường hợp giao tiếp có tính chất nghiêm túc, trước đám đông, hay người lớn tuổi.

    + Các từ: Phôn, fan, đo ván dùng trong những trường hợp bạn bè nói với nhau.

    Mời các bạn tham khảo tiếp giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2 Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 2: Thánh Gióng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Bài 17 Trang 45 Sgk Gdcd Lớp 6
  • Giải Bài Tập Bài 13 Trang 34 Sgk Gdcd Lớp 6
  • Bài Giải Sách Bài Tập Toán 6 Trang 6 Tập 1 Câu 8, 9 & 1.1
  • Bài 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 Trang 10 Sbt Toán 6 Tập 1
  • Giải Sách Bài Tập Toán 6 Trang 7 Câu 9, 10, 11, 12 Tập 2
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 9: Viết Bản Tập Làm Văn Số 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 9: Thứ Tự Kể Trong Văn Bản Tự Sự
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 5: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bài 5 Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9 SGK

    Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2

    . Đây là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

    Viết bản tập làm văn số 2

    Đề 1: Kể một việc tốt mà em đã làm.

    Đề 2: Kể về một lần em mắc lỗi.

    Đề 3: Kể về một thầy giáo hay một cô giáo mà em quý mến.

    Đề 4: Kể về một kỉ niệm hồi thơ ấu làm em nhớ mãi.

    Đề 5: Kể về một tấm gương tốt trong học tập hay trong việc giúp đỡ bạn bè mà em biết.

    Đề 1: Hãy kể lại một việc làm khiến bố mẹ em vui lòng.

    Bài làm

    Từng ngày, từng ngày trôi qua, mỗi ngày đều đem đến những điều kì thú. Trong những ngày ấy, có biết bao điều vui buồn, hờn giận. Nhưng có lẽ nếu nói đến điều đặc biệt nhất của một ngày đối với tôi thì đó là niềm vui. Và trong cuộc sống đầy sắc màu này, niềm vui của bố mẹ tôi là tất cả, tất cả đều ý nghĩa đối với tôi. Thế nên, tôi xin kể lại một việc làm khiến bố mẹ tôi vui lòng trong tuần vừa rồi.

    Ngày hôm ấy, như mọi lần, tôi lại tung tăng chân sáo tới trường. Từng cơn gió nhè nhẹ, mang không khí se lạnh của mùa đông, tạo nên những âm thanh huyền diệu; tiếng lá cây xào xạc, tiếng áo người đi xe bay phần phật. Nghe sao giống tiếng hát mượt mà của chị gió đang dẫn đường cho bác mùa đông già nua, khó tính. Trong cảnh sắc mờ hơi sương, không khí trong lành đến lạ thường, tôi đang nghĩ về những tấm gương tốt mà tôi đã được đọc trên báo thì bỗng có tiếng khóc nhỏ thút thít ở đâu đó lọt vào “giác quan thứ 6” của tôi. Nhìn quanh quẩn, cuối cùng tôi cũng nhìn thấy một em bé khoảng 4 tuổi đang đứng khóc một mình. Tôi nghĩ ngay rằng: “Chắc em bé này bị lạc”. Tôi lại gần em hỏi:

    – Em bị lạc mẹ à?

    Em khóc nấc lên nghẹn lời:

    – Chị ơi… Em muốn. Em muốn mẹ em. Hu… hu… mẹ ơi! Mẹ ơi!

    Tôi nhẹ nhàng vuốt tóc em bé:

    Em bé không nói chỉ gật đầu, tay gạt nước mắt. Tôi mỉm cười thân thiện rồi rút khăn tay ra, lau nước mắt cho em nhỏ.

    Em bé mỉm cười hồn nhiên:

    – Vâng ạ!

    Bổng tôi khựng lại: “Chết rồi, chỉ còn 10 phút nữa là vào lớp rồi. Làm sao đây?”. Tôi đắn đo, nếu dắt em bé đi tìm mẹ thì sẽ bị muộn học nhưng chẳng lẽ lại bỏ em ở đây. Suy nghĩ một lát tôi quyết định đưa em đến đồn công an để các chú ấy tìm mẹ cho em. Thế là, tôi dẫn em bé đến đồn công an.

    Chú công an mỉm cười:

    – Có chuyện gì vậy cháu bé?

    – Dạ thưa chú – Tôi đáp – Cháu đi học thì gặp em bé này bị lạc mẹ ạ!

    Chú công an ngạc nhiên:

    – Vậy, cháu gặp em bé này ở đâu?

    – Dạ, cháu gặp em ở đường cái ạ!

    – Ủa, vậy chắc người phụ nữ vừa đến hỏi con mình là mẹ của đứa bé này rồi. Vì lời báo của chị ta trùng với của cháu mà. Thôi được rồi, cháu để em bé lại đây. Chú sẽ thông báo để ta đón con về.

    – Dạ vâng, thôi cháu chào chú ạ! Nói rồi tôi chạy vội ra ngoài thật nhanh để còn kịp giờ học.

    Trên đường về nhà, tôi luôn mừng thầm vì mình đã làm được một việc tốt. Vừa đến cổng, tôi chạy nhanh vào lòng mẹ, tôi thì thào kể lại chuyện sáng nay. Mẹ tôi mừng rỡ hôn vào trán tôi:

    – Ôi, con mẹ giỏi quá!

    Từ ngoài cửa, bố tôi bước vào xoa đầu tôi:

    – Tốt lắm con gái. Bố tự hào về con. Con đã làm được một việc rất tốt, đáng khen ngợi. Hôm đó, nhà tôi tràn ngập tiếng cười vui. Nhìn bố mẹ cười nói vui vẻ, tôi rất vui bằng một việc làm tuy bé nhỏ nhưng đã đem lại nụ cười hạnh phúc cho bố mẹ.

    Trần Phương Ly

    (Theo Giang Khắc Bình, Nguyễn Thế Hà. 162 bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Hôm đó, tôi dậy sớm để đánh răng rửa mặt chuẩn bị đi học. Hàng sáng, mẹ tôi thường để chảo cơm trên bếp, sao hôm nay lại chẳng thấy đâu. Tôi lên hỏi mẹ: “Mẹ ơi sao mẹ vẫn chưa rang cơm cho bọn con ăn hả mẹ?”. Mẹ nhẹ nhàng nói: “Hôm nay nhà mình hết tiền mua gạo, phải đợi tiền lương của bố và chị con, hay con chịu khó bỏ ăn sáng một buổi có làm sao đâu?”. Tôi bực mình dậm chân dậm tay tỏ vẻ không bằng lòng. Tôi thoáng nhìn thấy nét mặt mẹ rất buồn. Mẹ bảo: “Thôi đi học đi con, mẹ phải đi làm việc của mẹ”. Tôi tức quá phát khóc lên, bỏ cả cặp sách lên giường ngủ tiếp. Tôi không nhớ là hôm nay có bài để chuẩn bị cho tiết kiểm tra ngày mai, thú thực lúc đấy tôi rất bực nên chỉ vì chuyện nhỏ mà quên hết mọi thứ. Tôi chỉ khóc và lẳng lặng lấy chăn ra đắp. Lúc mẹ tôi đánh răng rửa mặt xong mẹ lên nhà khoá cửa để đi làm, mẹ có biết đâu là tôi ở trong nhà. Thế là tôi nằm trong chăn ấm áp, chiếc chăn ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Đến khi thức dậy thì đã quá muộn. Tôi giật mình, bổ chổng bổ choảng vùng dậy thì chao ôi, cửa nhà đã khoá. Tôi ngồi trong nhà kêu ầm ĩ lên nhưng vô hiệu, mọi người đều đi làm hết. Nhà tôi là nhà tập thể, xung quanh lúc đó chỉ có mấy đứa trẻ con. Tôi gọi chúng và bảo: “Các em giúp chị mở cửa ra với”. Một đứa nhanh nhảu nói: “Thế chìa khoá nhà chị để đâu thì chúng em mới mở được chứ!”.

    Tôi đứng ngẩn người ra, quay lại nhìn đồng hồ thì thấy đã mười giờ rưỡi. Bụng tôi lúc này như có móng tay sắc nào cào vào. Mắt tôi hoa lên vì đói. Tôi lục hết mọi thứ trong nhà xem có cái gì ăn không, nhưng vô hiệu, chả có gì cả. Tôi nhìn ra ô cửa sổ thì thấy bạn Lan nhà bên bảo: “Nguyệt ơi sao hôm nay bạn không đi học? Thầy giáo phê bình bạn đấy”. Tôi liền nói: “Lan ơi, hôm nay có bài nào không cho tớ mượn để tớ chép?”. Lan rút trong cặp ra đưa cho tôi bài chuẩn bị cho tiết kiểm tra. Tôi học vẹt được vài bài nhưng không chịu nổi cơn đói. Vừa hay lúc đó mẹ tôi về bảo: “Ôi, sao hôm nay con không đi học?”. Tôi bảo: “Mẹ nhốt con trong nhà thì làm sao con đi được”. Mẹ bảo: “Mẹ không biết, cho mẹ xin lỗi”. Rồi mẹ rút trong túi ra gói mì. Tôi không kịp bỏ vào bát mà vơ lấy vơ để ăn sống. Mẹ tôi ngồi nhìn tôi ăn, chảy cả nước mắt. Tôi nhìn mẹ tôi cũng cảm thấy mẹ không có lỗi trong chuyện này mà chính là mình đã làm cho mẹ lo. Sáng hôm sau đi học, tôi cố gắng làm bài kiểm tra một tiết, may sao được 5 điểm. Tôi ngượng quá, đấy là mình còn lớp phó học tập mà điểm kém như thế. Tôi rất ân hận vì đã làm đau lòng mẹ, và phí công thầy cô đã bỏ sức ra để dạy tôi, tôi rất ân hận và tôi hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa.

    Nguyễn Thị Như Nguyệt

    (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học Sinh lớp 6)

    Đề 3: Hãy kể về một thầy (cô) giáo mà em quý mến. Bài làm

    Có những lúc tôi chợt nhớ đến quá khứ. Trong đôi mắt thơ dại của tôi, cuộc đời là một khúc hát du dương trầm bổng cứ trôi đi mãi, chỉ để lại trong tôi những kỉ niệm buồn vui. Và tôi nhớ tới các thầy, các cô giáo đã từng dạy dỗ, dìu dắt tôi. Trong số đó có một cô giáo rất dịu dàng và cũng là người mẹ thứ hai của tôi, đó là cô Huế, dạy tôi hồi lớp bốn.

    Cứ mỗi sớm mai tới trường, tôi đã thấy cô đứng đó với chiếc áo dài màu xanh tự lúc nào. Cô luôn đến sớm để đón chúng tôi với nụ cười trên môi. Cô hai mươi tám tuổi nhưng trông cô còn rất trẻ. Mái tóc dài óng ả được cô khéo léo cặp ra đằng sau, để lộ khuôn mặt trái xoan duyên dáng và phúc hậu. Đôi mắt to, trong sáng, luôn mở to dưới cặp lông mày lá liễu, nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến và độ lượng. Chiếc mũi tuy không cao nhưng rất phù hợp với khuôn mặt của cô. Đôi môi đỏ thắm, mỏng như cánh hoa hồng, luôn nở nụ cười duyên dáng với hàm răng trắng bóng. Cô có dáng người thanh mảnh và những bước đi nhanh nhẹn. Tính cô thẳng thắn, nghiêm nghị nhưng cũng rất vui vẻ. Cô luôn tận tâm, tận lực, luôn dìu dắt, chỉ mong sao mai sau chúng tôi sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Trong giờ học, những bạn nào không chú ý lắng nghe, ưa nhìn ra ngoài hay gục mặt xuống bàn là cô nhắc nhở ngay, có khi còn bắt đứng lên nhắc lại lời cô giảng hay ý kiến phát biểu xây dựng bài của bạn. Những lúc rảnh rỗi, cô thường kể chuyện cho chúng tôi nghe. Cả lớp cười vang khi nghe cô kể những mẩu chuyện vui, lý thú. Cô không chỉ chăm sóc chúng tôi mà còn quan tâm tìm hiểu các bạn gặp hoàn cảnh khó khăn, luôn tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần. Cô luôn giúp đỡ các đồng nghiệp và các thầy cô khác cũng sẵn sàng giúp đỡ cô. Mỗi lần đi họp về, bố mẹ em lại hết lời khen ngợi về thái độ và năng lực giảng dạy của cô. Bố mẹ rất yên tâm khi tôi được cô dìu dắt để tìm con đường học tập tốt nhất. Nghe cô đọc thơ thật là thích: Lúc thì cao vút như tiếng chim hoạ mi buổi sớm mai, lúc thì đầm ấm, thiết tha. Nghe thơ tôi có cảm giác y như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: “Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”. Hàng ngày, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến. Nhưng một lần cô gọi tôi lên bảng kiểm tra, hôm đó tôi quá mải chơi nên chưa làm bài tập. Cô phạt tôi điểm không. Tôi xấu hổ trở về bàn và ngồi phịch xuống. Ngước lên nhìn cô, tôi thấy nét mặt cô rất buồn, nhìn tôi với vẻ trách móc. Ngay chiều hôm đó, cô đến nhà tôi nhắc nhở, hỏi han và tranh thủ giảng cho tôi những bài tôi chưa giải được. Nhờ có sự kèm cặp liên tục của cô nên tôi tiến bộ rõ rệt về môn toán. Tôi nhớ lại những ngày tập viết với cô. Chữ tôi xấu cộng thêm tính cẩu thả nên thường bị điểm kém. Trong những giờ học sau cô quan tâm tới nhiều hơn. Cô dạy tôi nắn nót từng chữ từng nét. Tuy bàn tay cô đã nhiều chỗ bị chan sạn nhưng tôi vẫn thấy ấm áp và chan chứa tình thương. Bàn tay ấy đã chịu khó kiên nhẫn trao cho chúng tôi những kiến thức để làm hành trang bước vào đời.

    Vắng đâu đây lời của một nhạc phẩm: “Mẹ của em ở trường là cô giáo mến thương…”. Vâng! Đúng vậy. Làm sao tôi quên được người mẹ đã mở cánh cửa tâm hồn mình đón ánh hào quang của cuộc đời: Cô Thanh Huế.

    Đào Tú Uyên

    (Theo La Kim Liên, Cái Văn Thái… 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Đề 4: Kể lại một lần em mắc lỗi. Bài làm

    Ngồi trong căn nhà ấm cúng và nhìn những cơn mưa rơi ngoài cửa sổ, tôi bồi hồi xúc động nhớ lại một kỉ niệm buồn của tuổi ấu thơ mà có lẽ suốt cuộc đời này tôi sẽ chẳng bao giờ quên.

    Đó là một hôm trời oi bức, Lan đứng trước cổng chờ tôi cùng đi học. Lan gọi rối rít: “Trang ơi! Nhanh lên muộn học rồi”. Tôi cuống quýt mặc quần áo và vội vàng chạy ra cửa. Nội gọi tôi lại và bảo:

    – Cháu đem quần áo mưa đi, hôm nay trời oi dễ mưa lắm đấy! Tôi đang vội nên vừa nghe thấy nội nói, tôi gắt lên:

    – Nội đem cất quần áo mưa đi! Trời như thế này làm sao mà mưa được? Cháu mang nhiều sách lại cầm thêm áo mưa thì nặng lắm. Nói xong, tôi nắm tay Lan cùng chạy đến trường. May sao cho chúng tôi, khi chúng tôi vừa vào lớp thì bác bảo vệ đánh trống truy bài. Bốn tiết học trôi qua nhanh chóng. Nhưng đến tiết thứ năm, tôi nhìn ra bầu trời: Mây đen ùn ùn kéo đến, mỗi lúc một nhiều, gió bắt đầu thổi, sấm chớp liên hồi, báo hiệu một cơn mưa to sắp đến. Tôi hoảng sợ vì mình không mang áo mưa nên sẽ không về được, đến bây giờ tôi mới hiểu những lời nội nói ban chiều. Tôi thật sự ăn năn khi nghĩ về những lời gắt của tôi với nội. Hết tiết năm, tất cả các bạn học sinh đã về hết, bạn thì mang áo mưa, bạn thì có người đến đón. Thế là trong trường, chỉ còn lại mình tôi đứng lủi thủi dưới mái hiên. Bỗng tôi nhìn ra cổng trường thì thấy bóng ai trông quen quá, và tôi reo lên “Nội! Nội ơi! Cháu ở đây mà!”. Nội trông thấy tôi liền tất tưởi đi vào mặc quần áo mưa cho tôi. Vì nội chỉ mang một bộ áo mưa nên nội nhường cho tôi mặc còn nội thì chỉ đội mỗi chiếc nón cũ. Khi đi đường, lúc nào tôi cũng muốn xin lỗi nội nhưng không hiểu sao, môi tôi cứ mím chặt không nói lên lời. Về đến nhà quần áo nội ướt sũng, sau đó nội bị cảm rất nặng. Một tuần sau, nội mất. Bác sĩ bảo với bố mẹ tôi rằng nội đã già, sức khoẻ yếu mà lại bị cảm nặng nên khó lòng qua khỏi. Tôi khóc nhiều lắm, tôi chỉ buồn khi nội ra đi quá sớm, tôi không có đủ thời gian để xin lỗi nội về những hành động thiếu ý thức của mình. Vì không nghe lời nội nên tôi đã gây ra tai hoạ. Tôi thấy xấu hổ, vừa xót thương cho nội, vừa hối hận vô cùng.

    Nếu tôi có điều ước nào thì tôi chỉ muốn ước nội sống lại để tôi nói với nội: “Con xin lỗi nội”, sau đó tôi sẽ được nội âu yếm, vuốt ve và kể cho nghe những câu chuyện cổ tích như thuở nào.

    Vũ Thị Thu Trang

    (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Đề 5: Kể về kỉ niệm thời thơ ấu làm em nhớ mãi Sông La quê ngoại

    Kì nghỉ hè năm học vừa qua, em được mẹ đưa về thăm quê của bà ngoại em ở Hà Tĩnh đó là lần đầu tiên em được về quê ngoại. Con đường thật dài, phải gần 1000 cây số mất một ngày một đêm ở trên tàu mới tới nơi.

    Đặt chân xuống quê ngoại em ngỡ ngàng, thanh bình và yên tĩnh quá, mở ra trước mắt em là cánh đồng lúa xanh mơn mởn, bao la típ tắp. Em nhắm mắt hít một hơi thật sâu hương lúa thơm dịu nhẹ, không khí trong lành mát mẻ. Từ ga tàu về nhà non một cây số, cả nhà em quyết định đi bộ để ngắm cảnh quê hương. Những ngôi nhà ở đây không cao như ở thành phố, nằm lẩn khuất dưới những bóng cây. Thỉnh thoảng một vài chú chó con thấy người lạ đi qua ngóc mõm lên: Gâu! Gâu! vài tiếng. Mấy bà cụ già thấy mẹ con em đi qua cất tiếng hỏi: “Mẹ con nhà Thu về ngoại chơi đấy à? Gớm lâu quá rồi, mới thấy mẹ con mày!”

    Em thầm nghĩ mọi người ở đây thật cởi mở, nồng hậu đáng yêu đến thế.

    Đi thêm một lúc trước mặt em là một dòng sông hiền hoà êm ả chưa hề thấy ở bất kì con sông nào của Sài Gòn. Thấy em đứng tần ngần, mẹ giải thích, những dòng sông ở miền Trung thường không đục, và đỏ như những con sông ở hai miền Nam và miền Bắc, vì dải đất miền Trung hẹp, sông ngắn ít phù sa, vì vậy những cánh đồng hai bên bờ sông thường ít màu mỡ. Người dân miền Trung vì thế mà cũng nghèo hơn các vùng khác. Nhưng bù lại những dòng sông ở miền Trung rất đẹp bởi màu nước trong xanh quyến rũ đến nao lòng người. Mẹ đọc cho em nghe câu thơ của một nhà thơ quê xứ Nghệ:

    Dẫu bao năm tháng không về lại Vẫn còn thăm thẳm nước sông La.

    Em ngắm nhìn những con đò nhỏ xuôi trên dòng sông, từ từ chậm rãi, mặt sông gợn sóng lăn tăn, phía bãi xa có một đám trẻ đang đùa giỡn, té nước trắng xoá lên nhau, cười nói ầm ĩ. Cả nhà tiếp tục cuộc hành trình. Dòng sông đã lùi lại phía sau lưng, em bỗng nghe câu hát của người chèo đò từ mặt sông cất lên:

    Ai có biết nước sông La răng là trong là đục Thì mới biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh.

    Vâng đúng thế! Em sẽ cố gắng sống thật xứng đáng, ơi dòng sông quê ngoại thân thương. Em sẽ còn trở lại nhiều lần nữa.

    Đề 6: Kể một tấm gương học tốt hay giúp đỡ bạn bè mà em biết. Bài làm

    Đến bây giờ, dù hai đứa học hai trường khác nhau nhưng tôi vẫn đến nhà và chơi với Sinh. Tôi rất cảm phục Sinh vì những việc mà Sinh đã làm cho Mai – người hàng xóm và cũng là bạn học của tôi và Sinh hồi tiểu học.

    Qua năm lớp 6, Mai đã hoàn tất bình phục. Bây giờ, tuy không học cùng Mai, Sinh nữa, nhưng tôi sẽ nhớ mãi kỉ niệm đẹp của ba đứa chúng tôi.

    Cao Bích Xuân

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 61 Bài 6
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Đáp Án Ngữ Văn Lớp 6 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bài Toán Có Lời Giải
  • Giải Toán Lớp 6 Bài 5: Phép Cộng Và Phép Nhân
  • Các Dạng Toán Về Phép Cộng Và Phép Nhân
  • Tóm Tắt Kiến Thức Toán Lớp 6 Bài 5: Phép Cộng Vàphép Nhân
  • Đáp Án Sách Mai Lan Hương Lớp 8
  • Quy Che Giao Dục Chinh Tri Nam 2022, Truyện Tranh 419, Bí Quyết Phỏng Vấn, Biên Bản Rà Soát Chiến Lươc Phát Triển Của Nhà Trường, Bộ Luật Hình Sự, Truyện Ngôn Tình 5s, Shapr R678, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình Năm 2000, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Uong 8 Khóa 12, Thủ Tục Mua Xe Máy Cũ Khác Tỉnh, Mẫu Đơn Xác Nhận Giảm Trừ Gia Cảnh, Bộ Luật Hình Sự Năm 2009, Hướng Dẫn Viết Ielts Task 1, Tuyển Tập Truyện Xuyên Không Hoàn, Sách Chữa Bệnh Thật Là Đơn Giản, Từ Điển Danh Nhân Văn Hóa Việt Nam, Thông Tư Hướng Dẫn Phòng Cháy Chữa Cháy, Mẫu Đơn Xin Đóng Tài Khoản Ngân Hàng Agribank, Nghị Định 35 2003 Hướng Dẫn Thi Hành Luật Pccc, Astm E3061 – 17, C518, Thông Báo Tuyển Dụng Tập Đoàn, Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và ứng Phó Của Việt Nam Pdf, Hãy Chứng Minh Hành Vi Tham Nhũng Là Hành Vi Vô Đạo Đức, Nạn Phân Biệt Chủng Tộc, Đề Thi Trắc Nghiệm Lớp Đảng Viên Mới, Hướng Dẫn Thi Hành Một Số Điều Của Luật Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp, Giai Anh Lop 7 Unit 7, Phie, Đơn Đang Ký Xét Tuyển Học Bạ Hệ Cao Đẳng, Đề Tài Mẹ Của Em, Mẫu Bìa Luận Văn Học Viện Ngân Hàng, Bài Tham Luận Sinh Hoạt Chuyên Đề, Báo Cáo Sơ Kết Giữa Nhiệm Kỳ 2022 – 2022, Mb08.qt-gdtc/03, American English File 2 Workbook 2nd Edition, Bộ Luật Kinh Tế Được Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Thông Qua Năm Nào, Mẫu Giấy Chuyển Viện, Mẫu Số 8 Thông Tư 156, Download Luật Phòng Chống Khủng Bố, Báo Cáo Tài Chính Công Ty Mẹ Và Công Ty Con Kido 2022, Mẫu Danh Sách Đề Nghị Nâng Bậc Lương, Nghị Định Số 197 Về Bồi Thường, Thông Tư Số 83/2007/tt-btc, Tiêu Chí Đánh Giá Chất Lượng Dịch Vụ ăn Uống, Bản Nhận Xét Về Người Chấp Hành án Treo, Mẫu Báo Cáo Thực Tập Xây Dựng Dân Dụng, 7e Page 62, Danh Sách Học Sinh Thi Ioe Cấp Tỉnh 2022, Tieu Luan Ve Ruou,

    Tư Vấn Cho Học Sinh, Đặt Vòng Tránh Thai, Hiệu Chỉnh Liều Kháng Sinh ở Bệnh Nhân Suy Gan, Thận, Thủ Tục Xin Visa Đi ý, Sổ Tay Agenda, Sổ Báo Bài, Bài Tập ôn Thi Toán Lớp 7, 788 Ct-/qutw 26/12/2013, Bài Thu Hoạch Liên Hệ Bản Thân Tự Diễn Biến Tự Chuyển Hóa, Báo Cáo Tài Chính Unilever Việt Nam 2022, Tam Ngươn Đại Lược Pdf, Luận án Xu Hướng Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới, Mẫu Xác Nhận Lý Lịch, Tăng Cường Sinh Lý Nam Quan Ly Cac Moi Quan He Xa Hoi Cua Quan Nhan O Don Vi Co So Trong Tinh Hinh M, Luật Sư, Mẫu Đơn Xin Việc Viết Tay Làm Thu Ngân, Biểu Mẫu 23b/btp/ĐkqggdbĐ, Quyết Định Số 1955 /qĐ-bgdĐt Ngày 30 Tháng 5 Năm 2014 Của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Và Quyết , Quyết Định Số 4/2008/qĐ-btbxd, Báo Cáo Thực Tập ở Trạm Y Tế Xã, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Giai Đoạn 1920 Đến 1930, Trắc Nghiệm Kttc 2, Cách Viết Chữ Đẹp, Trích Đoạn Ca Cổ, Nghiêp Và Sử Lý Tình Huống Về Công Tác Xây Dựng Đảng, Thuyết Trình Và Hùng Biện Cứu Khoa Học, ôn Tập Chương 2 Hình Học 9, Khuynh Hướng Thơ Tượng Trưng Việt Nam Hiện Đại, Hãy Giải Thích Đặc Tính Dẫn Điện Của Chất Quang Dẫn, Bản Đăng Ký Thực Hiện Chỉ Thị 03 Năm 2022, Tạp Tiếu Chư Khoa Song Ngữ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Học Kì 1 Lớp 6 Môn Văn Có Đáp Án Năm Học 2014
  • Tham Khảo Đề Thi Học Kì 1 Lớp 6 Môn Văn Có Đáp Án Tuyển Chọn Hay Nhất 2022
  • Đáp Án Lưu Hoằng Trí Unit 1 Lớp 6
  • Lưu Hoằng Trí Lớp 6 Có Đáp Án
  • Đáp Án Sách Lưu Hoằng Trí Lớp 6
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100