Top #10 ❤️ Giải Bài Tập Tiếng Việt In Lớp 5 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Trend | Caffebenevietnam.com

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5, Tuần 13

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5, Tuần 16

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5, Tuần 8

Tập Làm Văn: Làm Biên Bản Một Vụ Việc (Tuần 16 Trang 116

Tập Làm Văn: Kể Chuyện (Tuần 22 Trang 26 Tập 2)

1. Chú cán bộ gặp chuyện gì nguy hiểm ?

Chú cán bộ bị giặc rượt bắt, chạy vô nhà dì Năm để trốn.

2. Dì Năm đã nghĩ ra cách gì để cứu chú cán bộ ?

Dì Năm vội đưa cho chú cán bộ một chiếc áo để thay, rồi bảo chú ngồi xuống chõng vờ ăn cơm, đóng giả chồng chị.

3. Chi tiết nào trong đoạn kịch làm em thích thú nhất ? Vì sao ?

– Học sinh có thể nói lên ý thích của mình và giải thích nguyên nhân.

– Khi dì Năm nhận chú cán bộ là chồng, bọn lính không tin, chúng xẵng giọng, nạt dì, dì vẫn bình tĩnh xác nhận lời nói khi nghe chúng dọa bắn mình dì Năm ấp úng : “Mấy cậu… để tui…” làm tụi lính tưởng dì sợ, khai thật, ai ngờ dì chấp nhận cái chết, xin được nói vài lời dặn dò chồng con, khiến địch tẽn tò.

– Dì Năm nhanh trí nhận chú cán bộ là chồng để bảo vệ chú. Chú cán bộ cũng đóng vai người chồng y như thiệt.

Chính tả

Thư gửi các học sinh (từ Sau 80 năm giời nô lệ … đến nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.)

3. Dựa vào mô hình cấu tạo vần, em hãy cho biết khi viết một tiếng, dấu thanh cần được đặt ở đâu ?

Dấu thanh cần đặt ở âm chính.

3. Đọc truyện sau và trả lời câu hỏi :

Ngày xửa ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, có một vị thần tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, sức khỏe vô địch, lại có nhiều phép lạ. Bấy giờ, ở vùng núi cao có nàng Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần, nghe vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ bèn tìm đến thăm. Hai người gặp nhau kết thành vợ chồng. Đến kì sinh nở, Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng. Kì lạ thay, trăm trứng nở ra một trăm người con đẹp đẽ, hồng hào và lớn nhanh như thổi. Sống với nhau được ít lâu, Lạc Long Quân bảo vợ:

Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chôn non cao. Kẻ trên cạn, người dưới nước, tập quán khác nhau, khó mà ở cùng nhau lâu dài được. Nay ta đem năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương, khi có việc thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.

Một trăm người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ sau này trở thành tổ tiên của người Việt Nam ta. Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam thường tự hào xưng là con Rồng cháu Tiên và thân mật gọi nhau là đồng bào.

a) Vì sao người Việt Nam ta gọi nhau là đồng bào ?

Người Việt Nam gọi nhau là đồng bào vì đều được sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Ầu Cơ.

b) Tìm từ bắt đầu bằng tiếng đồng (có nghĩa là “cùng”).

M : – đồng hương (người cùng quê)

– đồng lòng (cùng một ý chí)

– đồng chí – đồng đội

– đồng ca – đồng nghiệp

– đồng cảm – đồng ý

– đồng diễn – đồng loại

c) Đặt câu với một trong những từ vừa tìm được :

– Ba tôi và ba Nam là đồng đội cũ của nhau.

– Chị tôi hát rất hay nên được chọn vào đồng ca của trường.

Kể một việc làm tốt góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Bài làm:

Không ai ở xã em mà không biết ông Tùng, dù đã ngoài 60 tuổi, vẫn ngày ngày miệt mài đạp xe cọc cạch đi khắp nơi để vận động mọi người xây trường học cho trẻ em nghèo trong xã.

Từ giã chiến trường trở về quê hương, ông Tùng là một thương binh. Ông chứng kiến cảnh các bạn thiếu nhi nghèo trong xã không được đến trường, không được dạy dỗ tử tế nên nói tục, chửi bậy, lại có bạn sa vào trộm cắp … Nghĩ đến bản thân mình ngày trước, ông càng thương các bạn và đi đến quyết định : “Phải giúp chúng thay đổi cuộc đời. Chỉ có cái chữ mới giúp lũ trẻ thoát nghèo !”.

“Nhưng xã này còn nghèo quá, mà tiền xây dựng trường học bán từ gạo quyên góp thì như muôi bỏ biển. Đã góp phần xây dựng quê hương thì phải nghĩ ra nhiều chuyện, phải có nhiều tiền mới xây được trường” – Ông cười …

Rồi ông bắt đầu đi … xin. Lúc đầu, phạm vi của ông là những gia đình khá giả trong xã, trong huyện … Dần dà, ông lên thành phố. Ông nhắm vào những người cùng làng, cùng xã nay làm ăn khấm khá ở các thành phố lớn, vậy mới có thể đủ tiền xây dựng trường. Chiếc xe đạp cọc cạch theo chân ông đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Nhiều người không hiểu, cười bảo ông làm chuyện bao đồng; cứ tỉnh, huyện rót kinh phí xuống bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, chứ đi xin kiểu ấy, vừa hành xác, vừa giống … ăn mày. Nhưng ông Tùng quả quyết:

– Mình ăn mày mà đem lại cho lũ trẻ nơi học hành tử tế, có được cái chữ để giúp thân thì chẳng đáng gì!

Sau hai năm, bằng tấm lòng cùng sự chân thành, ông đã thu được kết quả ngoài mong đợi. Không những ông xây được ngôi trường hai tầng khang trang mà còn sửa lại đường sá, cầu cống cho các bạn đến trường thuận tiện.

Nhìn bộ mặt của quê hương thay đổi, khuôn mặt ông Tùng càng thêm rạng rỡ. Tiếng đọc bài của các bạn vang lên hàng ngày làm ông Tùng mãn nguyện. Ông thấy mình như trẻ lại.

Việc làm tốt đẹp của ông Tùng đã góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Đó là việc làm cao cả được mọi người khâm phục và kính trọng.

1. An đã làm cho bọn giặc mừng hụt như thế nào ?

Khi bọn giặc hỏi An : “Ông đó có phải tía mày không ?”, An trả lời : “Hổng phải tía” làm chúng tưởng An sợ nên khai thật. Không ngờ An thông minh, lém lĩnh làm chúng bẽ mặt: “Cháu kêu bằng ba, chứ hổng phải tía”.

2. Những chi tiết nào cho thấy dì Năm ứng xử rất thông minh ?

Dì Năm vờ như không tìm ra giấy tờ để chỗ nào, hỏi to lên cho giặc tưởng bở, sau đó lại đọc to tên của chồng mình cho chú cán bộ biết mà nói theo. Đó là một cách thông báo khéo léo.

3. Vì sao vở kịch được đặt tên là “Lòng dân” ?

Vì vở kịch thể hiện tấm lòng của người dân đối với cách mạng. Người dân tin, yêu và sẵn lòng xả thân mình để bảo vệ cách mạng. Nhân dân chính là chỗ dựa vững chắc nhất của cách mạng.

1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi :

Một buổi có những đám mây bay về. Những đám mây lớn nặng và đặc xịt lổm ngổm đầy trời. Mây tản ra từng nắm nhỏ rồi san đều trên một nền đen xám xịt. Gió nam thổi giật mãi. Gió bỗng đổi mát lạnh, nhuốm hơi nước. Từ phía nam bỗng nổi lên một hồi khua động dạt dào. Mưa đã xuống bên kia sông : gió càng thêm mạnh, mặc sức điên đảo trên cành cây.

Mưa đến rồi, lẹt dẹt… lẹt dẹt… mưa giáo đầu. Những giọt nước lăn xuống mái phên nứa : mưa thực rồi. Mưa ù xuống khiến cho mọi người không tưởng được là mưa lại kéo đến chóng thế. Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây giờ bao nhiêu nước tuôn rào rào. Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây. Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy. Con gà sông ướt lướt thướt ngật ngưỡng tìm chỗ trú. Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa trắng xóa. Trong nhà bỗng tối sầm, một mùi nồng ngai ngái, cái mùi xa lạ, man mác của những trận mưa mới đầu mùa. Mưa rào rào trên sân gạch. Mưa đồm độp trên phên nứa, đập bùng bùng vào lòng lá chuối. Tiếng giọt tranh đổ ồ ồ…

Nước chảy đỏ ngòm bôn bề sân, cuồn cuộn dồn vào các rãnh công đổ xuống ao chuôm. Mưa xôi nước được một lúc lâu thì bỗng trong vòm trời tối thẫm vang lên một hồi ục ục ì ầm. Tiếng sấm, tiếng sấm của mưa mới đầu mùa…

Mưa đã ngớt. Trời rạng dần. Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran. Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt. Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh.

a) Những dấu hiệu nào báo cơn mưa sắp đến ?

Mây – Những đám mày lớn nặng và đặc xịt, lổm ngổm đầy trời, tản ra từng nắm nhỏ rồi san đều trên một nền đen xám xịt.

Gió – Khi mưa xuống : gió càng thêm mạnh, mặc sức điên đảo trên cành cây.

b) Ghi lại những từ ngữ tả tiếng mưa và hạt mưa từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc cơn mưa.

Tiếng mưa

– Lúc đầu : lẹt dẹt… lẹt đẹt, lách tách.

– Về sau : mưa ù, rào rào, rầm. rập, đồm độp, đập bùng bùng, đổ ồ ồ.

– Những giọt nước lăn xuống mái hiên; mưa ù xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây.

Hạt mưa : ngã, bay, tỏa bụi nước trắng xóa.

c) Ghi lại những từ ngừ tả cây cối, con vật, bầu trời trong và sau trận mưa :

Trong cơn mưa:

– Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy.

+ Con gà trống ướt lướt thướt ngột ngưỡng tìm chỗ trú.

+ Vòm trời tối thâm vang lên một hồi ục ục ì ầm, tiếng sấm của mưa đầu mùa.

– Trời rạng dần.

+ Chim chào mào hót râm ran.

+ Phía đông một mảng trời trong vắt.

+ Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh.

d) Tác giả đã quan sát cơn mưa bằng những giác quan nào ?

M : Bằng mắt (thị giác): thấy những đám mây biến đổi.

– Bằng mắt (thị giác): Thấy những đám mây biến đổi, thấy mưa và thấy bầu trời đổi thay; thấy cây cỏ, con vật trong cơn mưa.

– Bằng tai nghe (thính giác): Nghe được tiếng gió thổi; nghe được tiếng mưa và biết được nó biến đổi, nghe được tiếng sấm, tiếng chim chào mào hót.

– Bằng cảm nhận của da (xúc giác) nên thấy sự mát lạnh của gió nhuốm hơi nước trước cơn mưa.

– Bằng mũi ngửi (khứu giác) nên biết dược mùi nồng ngại ngái xa lạ, man mác của nhưng trận mưa mới đầu mùa.

2. Từ những điều em đã quan sát được, hãy viết dàn ý bài vãn miêu tả một cơn mưa

Mở bài : Giới thiệu bao quát, quang cảnh bầu trời.

Thân bài : (Tả các bộ phận của cảnh vật)

– Nền trời, mây, gió, sấm, chớp

– Từng hạt mưa (hình dạng)

– Không khí biến chuyển ra sao ? Cây cối ?

– Các hoạt động của người, vật

– Dòng nước mưa chảy

* Nếu tả mưa lâu :

– Sau cơn mưa quang cảnh ra sao ?

– Hoạt động của người vật?

– Nền trời

Kết bài : Phát biểu cảm nghĩ.

2. Chọn ý thích hợp trong ngoặc đơn để giải thích ý nghĩa chung của các câu tục ngữ : Gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên.

a) Cáo chết ba năm quay đầu về núi: Gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên

b) Lá rụng về cội: Gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên

c) Trâu bảy năm còn nhớ chuồng: Gắn bó với quê hương là tình cảm tự nhiên

3. Dựa theo ý một khổ thơ trong bài Sắc màu em yêu, hãy viết một đoạn văn miêu tả màu sắc đẹp của những sự vật mà em yêu thích. Trong đoạn văn, chú ý sử dụng những từ đồng nghĩa.

Nhà em ở gần biển. Em thích cùng mẹ đi dạo bên bờ biển, cảm nhận vị mặn mòi của biển quê hương và nhìn về phía biển.

Biển dữ dội vô cùng nhưng cũng như nàng công chúa đỏng đảnh, đổi thay xiêm y liên tục. Đó là màu vào buổi sáng, vào buổi trưa như ôm trọn lấy vòm trời , là màu vào buổi chiều.

Em yêu màu xanh. Mẹ bảo đó là màu của tuổi trẻ, của hòa bình, của niềm tin và hy vọng… và hơn hết, đó chính là màu của biển quê hương.

1. Bạn Quỳnh Liên làm bài văn tả quang cảnh sau cơn mưa. Bài văn có 4 đoạn nhưng chưa đoạn nào hoàn chỉnh.

Em hãy chọn một đoạn và giúp bạn viết thêm vào những chỗ trống để hoàn chỉnh nội dung của đoạn :

Lộp độp, lộp độp. Mưa rồi. Cơn mưa ào ào đổ xuống làm mọi hoạt động dường như ngừng lại. Mưa ào ạt trắng xóa cả một nền trời, cây cối ngả nghiêng như muốn đổ rạp hết xuống, vải bóng người phóng xe vội vã, nước tung tóe bắn ra hai bên. Một lát sau, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn.

Ánh nắng lại chiếu rực trên những thảm cỏ xanh. Nắng lấp lánh như đùa giỡn, nhảy nhót với những gợn sóng trên dòng sông Nhuệ. Mấy chú chim không rõ tránh mưa ở đâu giờ đã đậu trên cành cây cất tiếng hót véo von. Chị gà mái tơ náu dưới gốc cây hoàng lan lướt lướt, thướt, đang xù ra và rũ rũ lại bộ lông.

Đàn gà con xinh xắn đang chạy quanh chăn mẹ. Bộ lông vàng óng của chúng vẫn khô nguyên vì vừa chui ra từ đôi cánh to và ấm áp của mẹ.

Chú mèo khoang khoan thai bước ra từ nhà bếp, duỗi thẳng người rồi nhảy phóc lên cây cau, cào cào. Nước mưa còn đọng trên ló cau rơi xuống lộp độp, mèo con giật mình, tẽn tò nhảy xuống.

Sau cơn mưa, có lẽ cây cối, hoa lá là tươi đẹp hơn tất cả. Hàng cây trước nhà dường như tươi non hơn, xanh mát hơn vì được tắm đẫm nước mưa. Mấy cây hoa trong vườn dường như rực rỡ hơn. Ánh nắng chiếu xuống vài giọt nước còn đọng trên lá, ánh lên lấp lánh.

Con đường trước cửa đang khô dần. Trên đường, xe cộ qua lại nườm nượp, như mắc cửi. Tiếng cười nói, tiếng xe cộ hòa vào nhau ồn ã, mọi người vội vã trở lại với công việc. Góc phố, mấy cô bé đang chơi nhảy dây. Những bím tóc tun ngủn vung vẩy theo từng nhịp chân nhảy.

2. Chọn một phần trong dàn ý bài văn tả cơn mưa em đã trình bày trong tiết trước, viết thành một đoạn văn.

– Hoàn thành phần thân bài.

Dọa nạt mãi cuối cùng thì mưa cũng kéo đến. Bầu trời đen kịt, những đám mây nặng nề như kéo thấp vòm trời xuống, rồi từ đó những hạt mưa đầu tiên rơi xuống mái nhà, rơi xuống lòng đường, rơi xuống khu vườn. Chỉ trong phút chốc, mặt đất đã phủ một màn mưa trắng xóa. Gió hung hãn quật qua quật lại trên các cành cây, từng tia chớp lóe lên phụ họa theo trò nghịch ngợm của gió, thỉnh thoảng lại ánh lên vài đường dữ dội, sấm cũng ầm ầm nổi giận … Chừng như tất cả đang thi nhau dương oai. Hạt mưa lúc đầu chỉ là những giọt nước lẻ tẻ kêu lộp độp lúc này đã thành dòng nước tuôn mải miết. Mưa gió làm khí trời mát lạnh. Đường xá vắng tanh, thỉnh thoảng vài chiếc xe máy lướt thướt chạy qua, mấy chiếc xe tải vội vã đi trong màn mưa dày đặc. Chỉ tội đàn gà vụng về. Chúng trú mưa dưới gốc mận trong vườn, mưa gió làm từng cành cây ngả nghiêng, không đủ che cho chúng, lông chúng bết lại với nhau, mắt nhắm nghiền. Con chó mực nằm trước cửa nhà, mỏ gác lên bệ cửa, mắt lim dim, chừng như khí trời mát mẻ làm giấc ngủ của nó kéo đến.

Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tuần 22

Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 Tuần 2: Luyện Từ Và Câu

Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tuần 23

Câu 1, 2, 3, 4 Trang 6 Vở Bài Tập Toán 5 Tập 2: Bài 92. Luyện Tập

Giải Vở Bài Tập Toán Lớp 5 Tập 2 Trang 101 Câu 1, 2, 3, 4

Lời Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5

Các Bài Toán Về Hình Tròn Lớp 5 Có Đáp Án, Tính Chu Vi, Diện Tích Hình

Tuyển Tập Các Dạng Toán Nâng Cao Lớp 5

Đề Kiểm Tra Tập Làm Văn Số 5 Lớp 9 Học Kì 2 (Có Đáp Án

Tập Làm Văn Lớp 5: Luyện Tập Tả Cảnh

Lý Thuyết Tin Học 9 Bài 7: Phần Mềm Trình Chiếu (Hay, Chi Tiết).

Tác giả: Vũ Khắc Tuân

Lời Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tiếng Việt là môn học có vai trò và vị trí quan trọng trong chương trình cấp Tiểu học. Môn tiếng Việt sẽ giúp các em tạo nền tảng về vốn từ, ngữ pháp, tập…

Giao hàng toàn quốc

Được kiểm tra hàng

Thanh toán khi nhận hàng

Chất lượng, Uy tín

7 ngày đổi trả dễ dàng

Hỗ trợ xuất hóa đơn đỏ

Giới thiệu Lời Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 – Tập 2

Lời Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2

Tiếng Việt là môn học có vai trò và vị trí quan trọng trong chương trình cấp Tiểu học. Môn tiếng Việt sẽ giúp các em tạo nền tảng về vốn từ, ngữ pháp, tập làm văn… để có thể diễn đạt tốt những suy nghĩ, tư duy của mình. Để học tốt tiếng Việt, các em phải thường xuyên rèn luyện làm bài tập thực hành. Quyển sách Lời Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 (Tập 2) được biên soạn nhằm giúp các em tham khảo, định hướng giải quyết đúng các bài tập thực hành tiếng Việt trong chương trình. Thông qua những bài giải mẫu, các em sẽ có những lời gợi ý để tìm ra cách làm phù hợp với bản thân mình. Sách bao gồm hướng dẫn các bài tập về Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn… giúp các em đa dạng được các dạng bài và rèn luyện kĩ năng làm bài tập. Những bài giảibchuyên về mở rộng vốn từ sẽ giúp các em tìm hiểu thêm về kho tàng từ vựng phong phú của Việt Nam. Đồng thời, các em có thể tích lũy thêm cho bản thân những từ ngữ ấy để bổ sung cho vốn từ của bản thân. Đây cũng là tài liệu hữu ích giúp phụ huynh có thể hướng dẫn bài tập và kiểm tra lại kiến thức của con em mình.

Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Tuy nhiên tuỳ vào từng loại sản phẩm hoặc phương thức, địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, …

Thông tin chi tiết

Công ty phát hành

SÁCH THIẾT BỊ GIÁO DỤC ĐỨC TRÍ

Ngày xuất bản

10-2017

Kích thước

16 x 24 cm

Loại bìa

Bìa mềm

Số trang

112

Nhà xuất bản

Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội

SKU

2484751486777

Soạn Tiếng Việt Lớp 5 Tập 1 Chuẩn Chương Trình Sách Giáo Khoa

Tham Khảo Đề Thi Hk1 Tiếng Việt Lớp 5 Có Lời Giải

Giải Getting Started Unit 10 Sgk Tiếng Anh Lớp 8 Mới

Grammar Unit 6 Sgk Tiếng Anh 8 Mới

Giải Getting Started Unit 6 Sgk Tiếng Anh 8 Mới

Tiếng Việt Lớp 5 Tập Đọc: Tiếng Rao Đêm

Soạn Bài Tập Đọc: Tiếng Rao Đêm Lớp 5 Trang 30

Soạn Bài Tiếng Rao Đêm Trang 30 Sgk Tiếng Việt 5 Tập 2

Tập Đọc Lớp 5: Tiếng Rao Đêm

Tiếng Việt Lớp 5: Tập Đọc. Tiếng Rao Đêm

Unit 5 Lớp 10: Reading

Soạn bài: Tập đọc Tiếng rao đêm Nội dung chính

Bài đọc nói về sự dũng cảm của một người thương binh. Anh đã hi sinh cho đất nước, mất một chân phải dùng chân giả, cuộc sống khó khăn, nhưng sẵn sàng cứu người khỏi đám cháy, không quản nguy hiểm tới tính mạng.

Câu 1 (trang 31 sgk Tiếng Việt 5): Đám cháy xảy ra vào lúc nào ?

Trả lời:

Thời gian đám cháy xảy ra là vào “một đêm”, khi mọi người sắp đi vào giấc ngủ sau một ngày lao động.

Câu 2 (trang 31 sgk Tiếng Việt 5): Người đã dũng cảm cứu em bé là ai? Con người và hành động của anh có gì đặc biệt ?

Trả lời:

– Người dũng cảm cứu em bé là một người đi bán bánh giò hàng đêm.

– Con người và hành động của anh rất đặc biệt : “Một bóng người cao gầy, khập khiễng chạy tới ngôi nhà cháy, xô cánh cửa đổ rầm”. Đó là hành động khẩn trương cứu người trong cơn hoạn nạn, bất chấp hiểm nguy, không màng tới bước chạy của anh bị “khập khiễng”. Rồi từ ngôi nhà “khói bụi mịt mù”, anh phóng thẳng ra ngoài, trong tay ôm khư khư cái bọc chăn, trong đó là một đứa bé mặt mày đen nhẻm, thất thần, “khóc không thành tiếng ” vừa lúc “một cây rầm sập xuống”. Cả người anh ngã quỵ xuống, người mềm nhũn. Khi cấp cứu, người ta thảng thốt phát hiện một chân của anh là “một cái chân gỗ”. Anh là một thương binh, đêm đêm đạp xe đi bán bánh giò để kiếm sống. Anh là người phát hiện ra đám cháy, báo động cho mọi người và cứu một gia đình qua cơn hoạn nạn.

Câu 3 (trang 31 sgk Tiếng Việt 5): Chi tiết nào trong câu chuyện gây bất ngờ cho người đọc ?

Trả lời:

Tác giả có cách dẫn dắt trực tiếp và ngắn gọn nên câu chuyện đã làm nổi bật hình ảnh nhân vật anh thương binh cứu người từ đám cháy. Người đọc ấn tượng sâu sắc nhân vật ấy, qua chi tiết :

– Trong một đêm đi bán bánh giò, anh thương binh phát hiện ra đám cháy. Không ngần ngại anh lao vào chỗ có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của anh, anh cứu được một em bé đang thất thần, không khóc được nữa.

– Anh ngã quỵ vì mất sức. Người đến cấp cứu cho anh lại phát hiện điều bất ngờ : Anh là một thương binh và tài sản của anh thì “chiếc xe đạp nằm lăn lóc ở góc tường và những chiếc bánh giò tung tóe…”. Anh xứng đáng là một chiến sĩ quân đội luôn biết hi sinh cho nhân dân của mình. Anh tuy “tàn mà không phế”.

Câu 4 (trang 31 sgk Tiếng Việt 5): Câu chuyện trên gợi cho em suy nghĩ gì về trách nhiệm công dân của mỗi người trong cuộc sống ?

Trả lời:

– Bằng khả năng của mình hãy luôn giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Luôn chia sẻ, gánh vác khó khăn trong cuộc sống với tất cả mọi người, với đồng bào ruột thịt của mình.

– Không so đo tính toán thiệt hơn quyền lợi với người mình vừa giúp đỡ. Sống hòa thuận, đoàn kết như anh em một nhà với mọi người xung quanh.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

nguoi-cong-dan-tuan-21.jsp

Soạn Tập Đọc: Kì Diệu Rừng Xanh Trang 75 Lớp 5

Tiếng Việt Lớp 5 Tập Đọc: Kì Diệu Rừng Xanh

Tập Đọc Lớp 5: Kì Diệu Rừng Xanh

Giải Bài Tập Sgk Tiếng Anh Lớp 11 Unit 6: Competitions

Giải Bài Tập Sgk Tiếng Anh Lớp 11 Unit 5: Illiteracy

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5, Tuần 8

Tập Làm Văn: Làm Biên Bản Một Vụ Việc (Tuần 16 Trang 116

Tập Làm Văn: Kể Chuyện (Tuần 22 Trang 26 Tập 2)

Gia Sư Online: Toán Lớp 4 Trang 25 Giây Thế Kỉ

Câu 1, 2, 3 Trang 38 Vở Bài Tập (Sbt) Toán 4 Tập 1

Câu 1, 2, 3, 4, 5 Trang 64 Vở Bài Tập (Sbt) Toán Lớp 4 Tập 1

– Tác giả đã thấy vạt nấm rừng như một thành phố nấm, mỗi chiếc nấm nhỏ một lâu đài kiến trúc tân kì, bản thân mình như một người khổng lồ đi lạc vào kinh đô của vương quốc những người tí hon với những đền đài, miếu mạo, cung điện lúp xúp dưới chân.

– Nhờ những liên tưởng ấy mà cảnh đẹp trở nên huyền hoặc, kì ảo như một thế giới cổ tích.

– Những con vượn bạc má ôm con gọn ghẽ chuyền nhanh như tia chớp. Những con chồn sóc với chùm lông đuôi to đẹp vút qua không kịp đưa mắt nhìn theo. Mấy con mang vàng hệt như mùa lá khộp đang ăn cỏ non. Những chiếc chân vàng giảm trên thảm lá vàng và sắc nắng củng rực vàng trên lưng nó.

– Sự xuất hiện của chúng thoắt ẩn, thoắt hiện làm cho cảnh rừng trở nên sống động, làm cho rừng đầy những bất ngờ và thú vị.

màu vàng ngời sáng, rực rỡ, đều khắp, rất đẹp mắt. Rừng khộp được gọi là “giang sơn vàng rợi” vì có sự hòa quyện của rất nhiều sắc vàng trong một không gian rộng lớn. Lá úa vàng như cảnh mùa thu. Những sắc vàng động đậy; mấy con mang vàng, chân vàng giẫm lèn thảm lá vàng và sắc nắng củng rực vàng trên lưng nó ….

Học sinh nói lên suy nghĩ của mình.

– Vẻ đẹp của rừng qua cái nhìn của tác giả thật kì diệu

– Bài văn hay và đẹp, khiến em yêu mến hơn những cánh rừng và mong muốn mọi người chung sức bảo vệ thiên nhiên

– Khu rừng mà tác giả miêu tả đẹp như một khu vườn cổ tích, em ao ước một lần mình được lạc vào thế giới thần bí ấy.

Chính tả

1. Nghe – viết: Kì diệu rừng xanh (từ Nắng trưa … đến cảnh mùa thu.)

Chúng tôi mải miết đi nhưng chưa kịp qua hết cánh rừng thì mặt trời đã xuống khuất. Màn đêm dần bao trùm mỗi lúc một dày đặc trên những ngọn cây. Gió bắt đầu nổi lên. Rừng xào xạc như thì thào kể những tự ngàn xưa. Tôi cố căng mắt nhìn qua màn đêm thăm thẳm với hi vọng tìm thấy một đốm lửa báo hiệu có một bản làng bình yên phía xa đang chờ đón.

b) Tất cả những gì không do con người tạo ra.

a) Tả chiều rộng.

M : bao la, mênh mông, bát ngát, bạt ngàn.

b) Tả chiều dài (xa).

M : tít tắp, thăm thẳm, vời vợi, ngút ngàn, tít mù khơi, dằng dặc.

c) Tả chiều cao.

M : cao vút, chót vót, vời vợi, vòi vọi, chất ngất.

d) Tả chiều sâu.

M : hun hút, hoắm, thăm thẳm.

*Đặt câu với một trong các từ ngữ vừa tìm được :

– Cánh rừng rộng bao la

– Bầu trời cao vời vợi

– Bạn Hùng nói quê ngoại bạn ấy xa tít tắp

– Giếng sâu hoắm

a) Tả tiếng sóng.

M : ì ầm, rì rào, ầm ầm, lao xao, ì oạp, oàm oạp.

b) Tả làn sóng nhẹ.

M : lăn tăn, dập dềnh, gợn nhẹ, trườn nhẹ.

c) Tả đợt sóng mạnh.

M : cuồn cuộn, ào ạt, cuộn trào, dữ dội, khủng khiếp, điên cuồng.

* Đặt câu với một trong các từ ngữ vừa tìm được :

– Tiếng sóng vỗ vào bờ ầm ầm.

– Những con sóng lăn tăn trên mặt hồ tĩnh lặng.

– Con sóng trườn nhẹ lên bờ cát.

– Sóng đập mạnh dữ dội, như cơn thịnh nộ của đại dương.

– Từng con sóng đập điên cuồng vào mạn thuyền, chiếc thuyền như muốn vỡ tung ra.

KỂ CHUYỆN ĐÃ NGHE, ĐÃ ĐỌC

Giờ kể chuyện tuần qua, lớp em được cô giáo kể câu chuyện “Con chim nhỏ” nói về quan hệ giữa con người với thiên nhiên.

Hôm sinh nhật, Hùng nhận được rất nhiều quà. Nhưng cậu ta thích nhất là chiếc lồng bẫy chim của người anh họ gửi cho. Chiếc lồng làm bằng những thanh tre vuốt tròn. Phía trên có một cái lưới và miếng gỗ nhỏ, rắc thức ăn lên đó để ngoài sân, hễ chim đậu vào mổ thóc là miếng gỗ bật lên, lưới ụp xuống. Hùng mừng quá, chạy khoe với bố. Bố bảo :

– Thứ đồ chơi này không tốt. Con không nên bắt chim làm gì !

– Con sẽ nhốt chim vào lồng và nuôi cho chim hót.

Rồi Hùng lấy thóc rắc lên miếng gỗ, đem bẫy đặt ngoài vườn. Hùng nấp vào gốc cây, chờ mãi vẫn không thấy con chim nào bay tới. Hùng để bẫy ở đó đi ăn cơm trưa. Sau bữa ăn, cậu vui mừng thây lưới đã sập. Một chú chim nhỏ đang giãy giụa trong lưới. Hùng bắt chim bỏ vào lồng và chạy vào khoe với bố:

– Bố ơi, bố xem này, con bẫy được một chú họa mi.

– Đây là chim sâu, đừng làm tội nó con ạ! Tốt hơn thì con thả nó ra …

Hùng thưa lại bố:

– Bố yên tâm, con sẽ chăm sóc nó chu đáo !

Mấy hôm đầu, Hùng đều rắc thóc cho chim, thay nước, rửa lồng … Đến ngày thứ năm, Hùng quên mất. Bố Hùng bảo :

– Đây, con quên chim rồi. Cứ thả nó ra là hơn.

– Con sẽ không quên nữa! Con đi lấy thóc và thay nước ngay bây giờ. Tội nghiệp chú chim nhỏ của tôi!

Hùng mở cửa lồng lau chùi. Chú chim sợ hãi, cuống cuồng đập cánh bay khắp lồng. Hùng dọn sạch lồng xong, bỏ đi lấy thóc và nước mà quên đóng cửa lồng. Hùng vừa bước đi, chú chim nhỏ vội bay qua cửa sổ thoát thân. Không ngờ, chim đập đầu vào cửa kính ngã lăn xuống nền nhà. Hùng vội chạy đến bắt chim bỏ vào lồng. Chú chim nhỏ nằm bẹp xuống, sải cánh và thở mệt nhọc. Hùng nhìn chim rồi nước mắt chảy :

– Bố ơi, con làm thế nào bây giờ hả bố ?

Bố nhìn con lắc đầu :

– Biết làm thế nào được nữa !

Suốt ngày, Hùng không rời chiếc lồng. Con chim nhỏ vẫn nằm thở dồn dập. Sáng hôm sau, Hùng lại gần lồng chim. Con chim nhỏ đã nằm ngửa, chân duỗi thẳng cứng đờ. Từ đấy, Hùng không bao giờ bẫy chim nữa.

Câu chuyện có ý nghĩa thật sâu sắc. Chim chóc cũng như con người phải được sống tự do và sống cùng đồng loại. Nếu cô đơn và mất tự do, chim cũng vô cùng đau đớn và khó bề sông nổi.

Địa điểm tả trong bài thơ được gọi là “Cổng trời” vì đó là một đèo cao giữa hai vách đá, từ đây có thể nhìn thấy cả một khoảng trời lộ ra, có mây bay, có gió thoảng, tạo cảm giác như đó là cổng để đi lên trời….

Từ cổng trời nhìn xa, qua làn sương khói mờ ảo ta thấy cả một không gian thảm rực rỡ, con thác réo mãi không ngừng, như giọng kể, như khúc hát ngân nga của núi rừng. Nơi dòng suối, đào lẽ soi bóng, lúc chín ngọt như mật. Trong buổi chiều yên ả, sương giá của màn đêm bắt đầu lấn xuống, rung trong không gian là tiếng nhạc ngựa, gió thổi đưa vào không gian bao la…

Học sinh tự trình bày ý thích của mình.

– Em thích nhất hình ảnh đứng ở cổng trời, trước mắt như mở ra một không gian vô tận, gió thoảng, mây trôi, con người thật nhỏ bé và thiên nhiên thật hùng vĩ.

– Em thích nhất cảnh sáng chiều lẫn trong tiếng reo của thác nước là mùi hoa thơm mà gió mang về, đàn dê bình thản soi mình nơi đáy suối, uống nước… khung cảnh thật yên bình.

Cánh rừng sương giá ấm lên bởi sự suất hiện của con người. Con người tất bật với công việc; gặt lúa, trồng rau, tìm măng, hái nấm… tiếng nhạc ngựa vang lên khắp triền rừng…

1. Lập dàn ý miêu tả một cảnh đẹp ở địa phương em.

2. Dựa theo dàn ý đã lập, hãy viết một đoạn văn miêu tả cảnh đẹp ở địa phương em.

1. Mở bài:

Giới thiệu chung về cảnh mà em sẽ tả (Thác Đam-bri ở huyện Bảo Lâm, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng).

– Em cùng ba đi thăm vào dịp hè.

2. Thân bài .

– Giới thiệu đường vào thác:

+ Từ chợ huyện Bảo Lâm chạy vào khoảng 6 cây số – đó là đường vào thác.

+ Trèo lên hàng trăm bậc thang bằng đá.

+ Ven đường, tán lá lòe xòe, ẩm ướt.

– Nhìn từ trẽn xuống :

+ Dòng thác chảy dữ dội, đổ ầm ầm. Dòng nước đổ xuống tạo thành một dải băng trắng khổng lồ. Bụi nước mát lạnh, bọt nước trắng xóa. Dưới chân thác, dòng nước cuồn cuộn.

+ Cây cầu bắc ngang nối hai bờ thác.

+ Có người cho mướn ngựa.

+ Những tảng đá lớn bị nước chảy mài nhẵn nhụi.

+ Du khách ngồi nghỉ chân …

– Nhìn từ dưới lèn :

+ Ảnh nắng lấp lóa.

+ Cầu vồng 7 màu khoe sắc – đẹp vô cùng.

+ Dòng thác dữ dội, mạnh mẽ như muốn đổ sập xuống, nuốt chửng tất cả.

3. Kết luận

– Cảnh đẹp dữ dội.

– Làm say lòng người.

– Mời mọi người đến thăm.

Dịp hè vừa rồi ba dẫn em đi thăm thác Đam-bri, cảnh đẹp nơi đây đã để lại cho em một ấn tượng sâu sắc và mạnh mẽ về đất trời cao nguyên.

Từ chợ huyện Bảo Lâm, con đường đất đỏ dẫn vào thác ngoằn ngoèo uốn quanh dồi chè đều tăm tắp, xanh mướt. Bèn lề đường, thỉnh thoảng, em bắp gặp vài khóm dã quỳ, hoa nở vàng, rực rở cả con đường, từng đám cúc dại lan trên mặt đất. Không khí mát mẻ thật dễ chịu.

Để lên thác, em phải cùng ba treo qua hàng trăm bậc thang đá ẩm ướt. Hai bên vệ đường, từng tản lả cây lòe xòe như níu chăn du khách.

Con đường đá dẫn lên một cây cầu bắc ngang hai bờ thác. Nhìn từ trên xuống dòng thác thật dữ dội, nước chảy ầm ầm. Dòng nước trắng xóa đổ xuống như một dải băng trắng khổng lồ. Bụi nước mát lạnh, bọt tung trắng xóa. Dưới chân dòng thác, từng tảng đá lớn bị nước bào mòn, nhẵn nhụi, dòng nước cuồn cuộn chảy. Nhưng chỉ dữ dội một lát, chảy thèm vài chục mét nữa, con nước đã hiền hòa trở lại, uốn mình theo các quả đồi, len vào các khe nhỏ dẫn nước về đồi chè, nương dâu… Phía dưới chân thác, du khách người thay nhau chụp hình, người ngồi thả chân xuống nước để cảm nhận sự mát lạnh của dòng nước thấm vào, xưa tan mệt mỏi, người quay phim… em thấy một bạn gái tóc vàng, chắc là người ngoại quốc đang cười thích thú trên lưng ngựa. Chú ngựa được cho thuê để du khách chụp hình, quen khách, hiền lành đứng im cho bác thợ chụp ảnh tạo kiểu.

Nhưng rực rỡ nhất là khi nhìn từ dưới lên, hơi nước bốc lên mù mịt và ánh nắng mặt trời chiếu xuống đã tạo thành một dải cầu vồng bảy sắc, rực rỡ vô cùng… Đứng phía dưới nhìn lèn, em thấy mình thật nhỏ bé, dòng thác như muốn đổ sập xuống, cuốn phăng đi tất cả.

Chuyến đi thăm thác để lại cho em một ấn tượng mạnh mẽ về sự hùng vĩ của đất trời cao nguyên. Bây giờ thì em đã tin rằng “cảnh đẹp có thể làm say lòng người” ! Nếu có cơ hội, nhất định em sẽ xin ba được đi thăm một lần nữa…

Luyện từ và câu

LUYỆN TẬP VỀ TỪ NHIỀU NGHĨA

b) Đường

– Bát chè này nhiều nên rất ngọt.(Từ đồng âm)

– Các chú công nhân đang chữa dây điện thoại.(Từ đồng âm)

– Ngoài , mọi người đã đi lại nhộn nhịp.(Từ đồng âm)

2. Trong mỗi câu thơ, câu văn sau của Bác Hồ, từ xuân được dùng với nghĩa như thế nào ?

a) Mùa (1) là Tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày (2).

– Xuân (1) – Chỉ thời tiết. “Mùa xuân” là mùa đầu tiên trong bốn mùa.

– Xuân (2) – Có nghĩa là tươi đẹp.

b) Ống Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm.” (…) Khi người ta đã ngoài 70 (3), thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp.

– Xuân (3) – Chỉ tuổi tác của con người.

a) Cao

– Có chiều cao lớn hơn mức bình thường.

– Có số lượng hoặc chất lượng hơn hẳn mức bình thường. – Hà An mới học lớp bốn mà nhìn em đã cao lắm rồi.

– Xuân Lan mới học lớp 4 mà nhìn em đã cao lắm rồi.

– Tỉ lệ học sinh khá giỏi ở trường em rất cao.

b) Nặng

– Có trọng lượng lớn hơn mức bình thường.

– Ở mức độ cao hơn, trầm trọng hơn mức bình thường.

– Bé mới bốn tháng tuổi mà bế đã nặng trĩu tay.

– Không khí trong cuộc họp thật nặng nề, ai nấy đều căng thẳng.

c) Ngọt

– Có vị như vị của đường, mật .

– (Lời nói) nhẹ nhàng, dễ nghe.

– (Âm thanh) nghe êm tai.

– Em thích ăn bánh ngọt.

– Cô giáo em có giọng nói thật ngọt ngào.

– Tiếng đàn cất lèn nghe thật ngọt.

b) Tuổi thơ của em có biết bao kỉ niệm gắn với những cảnh vật của quê hương. Đây là dòng sông nhỏ đầy ắp tiếng cười của bọn trẻ chúng em mỗi buổi chiều hè. Kia là triền đê rộn rã tiếng hát của thanh niên nam nữ những đêm sáng trăng. Nhưng gần gũi, thân thiết với em vẫn là con đường từ nhà đến đường – con đường đẹp đẽ suốt những năm tháng học trò của em.

Đoạn a) theo cách mở bài trực tiếp.

– Cách viết : Kể ngay đến đối tượng được miêu tả.

* Đoạn b) theo cách mở bài gián tiếp.

– Cách viết : Nói chuyện khác để dẫn vào chuyện hoặc đôi tượng định tả.

b) Em rất yêu quý con đường từ nhà đến trường. Sáng nào đi học, em cũng thấy con đường rất sạch sẽ. Em biết đấy là nhờ công quét dọn ngày đêm của các cô bác công nhân vệ sinh. Em và các bạn bảo nhau không xả rác bừa bãi để con đường luôn sạch, đẹp.

– Đều nói về tình cảm yêu quý, gắn bó thân thiết của bạn học sinh đối với con đường.

– Khẳng định con đường rất thân thiết với học sinh.

– Vừa nói về tình cảm yêu quý con đường, vừa ca ngợi công ơn của các cô bác công nhân vệ sinh đã giữ sạch con đường, đồng thời thể hiện ý thức giữ cho con đường luôn sạch, đẹp.

– Mỗi ngày, trên ti vi, trên báo chí giới thiệu rất nhiều cảnh đẹp của đất nước ta. Em cũng đã từng được đi du lịch nhiều nơi. Em đã đến bãi cát vàng tuyệt đẹp ở Nha Trang hay những đồi cát ở Mũi Né, em cũng đã được biết đến cái lạnh run người của đất trời Đà Lạt. Thế nhưng, dù đi đâu em vẫn thấy gần gũi nhất, thân thuộc nhất chính là nơi thị xã quê hương em.

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5, Tuần 16

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5, Tuần 13

Giải Bài Tập Tiếng Việt 5

Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Tuần 22

Giải Vở Bài Tập Tiếng Việt Lớp 5 Tuần 2: Luyện Từ Và Câu

🌟 Home
🌟 Top