Ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Triết 2
  • Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 4
  • Bài Tập Và Bài Giải Chương 4 : Tổng Hợp Và Cân Đối Kế Toán
  • Bài Tập Và Bài Giải Chương 6 : Kế Toán Các Quá Trình Kinh Doanh Chủ Yếu
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Nguyên Lý Kế Toán Có Đáp Án
  • Hỏi Đáp Triết Học Mác Lênin, ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1, Triết Học Mác Lênin, Tài Liệu ôn Thi Triết Học Mác Lênin 2, Triết Học Mác-lênin – Tài Liệu Học Tập, Trắc Nghiệm Triết Học Mác Lênin, 130 Bài Tiểu Luận Triết Học Mac Lenin, Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Giáo Trình Triết Học Mac -lenin, “quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin”, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao G, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Giáo Trình Cao Cấp Lý Luận Chính Trị Triết Học Mác – Lênin, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao Gồm Mấy Giai Đo, Phải Vận Dụng Những Nguyên Tắc Phương Pháp Luận (quan Điểm) Nào Của Triết Học Mác-lênin?, Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Chủ Nghĩa Mác Lênin Pdf, Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Thi Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Thất Nghiệp Lênin, Đề Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lenin Là Kim Chỉ Nam, Lenin Toàn Tập, Bảo Vệ Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Năm Nào, Học Chủ Nghĩa Mác Lênin Để Làm Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Khi Nào, Lý Luận Mác Lênin, Lênin Toàn Tập Tập 55, Lenin Toan Tap Tap 18, Các Câu Hỏi Tự Luận Môn Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Vấn Đề Dân Tộc, Chủ Nghĩa Tư Bản Mac Lenin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Xã Hội Mac Lênin, Mac Lenin Hutech, Học Thuyết Mác Lênin, Đường Lối Mác Lênin, Tài Liệu ôn Thi Mác Lênin 1, ôn Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin, Lenin Toan Tap Tap 41, Vì Sao Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời, Tài Liệu ôn Thi Mác Lênin 2, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Sự Ra Đời Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Cương Mác Lênin 2, Giá Trị Cốt Lõi Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học, Triết Học ấn Độ, Triết Học Là Gì, 30 Câu Hỏi Triết Học, Triết Học, Triết, Triết 1, Triết Học Hỏi Va, Triết Học Hỏi Và Đáp, Triết Học Cao Học, Triết Học Lớp 12, Triết 2, Triết Học Sau Đại Học, Đề Triết 1, Đề Cương Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin ở Việt Nam, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Kinh Tế, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Giáo Dục, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Con Người, Cương Lĩnh Dân Tộc Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Phần 2, Giáo án Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Tôn Giáo, 2 Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mac Lenin Tiếng Anh, Chủ Nghĩa Mác Lênin Toàn Tập, Chương 1 Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bảo Vệ Tổ Quốc, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Một Hệ Thống Mở, Tài Liệu Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Nguyên Lý 1 Chủ Nghĩa Mác Lênin, Bài Tiểu Luận Mác Lênin 2, Bài Tiểu Luận Mac Lenin 1, Bài Thuyết Trình Mac Lenin 2, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Nguyên Lý Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Nhà Nước, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin Phần 2, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin 2 Có Lời Giải, Bài Giảng Chủ Nghĩa Mác Lênin, 300 Bài Tiểu Luận Mác Lênin, 3 Quy Luật Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Sách Chủ Nghĩa Mác Lênin, Quan Điểm Của Mác Lenin Về Văn Hóa, Chủ Nghĩa Mác Lênin Chương 3, Chủ Nghĩa Mác Lênin Có Mấy Bộ Phận,

    Hỏi Đáp Triết Học Mác Lênin, ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1, Triết Học Mác Lênin, Tài Liệu ôn Thi Triết Học Mác Lênin 2, Triết Học Mác-lênin – Tài Liệu Học Tập, Trắc Nghiệm Triết Học Mác Lênin, 130 Bài Tiểu Luận Triết Học Mac Lenin, Khái Niệm Triết Học Mác Lênin, Giáo Trình Triết Học Mac -lenin, “quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin”, Quan Niệm Của Triết Học Mác – Lênin Về Vật Chất, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao G, Quan Niệm Của Triết Học Mác-lênin Về Bản Chất Con Người, Giáo Trình Cao Cấp Lý Luận Chính Trị Triết Học Mác – Lênin, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao Gồm Mấy Giai Đo, Phải Vận Dụng Những Nguyên Tắc Phương Pháp Luận (quan Điểm) Nào Của Triết Học Mác-lênin?, Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 1, Chủ Nghĩa Mác Lênin Pdf, Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin, Đề Thi Môn Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Thất Nghiệp Lênin, Đề Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lenin Là Kim Chỉ Nam, Lenin Toàn Tập, Bảo Vệ Chủ Nghĩa Mác – Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin 2, Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Năm Nào, Học Chủ Nghĩa Mác Lênin Để Làm Gì, Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời Khi Nào, Lý Luận Mác Lênin, Lênin Toàn Tập Tập 55, Lenin Toan Tap Tap 18, Các Câu Hỏi Tự Luận Môn Mác Lênin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Vấn Đề Dân Tộc, Chủ Nghĩa Tư Bản Mac Lenin, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Văn Hóa, Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác Lênin, Chủ Nghĩa Xã Hội Mac Lênin, Mac Lenin Hutech, Học Thuyết Mác Lênin, Đường Lối Mác Lênin, Tài Liệu ôn Thi Mác Lênin 1, ôn Thi Chủ Nghĩa Mác Lênin, Bài Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin, Lenin Toan Tap Tap 41, Vì Sao Chủ Nghĩa Mác Lênin Ra Đời, Tài Liệu ôn Thi Mác Lênin 2,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Tài Liệu Giải Bài Tập Mác Lênin 2 Phần Thặng Dư
  • Sách Bài Tập Tiếng Anh Mai Lan Hương 7 Unit 1
  • Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 1
  • Hướng Dẫn Giải Bài Tập Toán Kinh Tế (Xb Năm 2010)
  • Tài Liệu Giải Bài Tập Mác Lênin 2 Phần Thặng Dư

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1
  • Giải Bài Tập Triết 2
  • Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 4
  • Bài Tập Và Bài Giải Chương 4 : Tổng Hợp Và Cân Đối Kế Toán
  • Bài tập Mác Lênin 2 – Phần thặng dư Bài 1: Trong 8 giờ công nhân sản xuất được 16 sản phẩm có tổng giá trị là 80 đô la. Hỏi: giá trị tổng sản phẩm làm ra trong ngày và giá trị của 1 sản phẩm là bao nhiêu, nếu: a. Năng suất lao động tăng lên 2 lần b. Cường độ lao động tăng lên 1.5 lần. Trả lời: a. Giá trị tổng sản phẩm trong ngày không thay đổi; Giá trị của 1 sản phẩm sẽ hạ từ 5 xuống còn 2,5 đô la. b. Giá trị tổng sản phẩm trong ngày là 120 đô la; Giá trị của 1 sản phẩm không đổi. 16 sản phẩm = 80 USD ↔ giá trị 1 sản phẩm = 80/16 = 5 USD A ) Tăng năng suất chỉ làm tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1 khung thời gian nhất định chứ ko làm tăng tổng giá trị , vì vây lúc này 8h sẽ sản xuất đc 32 sản phẩm → Giá trị 1 sản phẩm lúc này = 80/32 = 2.5 USD Tổng sản phẩm vẫn giữ nguyên Sở dĩ tổng giá trị không thay đổi vì theo đà phát triển của TB, năng suất lao động tăng lên làm giá trị hàng hóa , dịch vụ giảm xuống . Giá trị cá biệt của hàng hóa 1 khi nhỏ hơn giá trị xã hội sẽ làm phần thặng dư trội hơn giá trị thặng dư bình thường của xã hội – Gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch . Điều này giải thích vì sao nhà TB chấp nhận hạ giá sp. VD : 1 ngày 1 công nhân làm trong 8 giờ , tg lao động tất yếu = 4h , tg lao động thặng dư = 4h m’ = m/v = (tg lao động thặng dư) / (tg lao động tất yếu) . 100% = (4/4).100% = 100% tăng năng suất tức là giảm thời gian lao động tất yếu VD xuống còn 2h nên lúc này thời gian lao động thặng dư = 6h ( 6+2 = 8 ) m’ = m/v = (6/2).100% = 300% Do vậy tuy thời gian 1 ngày lao động = const nhưng tỷ suất thặng dư tăng nên giá trị thặng dư cũng tăng theo ( đây còn gọi là pp sản xuất giá trị thặng dư tương đối ) B ) Tăng cường độ lao động tức là kéo dài ngày lao động ra , theo logic , ngày lao động càng dài thì tiền lương tăng tức là giá trị 1 sản phảm cũng phải tăng để bù chi phí nhưng nhà TB bóc lột bằng cách vẫn giữ nguyên thời gian lao động tất yếu và chỉ tăng tg lao động thặng dư nên giá trị 1 sp vẫn giữ nguyên , cách làm này tất yếu sẽ làm hao tổn sức lực người lao động nên thường chỉ đc áp dụng trong giai đoạn đầu của CNTB ( pp sx GTTD tuyệt đối ) Lúc này kéo dài ngày với tỷ số 1,5 tức là sô lượng sản phẩm tăng lên : 80.1,5 =120sp Giá sp = const = 5 USD. Bài 2: Trong quá trình sản xuất sản phẩm, hao mòn thiết bị và máy móc là 100.000 đô la. Chi phí nguyên liệu, vật liệu và nhiên liệu là 300.000 đô la. Hãy xác định chi phí tư bản khả biến nếu biết rằng giá trị của 1 sản phẩm là 1.000000 đô la và trình độ bóc lột là 200%. Trả lời: 200.000 đô la. Theo công thức : W=c+v+m (1) W – Tổng giá trị sp C – Tư bản bất biến ( chi phí đầu tư nguyên vật liệu + hao mòn ) V – Tư bản khả biến ( tiền lương ) M – Giá trị thặng dư C = 300k + 100k = 400k USD m’ = (m/v).100% = 200% ↔ m/v = 2 lắp vào ( 1 ) Chú ý : m’ thể hiện trình độ bóc lột của TB 1000k = 400k + v + 2v ↔ 600k = 3v ↔ v = 200k (USD) Bài 3: Có 100 công nhân làm thuê, sản xuất 1 tháng được 12.500 đơn vị sản phẩm với chi phí tư bản bất biến là 250.000 đô la. Giá trị sức lao động 1 tháng của 1 công nhân là 250 đô la, m’ = 300%. Hãy xác định giá trị của 1 đơn vị sản phẩm và kết cấu của nó. Trả lời: 28 đô la; (20 c + 2v + 6m) CT : w = c + v + m (1) Đặt k là giá trị 1 sp ↔ Tổng giá trị sp = 12500k Lương/ tháng = 250 USD , có 100 CN ↔ v = 250.100 ( v – chi phí trả lương cho CN ) m’ = (m/v).100% = 300% ↔ m/v = 3 lắp vào (1) ta có : 12500k = 250,000 + 250.100 + 250.100.3 ↔ k = 28 Cách thiết lập kết cấu của 1 sp, chia 2 vế cho tổng số sp : ↔ w(1 sp) = 20c + 2v + 6m . Bài 4: Năm 1923, tiền lương trung bình của 1 công nhân công nghiệp chế biến ở Mỹ là 1.238 đô la/năm, còn giá trị thặng dư do 1 công nhân tạo ra là 2.134 đô la. Đến năm 1973, những chỉ tiêu trên tăng lên tương ứng là 1.520 đô la và 5.138 đô la. Hãy xác định trong những năm đó thời gian của người công nhân lao động cho mình và cho nhà tư bản thay đổi như thế nào, nếu ngày làm việc 8 giờ ? Trả lời: – Thời gian lao động cần thiết giảm từ 2,94 giờ xuống 1,83 giờ – Thời gian lao động thặng dư tăng từ 5,06 giờ lên 6,17 giờ Năm 1923 , tỷ lệ m/v = 2.134 / 1.238 = 1.72 (1) tỷ lệ trên cũng bằng tỷ lệ của thời gian lao động thặng dư / thời gian lao động thiết yếu ↔m+v=8 giải 1,2) , ta có (2) m = 5.06 (h) , v = 2.94 (h) Làm tương tự với năm 1973 , kết luận như phần đề bài Bài 5: Tư bản đầu tư 900. 000 đô la, trong đó bỏ vào tư liệu sản xuất là 780.000 đô la. Số công nhân làm thuê thu hút vào sản xuất là 400 người. Hãy xác định khối lượng giá trị mới do 1 công nhân tạo ra, biết rằng tỷ suất giá trị thặng dư là 200%. Trả lời: 900 đô la. Tỷ lệ m/v = 2 ↔ m = 2v TB khả biến = TB bỏ ra – TB bất biến = 900k – 780k = 120k ↔ v = 120k ↔ m = 240k ↔ ∑giá trị mới do CN làm ra = m + v = 360k USD 400 người sx ra 360k USD ↔ 1 người sx ra 900 USD Bài 6: Có 200 công nhân làm việc trong 1 nhà máy. Cứ 1 giờ lao động, 1 công nhân tạo ra lượng giá trị mới là 5 đô la, m’= 300%. Giá trị sức lao động mỗi ngày của 1 công nhân là 10 đô la. Hãy xác định độ dài của ngày lao động. Nếu giá trị sức lao động không đổi và trình độ bóc lột tăng lên 1/3 thì khối lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt trong 1 ngày tăng lên bao nhiêu? Trả lời: 8 giờ ; M tăng lên 2000 đô la.  Theo đề bài , giá trị sức lao động của mỗi công nhân trong 1 ngày là 10 $ m/v = 3 ↔ m = 3v ↔ thời gian lao động thiết yếu = ¼ ∑ thời gian lao động Lưu ý : ∑ thời gian lao động = tg lao động tất yếu + tg lao động thặng dư Đặt tổng giá trị 1 công nhân làm ra trong 1 ngày là b : ¼ b = 10 ↔ b = 40 $ Do cứ 1h 1 công nhân làm ra đc 5 $ nên tổng số giờ 1 ngày 1 CN phải làm là: 40/5 = 8h  Ta có M = m’.V với m’ = 3 , V = 200.10 = 2000 $ ( V – Tiền lương ) nếu tăng m’ lên 1/3 vậy M tăng 1 lượng = 1/3 . m’.V = 2000 $. Bài 7: Tư bản ứng ra 1.000000 đô la, trong đó 700.000 đô la bỏ vào máy móc và thiết bị, 200.000 đô la bỏ vào nguyên liệu, m’= 200%. Hãy xác định: Số lượng người lao động sẽ giảm xuống bao nhiêu % nếu: Khối lượng giá trị thặng dư không đổi, tiền lương công nhân không đổi, m’ tăng lên là 250%. Trả lời: 20% Tiền lương cho CN ( V ) = 1000k – 700k – 200k = 100k $ M = m’.V = 2.100k = 200k $ Khi m’ tăng lên 250% tức là tỷ lệ m/v = 2.5 Lúc này ta có M’ = 2.5.V’ Do M’ = M = const nên 2.5 V’ = 200k ↔ V’ = 80k Ta thấy V’ giảm từ 100k – 80k một lượng bằng 20k $, do tiền lương ko đổi nên số lượng người lao động sẽ giảm một lượng tỷ lệ tương ứng với tổng số tiền lương là 0.2.100% = 20 % Bài 8: Ngày làm việc 8 giờ, m’ = 300%. Sau đó nhà tư bản kéo dài ngày lao động lên 10 giờ. Trình độ bóc lột sức lao động trong xí nghiệp thay đổi như thế nào nếu giá trị sức lao động không đổi. Nhà tư bản tăng thêm giá trị thặng dư bằng phương pháp nào. Trả lời: m’ tăng đến 400% ; phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Đọc lại trong phần tổng hợp lý thuyết về pp sản xuất thặng dư tuyệt đối Bài 9: Có 400 công nhân làm thuê. Thoạt đầu ngày làm việc là 10 giờ, trong thời gian đó mỗi công nhân đã tạo ra giá trị mới là 30 đô la, m’ = 200%. Khối lượng và tỷ suất giá trị thặng dư ngày thay đổi như thế nào nếu ngày lao động giảm 1 giờ nhưng cường độ lao động tăng 50%, tiền lương vẫn giữ nguyên? Nhà tư bản tăng thêm giá trị thặng dư bằng phương pháp nào ? Trả lời: M tăng từ 8.000 đến 12.200 đô la ; m’ = 305% ; Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối. – 1 ngày lao động 10h , tổng giá trị 1 công nhân làm ra trong thời gian đó là 30$ nên lương làm trong 1 h = 30/10 = 3 $ Do m’ = 200% nên m/v = 2 ↔ thời gian lao động tất yếu = 1/3 tổng thời gian = 10/3 Theo đề bài : – Giảm 1h ngày lao động tức là còn 10 – 1 = 9h nhưng lại tăng tiếp 50% tức là phải làm trong 9 + 0,5.9 = 13.5h , tiền lương giữ nguyên tức là tg lao động tất yếu được giữ nguyên = 10/3 h – M = m’.V = 2 . 400 . 10/3 .3 = 8000 $ M’ = m”.V= ( 13.5-10/3 ) / ( 10/3 ) . 4000 = 12200 $ vậy khối lượng giá trị thặng dư M tăng từ 8000 – 12200 và m’ = 3.05 .100% = 305 % Bài 10: Ngày làm việc 8 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ. Sau đó, do tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng nên hàng hoá ở những ngành này rẻ hơn trước 2 lần. Trình độ bóc lột lao động thay đổi như thế nào, nếu độ dài ngày lao động không đổi? Dùng phương pháp bóc lột giá trị thặng dư nào? Trả lời: m’ tăng từ 100% lên 300% ; phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối. Tương tự bài 9 , đọc lại phần lý thuyết pp sx GTTD tương đối trong file lý thuyết Bài 11: Chi phí trung bình về tư bản bất biến cho 1 đơn vị hàng hoá trong 1 ngành là 90 đô la, chi phí tư bản khả biến là 10 đô la, m’ = 200%. Một nhà tư bản sản xuất trong 1 năm được 1000 đơn vị hàng hoá. Sau khi áp dụng kỹ thuật mới, năng suất lao động sống trong xí nghiệp của nhà tư bản đó tăng lên 2 lần. Số lượng hàng hoá sản xuất cũng tăng lên tương ứng. Tỷ suất giá trị thặng dư thay đổi như thế nào trong xí nghiệp của nhà tư bản đó so với tỷ suất giá trị thặng dư trung bình của ngành. Nhà tư bản trong năm thu được bao nhiêu giá trị thặng dư siêu ngạch? Trả lời: m’ tăng lên 500%, tổng m siêu ngạch là 30.000 đô la. Chú ý : Tỷ suất thặng dư trung bình tương ứng với m’ = 100 %  Do tăng năng suất nên đời sống lao động của công nhân tăng 2 lần ↔ Thời gian lao động thiết yếu giảm 2 lần Theo đề bài ta có m’ = 200% ↔ m/v = 2 TB khả biến ↔ v = 10 $ → m = 20 $ Do ngày công ko thay đổi ( m+v = const ) nên khi v giảm xuống còn 5 $ thì m tăng lên 25 $ → m’ (sau khi tăng năng suất) = m/v = 25/5 .100% = 500%  Nếu sản xuất với tỷ suất TB , m’ = 100% thì giá trị thặng dư (m) sẽ là 10 $ Khi sản xuất với điều kiện đề bài ra thì m = 25 $ Chênh lệch giữa GTTD mới này với GTTD TB = GTTD siêu ngạch = 15 $ Do sản lượng tăng theo tương ứng với năng suất nên lượng sản phẩm sản xuất được sẽ = 2.1000 = 2000 sp → m (siêu ngạch) = 2000.15 = 30000 $ Bài 12: Trước kia sức lao động bán theo giá trị. Sau đó tiền lương danh nghĩa tăng lên 2 lần, giá cả vật phẩm tiêu dùng tăng 60%, cò giá trị sức lao động do cường độ lao động tăng và ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, tình thần đã tăng 35%. Hãy tính tiền lương thực tế thật sự thay đổi như thế nào? Trả lời: 92,6% Pó tay nặn mãi mới ra , Hic : – tièn công tăng 2 lần va giá cả tăng 60% thì chỉ số tiền công thực tế là 200.100%/160=125% – giá trị sức lao động tăng 35% nên tiền công thực tế giảm xuống chỉ còn 125.100/135=92.6% so vơi lúc chưa tăng lương Bài 13: Tư bản ứng trước 600.000 đô la, c :v = 4 :1, m’ – 100%. Hỏi sau bao nhiêu năm trong điều kiện tái sản xuất giản đơn, tư bản đó được biến thành giá trị thặng dư tư bản hoá? Trả lời: sau 5 năm. Sản xuất với quy mô giản đơn tức là quy mô lần sau ko đổi so với lần sản xuất trước . Nhà TB chấm dứt chu trình này khi giá trị thặng dư bằng đúng với TB ứng trước , tức là = 600k $ Ta có : c/v = 4 , c + v = 600k $ nên v = 120k $ Do m/v = 1 nên m = 120k $ gọi n là số năm để tích lũy lượng GTTD = TB ứng trước Ta có : 120k . n = 600k → n = 5 năm Chú ý : chỉ khi số tiền thặng dư tích lũy đc qua một số quá trình tái sản xuất đơn giản nhất định bằng với TB ứng trước thì sau đó , TB mới bắt đầu TB hóa GTTD tức là bắt đầu chơi kiểu bóc lột theo pp tuyệt đối & tương đối Bài 14: Khi tổ chức sản xuất, nhà tư bản kinh doanh ứng trước 50 triệu đô la, trong điều kiện cấu tạo hữu cơ của tư bản là 9 :1. Hãy tính tỷ suất tích luỹ, nếu biết rằng mỗi năm 2,25 triệu đô la giá trị thặng dư biến thành tư bản và trình độ bóc lột là 300%. Trả lời: 15% Tương tự Bài 13 , ta tính đc v = 5tr $ , do m’ = 300% nên m = 3v = 15tr $ Do TB trích ra từ 15 tr này 2.25 tr để tiếp tục đầu tư vào sx cho lần tái sx sau ( hay phục vụ TB ), phần còn lại TB dùng để tiêu dùng (đầu tư chỗ khác , mua quần áo, xe máy v.v .) nên : Tỷ suất tích lũy = 2,25/15 .100% = 15 % Bài 15: Tư bản ứng trước là 100.000 đô la, c :v = 4 :1, m’ = 100%, 50% giá trị thặng dư được tư bản hoá. Hãy xác định lượng giá trị thăng dư tư bản hoá tăng lên bao nhiêu, nếu trình độ bóc lột tăng đến 300%. Trả lời: Tăng 20.000 đô la Bài 16: Tư bản ứng trước là 1.000000 đô la, c : v là 4 :1. Số công nhân làm thuê là 2.000 người. Sau đó tư bản tăng lên 1.800000 đô la, cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên là 9 :1. Hỏi nhu cầu sức lao động thay đổi như thế nào, nếu tiền lương của mỗi công nhân không thay đổi. Trả lời: giảm 200 người. Tương tư các bài trước ta tính được v1 = 200000, v2 = 180000 v1 tương ứng với 2000 công nhân nên v2 tương ứng với 1800 công nhân → giảm 200 người Bài 17: Tư bản ứng trước 500.000 đô la. Trong đó bỏ vào nhà xưởng 200.000 đô la, máy móc, thiết bị là 100.000 đô la. Giá trị của nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu phụ gấp 3 lần giá trị sức lao động. Hãy xác định tổng số: tư bản cố định, tư bản lưu động, tư bản bất biến, tư bản khả biến. Trả lời: Tổng số tư bản cố định là 300.000 đô la ; Tổng số tư bản lưu động là 200.000 đô la Tổng số tư bản bất biến là 450.000 đô la ; Tổng số tư bản khả biến là 50.000 đô la. Lý thuyết TB lưu động = Giá trị nguyên , nhiên , vật liệu + tiền lương TB cố định = Hao mòn máy móc , thiết bị TB bất biến = c (hao mòn + tiền mua nguyên nhiên vật liêu) TB khả biến = v (tiền lương) Bài 18: Toàn bộ tư bản ứng trước là 6 triệu đô la, trong đó giá trị nguyên vật liệu là 1,2 triệu đô la, nhiên liệu, điện là 200.000 đô la, tiền lương 600.000 đô la. Giá trị máy móc và thiết bị sản xuất gấp 3 lần giá trị nhà xưởng và công trình. Thời gian hao mòn hoàn toàn của chúng là 10 và 25 năm. Hãy tính tổng số tiền khấu hao sau 8 năm. Trả lời: 2,72 triệu đô la. Tiền mua máy moc + thuê nhà xưởng = 6tr – 1,2tr – 0.2tr – 0.6tr = 4tr Do tỉ lệ là 3 : 1 nên : – Tiền mua máy móc = 3 tr $ Hao mòn hết trong 10 năm – Tiền thuê nhà xưởng = 1 tr $ Hao mòn hết trong 25 năm Trong 8 năm : – Máy móc hao mòn hết 3/10 . 8 = 2,4 tr $ – Nhà xưởng = 1/25 . 8 = 0,32 tr $ Tổng cộng hao mòn hết 2,72 $ Bài 19: Một cỗ máy có giá trị 600.000 đô la, dự tính hao mòn hữu hình trong 15 năm. Nhưng qua 4 năm hoạt động giá trị của các máy mới tương tự đã giảm đi 25 %. Hãy xác định sự tổn thất do hao mòn vô hình của cỗ máy đó. Trả lời: 110.000 đô la. Hao mòn hữu hình trong 1 năm là 600000/15 = 40000 $ Sau 4 năm giá trị của cái máy đó dự tính sẽ giảm đi 1 lượng = 40000.4=160000 $ Vậy giá trị hoạt động của cái máy này còn sau 4 năm là 600k – 160k = 440k $ Do hao mòn vô hình là 25% trong 4 năm nên lượng hao mòn vô hình là 0,25.440k = 110k $ Bài 20: Tư bản ứng trước là 3,5 triệu đô la, trong đó tư bản cố định là 2,5 triệu đô la, tư bản khả biến là 200.000 đô la. Tư bản cố định hao mòn trung bình trong 12,5 năm, nguyên nhiên vật liệu 2 tháng mua 1 lần, tư bản khả biến quay 1 năm 10 lần. Hãy xác định tốc độ chu chuyển của tư bản. Trả lời: 0,5 năm. TBCD hao mòn trong một năm là 2,5/12.5 = 0.2tr TBKB chu chuyển trong năm = 200k * 10 = 2tr LƯợng NVL chu chuyển trong năm là (3,5-2,5-0,2)*(12/2)=4,8tr Tổng tư bản chu chuyển trong năm = 0.2+ 2 + 4.8 = 7tr Tốc độ = 3,5/7 = 0.5 năm/vòng Tốc độ chu chuyển = TB ứng trước / TB chu chuyển Bài 21: Giả sử giá trị của nhà xưởng, công trình sản xuất là 300.000 đô la. Công cụ, máy móc, thiết bị là 800.000 đô la, thời hạn sử dụng trung bình của chúng là 15 năm và 10 năm. Chi phí 1 lần về nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu là 100.000 đô la, còn về sức lao động là 50.000 đô la. Mỗi tháng mua nguyên nhiên vật liệu 1 lần và trả tiền thuê công nhân 2 lần. Hãy tính : a. Thời gian chu chuyển của tư bản cố định b. Thời gian chu chuyển của tư bản lưu động. c. Thời gian chu chuyển trung bình của toàn bộ tư bản ứng trước. Trả lời: 11 năm; 22,5 ngày; 6 tháng. a ) TBCD Hao mòn trong 1 năm = 300000/15 + 800000/10 = 100000 $ Tg chu chuyển là ( 300k + 800k ) / 100k = 11 năm b ) Tương tự ta ra 0,625.365 = 22,5 ngày c ) Tương tự = ( 1100k + 150k ) / ( 100k + 2400k ) .365 = 180 ngày = 6 tháng Bài 22: Tư bản ứng trước là 500.000 đô la. Cấu tạo hữu cơ của tư bản là 9 :1. Tư bản bất biến hao mòn dần trong 1 chu kỳ sản xuất là 1 năm, tư bản khả biến quay 1 năm 12 vòng, mỗi vòng tạo ra 100.000 đô la giá trị thặng dư. Hãy xác định khối lượng giá trị thặng dư và tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm. Trả lời: M = 1,2 triệu đô la ; m’ = 2.400% Tương tự các bài trên , ta có 12 lần trong năm quay đc 100000 $ GTTD vậy Tổng Klg GTTD = 12.100000 = 1,2 tr $ Ta tính ra đc v = 50k $ vậy m’ = 1,2 tr / 50k .100% = 2400% Bài 23: Tư bản ứng trước của khu vực I là 100 tỷ đô la, của khu vực II là 42,5 tỷ đô la. c :v và m’ của cả 2 khu vực như nhau là 4 :1 và 200%. Ở khu vực I, 70% giá trị thặng dư được tư bản hoá. Hãy xác định lượng giá trị thặng dư mà khu vực II cần phải bỏ vào tích luỹ cuối chu kỳ sản xuất. Biết rằng cấu tạo hữu cơ của tư bản trong xã hội không thay đổi. Trả lời: 4,5 tỷ đô la ( Bài này hơi khoai , Hic ) Theo đề bài ta xây dựng được công thức CT hữu cơ của KV I là = 80c + 20v + 40m Do tích ra 70% m = 28 tỷ $ , nên TB còn 12 tỷ $ , 28 tỷ $ tích ra đc chia theo tỷ lệ c : v = 4:1 nên sau khi hết 1 chu kỳ , CTHC mới là 102,4c + 25,6v + 12m – Nhu cầu tích lũy của khu vực I ở chu kỳ tiếp theo là 12 + 25,6 = 37,6 tỷ $ (do quy mô sẽ được mở rộng hơn nên tích lũy phải cao dần lên ) Cấu tạo hữu cơ của KV II : 34c + 8,5c + 17m – Theo đà tích lũy của KV I , khu vực II sẽ phải tích lũy 1 lượng c = 37,6 – 34 = 3,6 tỷ $ . do tỷ lệ hữu cơ = const = 4 : 1 nên v = 3,6 /4 = 0,9 Vậy khu vực II phải tích lũy 1 lượng ( c+v) = 4,5 tỷ $ Bài 24: Tư bản ứng trước trong khu vực II là 25 tỷ đô la, theo cấu tạo hữu cơ của tư bản là 4 :1, cuối năm số giá trị thặng dư tư bản hoá là 2,4 tỷ đô la với c :v = 5 :1. Ở khu vực I, chi phí cho tư bản khả biến là 10 tỷ đô la. Giá trị tổng sản phẩm xã hội là 115 tỷ đô la, trong đó giá trị sản phẩm của khu vực II là 35 tỷ đô la. Tỷ suất giá trị thặng dư ở cả 2 khu vực như nhau là 200%. Xác định tỷ suất tích luỹ ở khu vực I, biết rằng việc biến giá trị thặng dư thành tư bản ở đây xảy ra với c :v = 8 :1 Trả lời: 45 % Làm giống Bài 23 nhưng đi ngược từ dưới lên , nó cho KV II , rồi bắt tính ngược lên KV I Bài 25 :Trình độ bóc lột là 200% và cấu tạo hữu cơ của tư bản là 7 :1. Trong giá trị hàng hoá có 8.000 đô la giá trị thặng dư. Với điều kiện tư bản bất biến hao mòn hoàn toàn trong 1 chu kỳ sản xuất. Hãy xác định: chi phí sản xuất tư bản và giá trị hàng hoá đó. Trả lời: 32.000 đô la ; 40.000 đô la Do m = 8000 $ mà m = 2v nên v = 4000 $ , do v = 1/8 TB ứng trước nên TBUT = 32000 $ Giá trị hàng hóa = c + v + m = 40000 $ Bài 26: Có số tư bản là 100.000 đô la, với cấu tạp hữu cơ của tư bản là 4 :1. Qua 1 thời gian, tư bản đã tăng lên 300.000 đô la và cấu tạo hữu cơ tăng lên là 9 :1. Tính sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận nếu trình độ bóc lột công nhân trong thời kỳ này tăng từ 100% lên 150%. Vì sao tỷ suất lợi nhuận giảm xuống mặc dù trình độ bóc lột tăng lên. Trả lời: Giảm từ 20% xuống 15%; do ảnh hưởng của cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên. Chú ý : Tỷ suất lợi nhuận = m / ( c+v ) , áp dụng CT ở 2 thời điểm m’ = 100% & m’ = 150 % rồi theo tỷ lệ mà tính ra m , c , v sau đó suy ra tỷ suất lợi nhuận Bài 27:Tổng số tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp là 800 đơn vị, với tỷ suất lợi nhuận bình quân là 15%, lợi nhuận thương nghiệp là 108 đơn vị. Các nhà tư bản thương nghiệp cần phải mua và bán sản phẩm theo giá bao nhiêu để họ và các nhà tư bản công nghiệp thu được lợi nhuận bình quân? Trả lời: 828 và 840 đơn vị. Ta có TB Công nghiệp ứng ra là 108/0,15 = 720 đv , vậy 80 đv là của TB thương nghiệp ứng ra Vậy để cả 2 nhà TB Công nghiệp và Thương nghiệp đều thu được lợi nhuận bình quân thì: TB thương nghiệp sẽ phải mua hàng hóa với giá 720 + 108 = 828 đv TB thương nghiệp sẽ phải bán hàng hóa với giá 828 + 80.0,15 = 840 đv Bài 28: Tổng tư bản hoạt động sản xuất là 500 tỷ đô la, trong đó 200 tỷ là vốn đi vay. Hãy xác định tổng số thu nhập của các nhà tư bản công nghiệp và lợi tức của các nhà tư bản cho vay, nếu tỷ suất lợi nhuận bình quân là 12% và tỷ suất lợi tức tiền vay là 3% cả năm. Trả lời: 54 tỷ đô la và 6 tỷ đô la. Lợi nhuận thu được = 0,12 .500 = 60 tỷ $ Nợ lại phải trả là 0,03.200 = 6 tỷ $ TB thu được 60 – 6 = 54 tỷ $ Phiếu bài tập lần 2 Bài 1 Để tái sản xuất sức lao động, cần phải có những vật phẩm tiêu dùng sau đây a, Thức ăn và đồ uống: 10 USD/ngày b, Đồ dùng gia đình: 200 USD/năm c, Quần áo giày dép: 600 USD/năm d, Những đồ dùng lâu bền: 9.000 USD/10 năm e, Đáp ứng các nhu cầu văn hóa: 30 USD/tháng f, Chi phí đào tạo, nâng cao trình độ: 100 USD/năm Hãy xác định giá trị sức lao động trong 1 ngày. Đáp án: 10USD Bài 2: Trong quá trình sản xuất sản phẩm, hao mòn thiết bị máy móc là 100.000 USD; chi phí nguyên, nhiên vật liệu là 300.000 USD. Hãy xác định chi phí tư bản khả biến nếu biết rằng giá trị sản phẩm là 1 triệu USD và trình độ bóc lột là 200%. Đáp án: V = 200.000USD Bài 3: Tư bản đầu tư là 10 triệu USD, trong đó bỏ vào tư liệu sản xuất là 8 triệu USD. Số công nhân làm thuê thu hút vào sản xuất là 10.000 người. Hãy tính m’, biết rằng lượng giá trị mới do 1 công nhân tạo ra là 600 USD. Đáp án: m’ = 200%. Bài 4: Trong điều kiện trả đúng giá trị sức lao động, tiền công hàng ngày của 1 công nhân là 12 USD, trình độ bóc lột là 100%. Sau một thời gian, năng suất lao động xã hội tăng lên 2 lần, nên giá trị vật phẩm tiêu dùng giảm xuống 2 lần. Trong thời gian đó, năng suất lao động khai thác vàng tăng lên 3 lần, do đó gây ra sự tăng tương ứng của giá cả hàng hóa. Do cuộc đấu tranh đòi tăng lương của người công nhân, tiền công hàng ngày được nâng lên là 16 USD. Tỷ suất giá trị thặng dư thay đổi như thế nào? Bài giải: Khi NSLĐ chưa tăng, thì giá trị mới là: V + m = 12 + 12 = 24USD (vì trình độ bóc lột là 100% nên m = v = 12 USD). Khi NSLĐ tăng lên 2 lần, thì giá trị sức lao động giảm đi ½, còn tổng giá trị mới không thay đổi. Khi NSLĐ khai thác vàng tăng 3 lần, thì giá cả hàng hóa tăng lên 3 lần, do đó, tổng giá trị mới biểu hiện bằng tiền cũng tăng lên 3 lần: 24 x 3 = 72USD Tiền công lúc này là 16USD, nên giá trị thặng dư là: 72 – 16 = 56USD Trình độ bóc lột lúc này là: m’ = m/v x 100% = 56/15 x 100% = 350% Vậy, trình độ bóc lột tăng từ 100% lên 350%. Bài 5: Một nhà Tư bản công nghiệp đầu tư 2.000.000 USD vào sản xuất, trong đó đầu tư cho Tư liệu sản xuất là 1.500.000 USD. Số công nhân làm thuê thu hút vào sản xuất là 1.000 người. Giả sử chu kỳ sản xuất là 1 năm. A, Tính tỉ suất giá trị thặng dư, biết rằng lượng giá trị mới do một công nhân tạo ra là 1.000 USD. (1 điểm) B, Hết năm sản xuất thứ nhất, nhà tư bản thực hiện tích lũy tư bản với tỉ suất tích lũy là 80%. Tỉ suất lợi nhuận của nhà tư bản này ở năm thứ 2 thay đổi như thế nào, nếu cấu tạo hữu cơ mới của tư bản là 5/1. (2 điểm) C, Giả sử sang năm sản xuất thứ hai, nhà tư bản công nghiệp chỉ tập trung vào sản xuất. Nhà tư bản thương nghiệp đầu tư 600.000 USD vào việc kinh doanh hàng hóa cho nhà tư bản công nghiệp. Tỉ suất lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp thay đổi như thế nào? (2 điểm) Bài giải: a, Vì K = C + V = 2.000.000$, mà c = 1.500.000$ nên suy ra V = 500.000$ V = v * x, x = 1.000 nên ta có tiền công của mỗi công nhân là v = V : x = 500.000 : 1.000 = 500$/năm Lượng giá trị mới do một công nhân tạo ra là v + m = 1.000$ Do đó, khối lượng giá trị thặng dư mà một công nhân tạo ra là: 1.000$ – 500$ = 500$ Vậy, tỉ suất giá trị thặng dư là: m’ = m/v * 100% = 500/500 x 100% = 100% b, Khối lượng giá trị thặng dư mà như tư bản thu được ở năm sản xuất thứ nhất là: M = m x x = 500$ x 1.000 = 500.000$ (hoặc M = V x m’ = 500.000$ * 100% = 500.000$) Vì tỷ suất tích lũy là 50% nên ta có quỹ tích lũy của nhà tư bản là: M1 = M x 80% = 500.000$ x 80% = 400.000$ Vậy, qui mô sản xuất năm thứ 2 là K + M1 = 2.000.000 + 400.000 = 2.400.000$ Do cấu tạo hữu cơ mới của tư bản là 5/1 nên qui mô sản xuất năm thứ 2 được phân bổ như sau: 2.000.000 c + 400.000 v Trình độ bóc lột của nhà tư bản ở năm sản xuất thứ hai không thay đổi nên M mà nhà tư bản thu được ở năm sản xuất thứ hai là: m’ = M/V * 100% = 100% nên M = V = 400.000$ Tỷ suất lợi nhuận năm sản xuất thứ hai là: P’ = M/K * 100% = 400.000$/2.400.000% *100% = 16,67% Trong khi, tỷ suất lợi nhuận năm sản xuất thứ nhất là: P’ = 500.000$/2.000.000$ * 100% = 25% Như vậy, tỷ suất lợi nhuận năm thứ 2 giảm so với năm thứ nhất là: 25% – 16,67% = 8,33% Nguyên nhân là do cấu tạo hữu cơ của tư bản đã tăng từ 4/1 ở năm sản xuất thứ nhất lên 5/1 trong năm sản xuất thứ 2. c, Ta có KTN = 600.000$ Vậy K = KCN + KTN = 2.400.000$ + 600.000$ = 3.000.000 Đo đó, nhà tư bản sẽ được hưởng tỷ suất lợi nhuận bình quân là: P’bình quân = ∑M/∑K = 400.000$/3.000.000$ = 13,33% Như vậy, tỷ suất lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp giảm là: 16,67% – 13,33% = 3,34% Bài 6: Một nhà tư bản công nghiệp đầu tư 1.000.0000 USD cho sản xuất. Cấu tạo hữu cơ của tư bản là 4/1. Trình độ bóc lột của nhà tư bản là 100%. Giả sử chu kỳ sản xuất là 1 năm. A, Trong điều kiện nhà tư bản thực hiện tích lũy tư bản ở cuối năm sản xuất thứ nhất với tỷ suất tích lũy là 50% và cấu tạo hữu cơ của tư bản phụ thêm là 3/2, các điều kiện khác không đổi Tính khối lượng giá trị thặng dư và tỉ suất lợi nhuận mà nhà tư bản thu được ở năm sản xuất thứ 2? (2,5 điểm) B, Hết năm thứ 2, nhà tư bản tiếp tục thực hiện tích lũy với tỉ suất tích lũy như cũ và với cấu tạo hữu cơ của tư bản phụ thêm là 5/1. Khối lượng giá trị thặng dư và tỉ suất lợi nhuận của năm thứ 3 thay đổi như thế nào? (2,5 điểm) Đáp án Trên cơ sở nắm được lý thuyết về quá trình sản xuất giá trị thặng dư, cấu tạo hữu cơ của tư bản, tích lũy tư bản và nghiên cứu cách giải bài tập 1, chúng ta có đáp án của bài 6 như sau: A, M = 240.000$, P’= 21,82% B, M = 260.000$, P’= 21,31%. Bài 7: Giả sử nền sản xuất xã hội gồm 3 ngành sản xuất: Ngành 1: 800.000c + 200.000v + 200.000m Ngành 2: 2.500.000c + 500.000v + 1.000.000m Ngành 3: 3.200.000c + 800.000v + 800.000m A, Tính tỉ suất lợi nhuận bình quân? (1 điểm) B, Tính lợi nhuận bình quân mỗi ngành trên thu được, trong điều kiện trình độ bóc lột của ngành 1 tăng lên đạt mức 200% và cấu tạo hữu cơ của ngành 3 là 7/1? (2 điểm) C, Hết năm sản xuất thứ nhất, ngành 1 thực hiện tích lũy với tỉ suất là 50%. Ngành 2 cũng thực hiện tích lích với tỉ suất là 60% và với cấu tạo hữu cơ mới của tư bản ngành 2 là 8/1. Tính tỷ suất lợi nhuận bình quân của năm sản xuất tiếp theo? (2 điểm) Đáp án: a, P’bình quân = 25% b, P bình quân của ngành 1 thu được là 237.500$ P bình quân của ngành 2 thu được là 712.500$ P bình quân của ngành 3 thu được là 950.000$ c, Tỷ suất lợi nhuận bình quân ở năm sản xuất thứ 2 là: 20,23% Bài 8: 4 doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất và cung ứng 1 loại hàng hóa trên thị trường. Trong đó: Doanh nghiệp 1 có sản lượng là 200.000 sản phẩm, với hao phí lao động cá biệt là 5h/sp Doanh nghiệp 2 có sản lượng là 1.000.000 sản phẩm, với hao phí lao động cá biệt là 4h/sp Doanh nghiệp 3 có sản lượng là 500.000 sản phẩm, với hao phí lao động cá biệt là 3h/sp Doanh nghiệp 4 có sản lượng là 300.000 sản phẩm, với hao phí lao động cá biệt là 2h/sp A, Tính giá trị của hàng hóa đó? B, Giá trị hàng hóa đó thay đổi thế nào nếu năng suất lao động của Doanh nghiệp 2 tăng 2 lần? C, Tính giá trị của hàng hóa khi cường độ lao động của Doanh nghiệp 3 tăng 1,5 lần? D, Khi cường độ lao động của Doanh nghiệp 1 tăng 1,5 lần và cùng lúc đó năng suất lao động của Doanh nghiệp 4 tăng 2 lần, giá trị của hàng hóa thay đổi như thế nào? Đáp án: Trên cơ sở nắm được lý thuyết về thước đo lượng giá trị hàng hóa, tác động của NSLĐ và CĐLĐ đến sản lượng và giá trị của một đơn vị hàng hóa ta sẽ giải được bài tập và có đáp án như sau: a, Giá trị của hàng hóa đó được tính theo thời gian lao động xã hội cần thiết = 3,55 (h) b, Giá trị của hàng hóa là 2,37 (h) c, Giá trị của hàng hóa là 3,49 (h) d, Giá trị của hàng hóa đó là 3,17 (h) Hướng dẫn giải Bài 1 : 16 sản phẩm = 80 USD ↔ giá trị 1 sản phẩm = 80/16 = 5 USD A ) Tăng năng suất chỉ làm tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1 khung thời gian nhất định chứ ko làm tăng tổng giá trị , vì vây lúc này 8h sẽ sản xuất đc 32 sản phẩm → Giá trị 1 sản phẩm lúc này = 80/32 = 2.5 USD Tổng sản phẩm vẫn giữ nguyên Sở dĩ tổng giá trị không thay đổi vì theo đà phát triển của TB, năng suất lao động tăng lên làm giá trị hàng hóa , dịch vụ giảm xuống . Giá trị cá biệt của hàng hóa 1 khi nhỏ hơn giá trị xã hội sẽ làm phần thặng dư trội hơn giá trị thặng dư bình thường của xã hội – Gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch . Điều này giải thích vì sao nhà TB chấp nhận hạ giá sp. VD : 1 ngày 1 công nhân làm trong 8 giờ , tg lao động tất yếu = 4h , tg lao động thặng dư = 4h m’ = m/v = (tg lao động thặng dư) / (tg lao động tất yếu) . 100% = (4/4).100% = 100% tăng năng suất tức là giảm thời gian lao động tất yếu VD xuống còn 2h nên lúc này thời gian lao động thặng dư = 6h ( 6+2 = 8 ) m’ = m/v = (6/2).100% = 300% Do vậy tuy thời gian 1 ngày lao động = const nhưng tỷ suất thặng dư tăng nên giá trị thặng dư cũng tăng theo ( đây còn gọi là pp sản xuất giá trị thặng dư tương đối ) B ) Tăng cường độ lao động tức là kéo dài ngày lao động ra , theo logic , ngày lao động càng dài thì tiền lương tăng tức là giá trị 1 sản phảm cũng phải tăng để bù chi phí nhưng nhà TB bóc lột bằng cách vẫn giữ nguyên thời gian lao động tất yếu và chỉ tăng tg lao động thặng dư nên giá trị 1 sp vẫn giữ nguyên , cách làm này tất yếu sẽ làm hao tổn sức lực người lao động nên thường chỉ đc áp dụng trong giai đoạn đầu của CNTB ( pp sx GTTD tuyệt đối ) Lúc này kéo dài ngày với tỷ số 1,5 tức là sô lượng sản phẩm tăng lên : 80.1,5 =120sp Giá sp = const = 5 USD. Bài 2 : Theo công thức : W=c+v+m (1) W – Tổng giá trị sp C – Tư bản bất biến ( chi phí đầu tư nguyên vật liệu + hao mòn ) V – Tư bản khả biến ( tiền lương ) M – Giá trị thặng dư C = 300k + 100k = 400k USD m’ = (m/v).100% = 200% ↔ m/v = 2 lắp vào ( 1 ) Chú ý : m’ thể hiện trình độ bóc lột của TB 1000k = 400k + v + 2v ↔ 600k = 3v ↔ v = 200k (USD) Bài 3 : CT : w = c + v + m (1) Đặt k là giá trị 1 sp ↔ Tổng giá trị sp = 12500k Lương/ tháng = 250 USD , có 100 CN ↔ v = 250.100 ( v – chi phí trả lương cho CN ) m’ = (m/v).100% = 300% ↔ m/v = 3 lắp vào (1) ta có : 12500k = 250,000 + 250.100 + 250.100.3 ↔ k = 28 Cách thiết lập kết cấu của 1 sp, chia 2 vế cho tổng số sp : ↔ w(1 sp) = 20c + 2v + 6m . Bài 4 : Năm 1923 , tỷ lệ m/v = 2.134 / 1.238 = 1.72 (1) tỷ lệ trên cũng bằng tỷ lệ của thời gian lao động thặng dư / thời gian lao động thiết yếu ↔ m + v = 8 (2) giải 1,2) , ta có m = 5.06 (h) , v = 2.94 (h) Làm tương tự với năm 1973 , kết luận như phần đề bài Bài 5 : Tỷ lệ m/v = 2 ↔ m = 2v TB khả biến = TB bỏ ra – TB bất biến = 900k – 780k = 120k ↔ v = 120k ↔ m = 240k ↔ ∑giá trị mới do CN làm ra = m + v = 360k USD 400 người sx ra 360k USD ↔ 1 người sx ra 900 USD Bài 6 :  Theo đề bài , giá trị sức lao động của mỗi công nhân trong 1 ngày là 10 $ m/v = 3 ↔ m = 3v ↔ thời gian lao động thiết yếu = ¼ ∑ thời gian lao động Lưu ý : ∑ thời gian lao động = tg lao động tất yếu + tg lao động thặng dư Đặt tổng giá trị 1 công nhân làm ra trong 1 ngày là b : ¼ b = 10 ↔ b = 40 $ Do cứ 1h 1 công nhân làm ra đc 5 $ nên tổng số giờ 1 ngày 1 CN phải làm là: 40/5 = 8h  Ta có M = m’.V với m’ = 3 , V = 200.10 = 2000 $ ( V – Tiền lương ) nếu tăng m’ lên 1/3 vậy M tăng 1 lượng = 1/3 . m’.V = 2000 $. Bài 7 : Tiền lương cho CN ( V ) = 1000k – 700k – 200k = 100k $ M = m’.V = 2.100k = 200k $ Khi m’ tăng lên 250% tức là tỷ lệ m/v = 2.5 Lúc này ta có M’ = 2.5.V’ Do M’ = M = const nên 2.5 V’ = 200k ↔ V’ = 80k Ta thấy V’ giảm từ 100k – 80k một lượng bằng 20k $, do tiền lương ko đổi nên số lượng người lao động sẽ giảm một lượng tỷ lệ tương ứng với tổng số tiền lương là 0.2.100% = 20 % Bài 8 : Đọc lại trong phần tổng hợp lý thuyết về pp sản xuất thặng dư tuyệt đối Bài 9 :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Bài Tập Tiếng Anh Mai Lan Hương 7 Unit 1
  • Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 1
  • Hướng Dẫn Giải Bài Tập Toán Kinh Tế (Xb Năm 2010)
  • Phương Pháp Giải Một Số Bài Toán Về Toàn Mạch Ví Dụ Và Bài Tập
  • Lý Thuyết Mạch Và Bài Tập Có Lời Giải
  • Giải Bài Tập Triết 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 4
  • Bài Tập Và Bài Giải Chương 4 : Tổng Hợp Và Cân Đối Kế Toán
  • Bài Tập Và Bài Giải Chương 6 : Kế Toán Các Quá Trình Kinh Doanh Chủ Yếu
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Nguyên Lý Kế Toán Có Đáp Án
  • Bài Giải Nguyên Lý Thống Kê
  • Giải Bài Tập Triết 2, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao Gồm Mấy Giai Đo, Triết Học, Triết, Triết Học Cao Học, Triết 2, Đề Triết 1, Triết Học Sau Đại Học, 30 Câu Hỏi Triết Học, Triết Học ấn Độ, Triết Học Là Gì, Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học, Triết Học Lớp 12, Triết 1, Triết Học Hỏi Và Đáp, Triết Học Hỏi Va, 70 Độ Minh Triết, Vận Dụng Triết Học, 3 Nguyên Lý Triết Học, Triết Lý Giáo Dục, ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1, 3 Nguyên Lý Cơ Bản Của Triết Học, Chuên Đề Triết Học, Đề Cương Triết Học, Đáp án 30 Câu Triết Phần 1, Lịch Sử Triết Học Ii, Triết Học Và Con Người, Đề Cương Triết 2, Triết Học Platon, Hỏi Đáp Triết Học Mác Lênin, Triết Học Phương Tây, Tài Liệu ôn Tập Triết 2, Đề Cương Triết 1, Quá Trình Ra Đời Của Triết Học, Quá Trình Ra Đời Của Triết Học Mác, Triết Học Nâng Cao, Đề Cương Triết 3, Báo Cáo Kết Quả Xử Lý ô Nhiễm Triệt Để, Câu Hỏi Tự Luận Triết Học, Cần Một Triết Lý Mới Cho Giáo Dục Đại Học, Bài Thu Hoạch Triết Học, Kỷ Yếu Hội Thảo Triết Học, Một Số Vấn Đề Về Triết Lý Giáo Dục, Triết Học ứng Dụng Vào Văn Học, Sách Triết Học, Luận án Triết Học, Triết Học Mác Lênin, 78 Độ Minh Triết Pdf, 130 Bài Mẫu Luận Văn Triết Học, 78 Độ Minh Triết, Triết Học Ngôn Ngữ, Lịch Sử Triết Học, Đề Cương Triết, Lý Luận Triết Học, Lịch Sử Triết Học Phương Tây Pdf, Triết Học Mác – Lê-nin: Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản, Luận Văn Tốt Nghiệp Triết Học, Một Số Bài Tiểu Luận Triết Học, Một Bài Tiểu Luận Triết Học, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Triết Học, Mẫu Bài Tiểu Luận Triết Học, Triết Học Mác-lênin – Tài Liệu Học Tập, Tài Liệu ôn Thi Triết Học Mác Lênin 2, Luận án Tiến Sĩ Triết Học Pdf, Luận án Tiến Sĩ Triết Học, Tiểu Luận Triết Học Cao Học, Sách 78 Độ Minh Triết, Chủ Nghĩa Mác Và Triết Học Ngôn Ngữ, Quan Triết Noi Dung , Lich Su Triet Hoc Phuong Tay, Giáo Trình Triết Học Sau Đại Học, Giáo Trình Triết Học, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Triết 2 Có Đáp án, Tiểu Luận Môn Triết Học, Dàn ý Tiểu Luận Triết Học, Tiểu Luận Triết 1, Bảy Mươi Tám Độ Linh Triết, Bảy Mươi Tám Độ Minh Triết, Đề Cương Quán Triệt Nq Tw 8, Tiểu Luận Triết 2, Kỷ Yếu Triết Học Phương Tây Hậu Hiện Đại, Triết Học Với Khoa Học Tự Nhiên, Triết Học Vấn Đề Chủ Thể Học Sinh Trong Dạy Học, Triết Học Pháp Luật, Đề Thi Trắc Nghiệm Triết 2, Vai Trò Của Triết Học Đối Với Đời Sống Con Người, Bài Tiểu Luận Triết Học Mẫu, 78 Độ Minh Triết Tarot, 78 Độ Minh Triết Tarot Pdf, Tiểu Luận Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học, Giáo Trình Triết Học Sau Đại Học- Pgs- Ts Lê Hứu ái, Định Nghĩa Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học, Khái Niệm Là Gì Triết Học, 300 Bài Tiểu Luận Triết Học, Bản Chất Nhân Văn Của Triết Học Mác, Đề Thi Trắc Nghiệm Triết Học, Bài Tiểu Luận Triết Học, Bài Tiểu Luận Triết 2, Bài Thuyết Trình Triết 2, Tiểu Luận Triết Học An Độ,

    Giải Bài Tập Triết 2, Quá Trình Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác – Lênin Bao Gồm Mấy Giai Đo, Triết Học, Triết, Triết Học Cao Học, Triết 2, Đề Triết 1, Triết Học Sau Đại Học, 30 Câu Hỏi Triết Học, Triết Học ấn Độ, Triết Học Là Gì, Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học, Triết Học Lớp 12, Triết 1, Triết Học Hỏi Và Đáp, Triết Học Hỏi Va, 70 Độ Minh Triết, Vận Dụng Triết Học, 3 Nguyên Lý Triết Học, Triết Lý Giáo Dục, ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1, 3 Nguyên Lý Cơ Bản Của Triết Học, Chuên Đề Triết Học, Đề Cương Triết Học, Đáp án 30 Câu Triết Phần 1, Lịch Sử Triết Học Ii, Triết Học Và Con Người, Đề Cương Triết 2, Triết Học Platon, Hỏi Đáp Triết Học Mác Lênin, Triết Học Phương Tây, Tài Liệu ôn Tập Triết 2, Đề Cương Triết 1, Quá Trình Ra Đời Của Triết Học, Quá Trình Ra Đời Của Triết Học Mác, Triết Học Nâng Cao, Đề Cương Triết 3, Báo Cáo Kết Quả Xử Lý ô Nhiễm Triệt Để, Câu Hỏi Tự Luận Triết Học, Cần Một Triết Lý Mới Cho Giáo Dục Đại Học, Bài Thu Hoạch Triết Học, Kỷ Yếu Hội Thảo Triết Học, Một Số Vấn Đề Về Triết Lý Giáo Dục, Triết Học ứng Dụng Vào Văn Học, Sách Triết Học, Luận án Triết Học, Triết Học Mác Lênin, 78 Độ Minh Triết Pdf, 130 Bài Mẫu Luận Văn Triết Học, 78 Độ Minh Triết,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Triết Học Mác Lênin 1
  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Tài Liệu Giải Bài Tập Mác Lênin 2 Phần Thặng Dư
  • Sách Bài Tập Tiếng Anh Mai Lan Hương 7 Unit 1
  • Giải Bài Tập Nguyên Lý Kế Toán Chương 1
  • Giải Thích Lời Khuyên Của Lênin: Học Học Nữa Học Mãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Thích Câu Học, Học Nữa, Học Mãi Của Lênin
  • Dàn Ý Nghị Luận Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua, Lựa Lời Mà Nói Cho Vừa Lòng Nhau
  • Lập Dàn Ý Bài:lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua.lựa Lời Mà Nói Cho Vừa Lòng Nhau.
  • Cách Giải Nén File Zip Trên Máy Tính
  • Cách Khôi Phục Dữ Liệu File Nén Bị Lỗi
  • Giải thích lời khuyên của Lênin: Học học nữa học mãi – Bài làm 1

    “Học, học nữa; học mãi”

    Vậy học là gì? Học là quá trình khám phá và tiếp thu những tinh hoa kiến thức của nhân loại. Học theo đó mà hướng đến việc mở rộng khả năng hiểu biết, hướng đến việc rèn luyện kỹ năng. Và từ đó mà tạo dựng nền móng vững chắc cho nghề nghiệp của mình. Học không chỉ ở trường, mà chúng ta còn học ở gia đình, ở ngoài xã hội. Học không chỉ cứ nhằm đến những kiến thức khoa học lớn lao mà việc học có khi chỉ đơn giản là việc học ăn, học nói, học cách cư xử, đối đãi, giao tiếp hàng ngày. Như vậy học là một quá trình luyện rèn toàn diện và diễn ra ở khắp mọi nơi. Nó hướng đến mục tiêu giúp cho bản thân mỗi chúng ta trở thành những con người hoàn thiện, có đức, có tài và có ích cho sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng tương lai.

    Xã hội của chúng ta ngày càng phát triển. Trình độ khoa học kỹ thuật cũng ngày một tiến lên. Vì thế nếu chúng ta không xác định được rõ mục đích và động cơ học tập, chúng ta sẽ bị tụt hậu trước sự phát triển quá nhanh. Khi ấy chúng ta sẽ trở thành những người vô dụng. Cuộc sống của chúng ta sẽ nhàm chán và vất vả biết nhường nào.

    Câu nói của Lênin thật là ý nghĩa và đặc biệt nó rất phù hợp với truyền thống hiếu học của dân tộc chúng ta. Truyền thống ấy đã trở thành ngọn lửa thắp sáng niềm tin, mơ ước và khát khao cho không biết bao nhiêu thế hệ. Vì thế để xứng đáng với quá khứ của cha ông, thế hệ trẻ chúng ta ngay tự hôm nay cũng phải ra sức học hành, phải coi việc học hành là mục tiêu, là đích đến và là tương lai bền vững lâu dài.

    Lời khuyên của Lênin bao năm qua vẫn còn nguyên giá trị. Nó giục giã khích lệ chúng ta hãy tự tìm lấy cái thích thú, say mê trong học tập, hãy sáng tạo hơn nữa để việc học tốt hơn, chỉ có học tập và học tập suốt đời chúng ta mới có đủ nghị lực và niềm tin để vững vàng trong cuộc sống.

    Giải thích lời khuyên của Lênin: Học học nữa học mãi – Bài làm 2

    Nhân dân ta hầu như ai cũng biết đến câu nói sâu sắc của nhà bác học thiên tài Lê Nin: ‘học, học nữa, học mãi’.

    Câu nói này quả nhiên là một lời khuyên răn đối với chúng ta về vấn đề học tập kinh nghiệm, rằng học mãi để hiểu cao biết rộng vì kiến thức như là một đại dương bao la vô tận không bao giờ học hết được.

    Câu nói:’ học, học nữa, học mãi’ quả là không sai. ‘Học’ có nghĩa là học hỏi, tìm tòi, sự tiếp thu bài, kiến thức của con người dưới sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy co, người dạy học. Khi học, chúng ta phải tìm hiểu thêm về nó để biết sâu hơn và có thể mở rộng những kiến thức mà chúng ta đã học được như lời Lê Nin đã nói, ‘Học, học nữa, học mãi’. Câu nói đó có ý nghĩa rằng chúng ta phải học hỏi, tìm tòi không ngừng ề những kiến thức chúng ta học được ở những người xung quanh mình.

    Qua đó, ta thấy câu nói đó là một chân lí sâu sắc, đúng đắn từ trước đến nay, con người kể cả những nhà toán học, văn học, sử học, thiên văn,… cũng phải học hỏi, tìm hiểu chuyên sâu vào ấn đề thì mứi trở nên thành tài, thành các nhà bác học như vậy.

    Nhưng không phải trở thành nhà bác học là đã học được hết các kiến thức vì kiến thức là cả một đại dương, hoặc có thể nói rằng, kiến thức là một kho báo bí hiểm mà chúng ta cần phải khám phá. Chỉ cần một ngày trôi qua thôi, có thể sẽ có một phát minh, hoặc một kiến thức mà ai đó khám phá được ra đời. Vì thế, chúng ta phải nỗ lực học tập không ngừng để khám phá ra kho báu bí hiểm kia.

    Đất nước ta có rất nhiều nhà bác học nổi tiếng như: Lê Quý Đôn, Lương Thế Vinh,… hay nhà toán học ngày nay như Ngô Bảo Châu. Hay các nhà toán học, bác học nước ngoài như là toán học Pitago, O clit, Newton,… Học đã dày công nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi suốt đời và đã cống hiến, phát iện ra nhiều khiến thức quý báu cho nhân loại, con người. Ngoài ra, em thấy câu nói của Lê Nin còn là một lời giáo dục, dạy bảo có giá trị dành cho con người, giáo dục lí tưởng, chân lí sống cao quý.

    Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng có câu: ‘Học hỏi là một việc phải liên tục suốt đời’ hoặc câu nói nổi tiếng của Kalinin: ‘đường đời là chiếc thang không nấc chốt, việc học là quyển sách không trang cuối cùng’. Qua đó, ta thấy những câu nói của các danh nhân về iệc học, tìm hiểu không ngừng đã phần nào bổ sung thêm tính đúng đắn cho câu nói của Lê Nin.

    Nhưng chúng ta có thể cũng cảm thấy buồn vì xã hội ngày nay có rất nhiều học sinh trong độ tuổi đi học rất lười biếng, không chăm chỉ tìm tòi, ngoài ra còn một số người đã đạt được danh hiệu, bằng cấp nên tự kiêu, tự mãn, cho là mình giỏi nên không tiếp tục tìm hiểu , học nữa.

    Còn có một số học sinh kiến thức hạn hẹp, có giới hạn, ham chơi nên đã khiến cho những người đó bị phê bình, phê phán. Do đó, tiếp tục học là việc cần phải làm. Nhưng trước đó, ta phải xác định mục tiêu cần đến để có thể nỗ lực học hơn. Chớ nên bỏ dở, thấy mình kém thì bỏ, tự ti.

    Em có một lời khuyên cho những bạn đó bằn một câu nói mà em cảm thấy rất tâm đắc: ‘ Khi bạn muốn kết thúc thì hãy nghĩ đến lí do bạn bắt đầu’.

    Chúng ta phải xác định xem chúng ta học để làm gì thì mới có thể học được, có thể chúng ta học để phục vụ đất nước,… Bên cạnh đó, ta cần phải có thái độ học nghiêm túc, học ở trường, học ngoài xã hội.

    Khi đã đáp ứng đủ các yếu tố đó, chúng ta có thể sẽ mang lại lợi ích cho xã hội, làm cho xã hội thêm văn minh hơn, phát triển kinh tế,… để có thể sẵn sàng đấu tranh với mọi thử thách.

    Qua đó, ta thấy câu nói của Lê Nin rất đúng đắn, theo em nghĩ, chính Lê Nin cũng muốn các nước đều phát triển. Em cũng sẽ cố gắng thực hiện theo lời của Lê Nin.

    Giải thích lời khuyên của Lênin: Học học nữa học mãi – Bài làm 3

    Nếu Bác Hồ của chúng ta là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam thì Lê- nin cũng là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Nga Xô Viết xưa, Liên Bang Nga nay. Có một điểm trùng hợp giữa Lê- nin và Bác Hồ đó chính là sự kiệt xuất trong tài năng, vĩ đại trong tư tưởng. Không chỉ là những vị lãnh tụ mà cả hai người đều là những nhà giáo dục học. Bởi, sự coi trọng của cả Bác và Lê- nin đối với nền giáo dục của quốc gia, đất nước mình. Một trong những câu nói nổi tiếng khắp thế giới của Lê- nin đó là “Học, học nữa, học mãi”.

    Câu nói “Học, học nữa, học mãi” của Lê- nin nhằm đề cao vai trò của việc học. Câu nói tuy ngắn gọn, tưởng chừng như bị lặp lại nghĩa nhưng lại vô cùng ý nghĩa, nó thể hiện được tư tưởng, tầm nhìn lớn của một vị lãnh tụ tài ba. “Học” là hoạt động tiếp nhận tri thức của học sinh nhằm hoàn thiện hệ thống nhân cách cũng như hệ thống tri thức, cơ sở để trở thành những con người có ích cho đất nước, cho dân tộc bằng những cống hiến, những tài năng đích thực của mình. Tuy nhiên, đó chỉ là hiểu theo nghĩa hẹp của hoạt động học, xét trong phạm vi của nhà trường. Tuy nhiên, câu nói của Lê- nin hoàn toàn không có chủ ngữ, không hề đề cập đến bất cứ đối tượng cụ thể nào. Cũng vì vậy mà phạm vi đối tượng của câu nói được mở ra vô tận.

    Theo câu nói của Lê- nin, hoạt động học không chỉ là hoạt động của những người học sinh, những cô cậu học trò ngồi trên ghế nhà trường , mà bao gồm tất cả các đối tượng trong một dân tộc, đất nước, không hề phân biệt tuổi tác, già trẻ, gái trai. Nghĩa là ở bất kể độ tuổi nào, hoạt động học vẫn là cần thiết, những tri thức mới tiếp nhận được không bao giờ là thừa. Trong thế giới rộng lớn, bao la này, nguồn tri thức là vô tận mà dù có dùng cả cuộc đời để học hỏi, tìm tòi thì chưa chắc con người đã có thể tiếp nhận được hết. Bởi tri thức là vô hạn mà sự nhận thức của con người lại có hạn. Vì vậy, để thích nghi với cuộc sống, có thể chinh phục được nó thì con người cần không ngừng học hỏi.

    Tuy nhiên, ở đây ta chỉ xem xét câu nói này trong phạm vi của các thế hệ học sinh. Trong mối quan hệ với đối tượng học sinh, ta có thể thấy câu nói của Lê- nin là sự đề cao vai trờ của việc học, song cũng là lời động viên, cổ vũ của một vị lãnh tụ tận tình, trách nhiệm với thế hệ tương lai của đất nước mình. Học sinh là thế hệ mới của đất nước, họ sẽ là những mần non tương lai, là những người kế thừa trọng trách đưa đất nước đi lên. Mà để làm được nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng ấy thì trước hết, các em cần là những người có tri thức, có văn hóa. Và để có thể tích lũy tri thức thì hoạt động tất yếu không thể bỏ qua, đó chính là hoạt động học.

    Có lẽ, sự gặp gỡ tư tưởng ở hai vị lãnh tụ vĩ đại Lê-nin và Hồ Chí Minh là khá tương đồng. Cũng như Lê- nin, Bác Hồ của chúng ta cũng rất coi trọng việc học, coi trọng việc đào tạo những mầm non tương lai của đất nước. Trong một bức thư gửi cho toàn thể các em học sinh nhân ngày khai trường, Bác có viêt: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không? Dân tộc Việt Nam có bước đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, đó là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Trở lại với câu nói của Lê- nin, tác giả không chỉ nhắc đến một lần chữu học mà nhắc lại tới ba lần nhằm mục đích nhấn mạnh hoạt động học không phải học xong là có thể yên tâm dừng lại. Học là một quá trình lâu dài, bền bỉ và có thể kéo dài đến suốt cuộc đời của con người. Bởi con người luôn phải học tập, khám phá những điều mới mẻ. Đối với thế hệ học sinh, hoạt động này càng quan trọng. Các em nên không ngừng học hỏi để có thể cống hiến, phục vụ cho sự phát triển của đất nước trong tương lai. Với sự tích lũy tri thức cùng với sự nhanh nhạy,linh hoạt của các em. Tương lai của đất nước, vận mệnh của đất nước sẽ nằm trong tay của các em.

    Như vậy, câu nói “Học, học nữa, học mãi” của Lê- nin có ý nghĩa vô cùng to lớn, là một lời khuyên chân thành, hữu ích cho thế hệ tương lai của đất nước. Câu nói này có ý nghĩa toàn cầu, với tất cả các quốc gia chứ không chỉ riêng bất cứ quốc gia nào. Đất nước muốn phát triển thì cần coi trọng công tác giáo dục, muốn quốc gia sánh bước cùng năm châu bốn bể thì học là hoạt động không thể xem thường, phải học, học nữa, học mãi.

    Từ khóa từ Google

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lập Dàn Ý Giải Tích Nội Dung Lời Khuyên Của Lê
  • Dàn Ý Và Bài Văn : “‘ Học, Học Nữa, Học Mãi “
  • Bài Văn Mẫu Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lê
  • Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lê
  • Lập Dàn Ý Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lê
  • Giải Thích Câu Học, Học Nữa, Học Mãi Của Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Nghị Luận Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua, Lựa Lời Mà Nói Cho Vừa Lòng Nhau
  • Lập Dàn Ý Bài:lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua.lựa Lời Mà Nói Cho Vừa Lòng Nhau.
  • Cách Giải Nén File Zip Trên Máy Tính
  • Cách Khôi Phục Dữ Liệu File Nén Bị Lỗi
  • Em Hãy Tả Người Bạn Thân Của Em
  • Vì sao học tập là nhiệm vụ quan trọng

    “Thất bại là mẹ thành công” em hãy nêu ý nghĩa câu tục ngữ

    Em hãy phân tích nội dung câu nói của Lê Nin: ‘Học, học nữa, học mãi’.

    Nhân dân ta hầu như ai cũng biết đến câu nói sâu sắc của nhà bác học thiên tài Lê Nin: ‘học, học nữa, học mãi’.

    Câu nói này quả nhiên là một lời khuyên răn đối với chúng ta về vấn đề học tập kinh nghiệm, rằng học mãi để hiểu cao biết rộng vì kiến thức như là một đại dương bao la vô tận không bao giờ học hết được.

    Qua đó, ta thấy câu nói đó là một chân lí sâu sắc, đúng đắn từ trước đến nay, con người kể cả những nhà toán học, văn học, sử học, thiên văn,… cũng phải học hỏi, tìm hiểu chuyên sâu vào ấn đề thì mứi trở nên thành tài, thành các nhà bác học như vậy.

    Nhưng không phải trở thành nhà bác học là đã học được hết các kiến thức vì kiến thức là cả một đại dương, hoặc có thể nói rằng, kiến thức là một kho báo bí hiểm mà chúng ta cần phải khám phá. Chỉ cần một ngày trôi qua thôi, có thể sẽ có một phát minh, hoặc một kiến thức mà ai đó khám phá được ra đời. Vì thế, chúng ta phải nỗ lực học tập không ngừng để khám phá ra kho báu bí hiểm kia.

    Đất nước ta có rất nhiều nhà bác học nổi tiếng như: Lê Quý Đôn, Lương Thế Vinh,… hay nhà toán học ngày nay như Ngô Bảo Châu. Hay các nhà toán học, bác học nước ngoài như là toán học Pitago, O clit, Newton,… Học đã dày công nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi suốt đời và đã cống hiến, phát iện ra nhiều khiến thức quý báu cho nhân loại, con người. Ngoài ra, em thấy câu nói của Lê Nin còn là một lời giáo dục, dạy bảo có giá trị dành cho con người, giáo dục lí tưởng, chân lí sống cao quý.

    Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng có câu: ‘Học hỏi là một việc phải liên tục suốt đời’ hoặc câu nói nổi tiếng của Kalinin: ‘đường đời là chiếc thang không nấc chốt, việc học là quyển sách không trang cuối cùng’. Qua đó, ta thấy những câu nói của các danh nhân về iệc học, tìm hiểu không ngừng đã phần nào bổ sung thêm tính đúng đắn cho câu nói của Lê Nin.

    Nhưng chúng ta có thể cũng cảm thấy buồn vì xã hội ngày nay có rất nhiều học sinh trong độ tuổi đi học rất lười biếng, không chăm chỉ tìm tòi, ngoài ra còn một số người đã đạt được danh hiệu, bằng cấp nên tự kiêu, tự mãn, cho là mình giỏi nên không tiếp tục tìm hiểu , học nữa.

    Còn có một số học sinh kiến thức hạn hẹp, có giới hạn, ham chơi nên đã khiến cho những người đó bị phê bình, phê phán. Do đó, tiếp tục học là việc cần phải làm. Nhưng trước đó, ta phải xác định mục tiêu cần đến để có thể nỗ lực học hơn. Chớ nên bỏ dở, thấy mình kém thì bỏ, tự ti.

    Em có một lời khuyên cho những bạn đó bằn một câu nói mà em cảm thấy rất tâm đắc: ‘ Khi bạn muốn kết thúc thì hãy nghĩ đến lí do bạn bắt đầu’.

    Chúng ta phải xác định xem chúng ta học để làm gì thì mới có thể học được, có thể chúng ta học để phục vụ đất nước,… Bên cạnh đó, ta cần phải có thái độ học nghiêm túc, học ở trường, học ngoài xã hội.

    Khi đã đáp ứng đủ các yếu tố đó, chúng ta có thể sẽ mang lại lợi ích cho xã hội, làm cho xã hội thêm văn minh hơn, phát triển kinh tế,… để có thể sẵn sàng đấu tranh với mọi thử thách.

    Qua đó, ta thấy câu nói của Lê Nin rất đúng đắn, theo em nghĩ, chính Lê Nin cũng muốn các nước đều phát triển. Em cũng sẽ cố gắng thực hiện theo lời của Lê Nin.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Lời Khuyên Của Lênin: Học Học Nữa Học Mãi
  • Lập Dàn Ý Giải Tích Nội Dung Lời Khuyên Của Lê
  • Dàn Ý Và Bài Văn : “‘ Học, Học Nữa, Học Mãi “
  • Bài Văn Mẫu Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lê
  • Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lê
  • Giải Thích Lời Khuyên Của Lênin Học Học Nữa Học Mãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lênin: Học, Học Nữa, Học Mãi
  • Em Hãy Giải Thích Lời Khuyên Của Lê Nin Học Học Nữa Học Mãi Câu Hỏi 655155
  • Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lênin: Học, Học Nữa, Học Mãi.
  • Giải Thích Câu Nói Lời Nói Gói Vàng, Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua …
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Lời Nói Gói Vàng
  • Giải thích lời khuyên của Lênin Học học nữa học mãi

    Đề bài: Em hãy viết bài văn giải thích lời khuyên của Lênin: Học, học nữa, học mãi. Bài làm văn của một bạn học sinh lớp 7 tại Hải Phòng.

    “Học, học nữa; học mãi”

    Vậy học là gì? Học là quá trình khám phá và tiếp thu những tinh hoa kiến thức của nhân loại. Học theo đó mà hướng đến việc mở rộng khả năng hiểu biết, hướng đến việc rèn luyện kỹ năng. Và từ đó mà tạo dựng nền móng vững chắc cho nghề nghiệp của mình. Học không chỉ ở trường, mà chúng ta còn học ở gia đình, ở ngoài xã hội. Học không chỉ cứ nhằm đến những kiến thức khoa học lớn lao mà việc học có khi chỉ đơn giản là việc học ăn, học nói, học cách cư xử, đối đãi, giao tiếp hàng ngày. Như vậy học là một quá trình luyện rèn toàn diện và diễn ra ở khắp mọi nơi. Nó hướng đến mục tiêu giúp cho bản thân mỗi chúng ta trở thành những con người hoàn thiện, có đức, có tài và có ích cho sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng tương lai.

    Vậy thế nào là học nữa và học mãi. Học nữa là học để nâng cao trình độ, để mở mang vốn tri thức cho bản thân mình. Tri thức của con người là vô cùng vô tận mà tri thức nào cũng đẹp, cũng hay, cũng cần thiết và hữu ích. Thế nên chúng ta phải rèn tập thói quen không ngừng học. Học tập là sự nghiệp lớn suốt cuộc đời. Vì thế mà Lênin mới gọi đó là học mãi.

    Xã hội của chúng ta ngày càng phát triển. Trình độ khoa học kỹ thuật cũng ngày một tiến lên. Vì thế nếu chúng ta không xác định được rõ mục đích và động cơ học tập, chúng ta sẽ bị tụt hậu trước sự phát triển quá nhanh. Khi ấy chúng ta sẽ trở thành những người vô dụng. Cuộc sống của chúng ta sẽ nhàm chán và vất vả biết nhường nào.

    Câu nói của Lênin thật là ý nghĩa và đặc biệt nó rất phù hợp với truyền thống hiếu học của dân tộc chúng ta. Truyền thống ấy đã trở thành ngọn lửa thắp sáng niềm tin, mơ ước và khát khao cho không biết bao nhiêu thế hệ. Vì thế để xứng đáng với quá khứ của cha ông, thế hệ trẻ chúng ta ngay tự hôm nay cũng phải ra sức học hành, phải coi việc học hành là mục tiêu, là đích đến và là tương lai bền vững lâu dài.

    Lời khuyên của Lênin bao năm qua vẫn còn nguyên giá trị. Nó giục giã khích lệ chúng ta hãy tự tìm lấy cái thích thú, say mê trong học tập, hãy sáng tạo hơn nữa để việc học tốt hơn, chỉ có học tập và học tập suốt đời chúng ta mới có đủ nghị lực và niềm tin để vững vàng trong cuộc sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Giải Thích Câu Học Học Nữa Học Mãi
  • Dàn Ý Giải Thích Câu Nói “học
  • Giải Thích Và Hướng Dẫn Cách Xin Quan Âm Linh Xâm
  • Giải Quẻ Xăm Số 49
  • Không Thể Giải Nén Bằng Winrar Với File Dung Lượng 4Gb
  • Giải Thích Câu Nói Học, Học Nữa, Học Mãi Của Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Và Giải Thích Ý Nghĩa Bài Hát Perfect
  • Đoạn Văn Giải Thích Ý Nghĩa Thất Bại Là Mẹ Thành Công
  • 6 Từ Tiếng Anh Không Có Ý Nghĩa
  • 13 Từ Ngữ Không Thể Dịch Nghĩa Tiếng Anh
  • Crush Là Gì? Giải Thích Ý Nghĩa Từ Crush Trên Facebook
  • Dàn ý và 6 bài Văn mẫu lớp 7 số 6 đề 5

    Văn mẫu lớp 7: Giải thích câu nói Học, học nữa, học mãi của Lê nin được chúng tôi sưu tầm và đăng tải bao gồm dàn ý chi tiết và 6 bài văn mẫu hay cho các em tham khảo. Đây là đề bài viết số 6 lớp 7 đề 5 trong chương trình Ngữ văn 7. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp các em có thêm nhiều ý tưởng mới để xây dựng cho mình bài viết hay và hoàn chỉnh cho bài viết số 6 lớp 7 đề 5 này.

    Giải thích câu nói Học, học nữa, học mãi của Lê nin lớp 7

    1. Mở bài: giới thiệu vấn đề “Học, học nữa, học mãi”

    Đối với mỗi con người chúng ta, việc học tập là vô cùng cần thiết và quan trọng. học để chúng ta lĩnh hội kiến thức và phục vụ cho công việc, cho cuộc sống sau này. Chính vì thế mà việc học là một việc mỗi con người chúng ta đều phải học. nhưng học như thế nào cho đúng, cho hiệu quả thì ai có thể làm được. nhà triết học Lê- Nin đã có một câu nói về cách học mà chúng ta cần phải học hỏi, đó là “Học, học nữa, học mãi”. Để biết rõ hơn về câu nói này, ta cùng đi tìm hiểu thế nào là “Học, học nữa, học mãi”

    2. Thân bài: giải thích câu học học nữa học mãi

    a. Giải thích thế nào là “Học, học nữa, học mãi”

    – Học: là thúc giục con người bắt đầu học tập, lĩnh hội và tiếp thu kiến thức, tìm hiểu và chiếm lĩnh các kiến thức.

    – Học nữa: “học” đã thúc giục ta bắt đầu học, thì “học nữa” thúc giục ta tiếp tục học tập, đã học rồi nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục học nữa, học nhiều hơn nữa.

    – Học mãi: học tập là một vấn đề quan trọng, một công việc mãi mãi với cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cần phải luôn học hỏi và học tập dù là bất kì ai, bất kì chức vụ cao quý nào trong xã hội.

    b. Ý nghĩa của việc “Học, học nữa, học mãi”

    – Học tập là một trong hình thức giúp ta tồn tại và phát triển trong xã hội

    – Xã hội luôn vận động, luôn phát triển và tạo ra những kiến thức mới, những điều mới mẻ. nếu không học tập và học hỏi thì chúng ta sẽ bị tụt hậu so với xã hội.

    – Trong cuộc sống thì người tài giỏi không thiếu, nếu ta không học tập thì bạn sẽ kém hơn so với học, và sẽ trở nên vô ích hơn so với học.

    c. Nên học tập ở đâu và phương pháp học

    – Chúng ta nên trau dồi kiến thức ở trường lớp, bạn bè, thầy cô và xã hội,….

    – Khi không còn ngồi trên ghế nhà trường ta cũng có thể học: học trong cuộc sống, học trong sách vở, học trong công việc,….

    – Học bất cứ đâu, bất cứ nơi nào bạn có thể.

    d. Nêu những lối học sai lầm

    – Học tủ, học vẹt,….

    – Học vì lợi ích

    – Học vì ép buộc

    3. Kết bài: nêu cảm nghĩ về “Học, học nữa, học mãi”

    Việc học là một việc rất bổ ích và quan trọng với mỗi chúng ta. Nhờ vào học tập mà ta có công việc, có chỗ đứng trong xã hội, có được niềm tin yêu của mọi người. Câu nói của Lê- Nin khuyên ta nên học ở mọi lúc, mọi nơi đâu có thể. Chính vì thế hãy “Học, học nữa, học mãi”.

    Giải thích câu nói của Lênin học học nữa học mãi – Mẫu 2

    Tóm lại, lời khuyên của vị lãnh tụ Lê-nin có ý nghĩa rất sâu xa nhằm khuyên nhủ mọi người phải học mãi cả đời. Bản thân mỗi người phải cố gắng hết sức để xây dựng đất nước ngày càng đi lên trên nền kinh tế phát triển. Chúng ta hãy làm theo mong ước của Bác Hồ là: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không? Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.

    Bài viết số 6 lớp 7 đề 5 – mẫu 3

    Ai cũng biết, việc học là việc rất quan trọng và nó quyết định cuộc đời của mỗi con người chúng ta, đó là một con đường gian khổ và khó khăn nhất để dẫn đến thành công. Học không phải ngày một ngày hai mà vội vàng được, học là học suốt đời, cũng giống như Lê-Nin đã từng nói: “Học, học nữa, học mãi.”

    “Bể học mênh mông tựa đất trời Khuyên con gắng học chớ ham chơi”

    Vâng, “bể học” đó mênh mông rộng lớn, chưa một ai đã chinh phục được “bể học” đó, cho dù con người có đã thành công, đã có sự hiểu biết cao đến mấy nhưng họ vẫn đều phải tiếp tục học và đó là “Học nữa, học mãi”. Trong thời đại hiện đại như ngày nay, đã có rất nhiều công cụ, thiết bị điện tử được ra đời, đó là kết quả, là những gì mà học hỏi đã tạo nên. Thử hỏi tại sao thời xưa, thời của ông cha ta có rất nhiều người tài giỏi và họ đã khám phá ra biết bao nhiêu điều, còn bây giờ: “Nhân tài như lá mùa thu”, không phải bây giờ không có người tài giỏi nhưng rất hiếm, bởi vì họ không biết “Học nữa”. Vậy giá trị của sự “Học nữa, học mãi “đã vậy, cứ mỗi giờ trôi qua, mỗi ngày trôi qua thì lượng kiến thức lại càng nhiều, do đó chúng ta cần phải luôn luôn học hỏi.

    Câu nói của Lê-Nin: “Học, học nữa, học mãi”- một câu nói hay và ẩn chứa rất nhiều lời khuyên ý nghĩa và rất thấm thía, vậy chúng ta hãy cố gắng học và tiếp tục học học cho đúng, học, học nữa học mãi, chúng ta là những thành phần của xã hội vậy hãy là những con người có ích, hãy chính là tâm điểm sáng suốt trong mọi thời đại.

    Giải thích câu nói của Lênin học học nữa học mãi mẫu 4

    Nguồn học là vô tận và con người đứng trước kiến thức rộng lớn của nhân loại lại trở thành một loài sinh vật bé nhỏ, nó giống như hạt cát giữa sa mạc rộng lớn. Kiến thức là vô tận, nếu con người chúng ta cứ sống mãi trong khuôn phép cứ tự cho mình là tài giỏi thì quả thật là thiệt thòi. Chính vì chúng ta không tiếp thu là tạo cơ hội cho người khác giỏi hơn mình. Như Lê Nin cũng đã có một câu hoàn toàn đúng đắn khi nói về vấn đề này “Học, Học nữa, Học mãi”

    Vậy theo như chúng ta hiểu câu nói thì đầu tiên chúng ta phải hiểu học là gì? Học chính là tiếp thu chắt lọc những tinh hoa những nét đẹp của văn hóa và tri thức nhân loại, học là học hỏi là rèn luyện và không ngừng trau dồi cho vốn kiến thức hạn hẹp của mình. Học không chỉ có học về những kiến thức về văn hóa xã hội hay khoa học mà còn học cả cách ứng xử cách giao tiếp và đó cả là một văn hóa.

    Một người không thể từ khi sinh ra đã giỏi và đã trở thành một người có vốn kiến thức uyên thâm. Ngay cả những bác học và những thiên tài cho dù họ có thông minh tới mấy nhưng họ không bắt tay vào nghiên cứu thì suy cho cùng họ cũng thất bại. Vậy câu nói của Lê Nin hoàn toàn là đúng đắn. Học không chỉ bó hẹp ở nhà trường từ kiến thức mà thầy cô giáo truyền đạt lại mà còn là cả học ở trong sách vở trong báo chí. Và ngày nay khi công nghệ phát triển mạnh mẽ thì mạng Internet là một nguồn cho chúng ta tham khảo vô cùng bổ ích và lí thú. Nếu chúng ta biết tận dụng thì nó vô cùng có ích không những cho hiện tại mà cả sau này.

    Học, học nữa học mãi là cách mà chúng ta không ngừng trau dồi nâng cao nhận thức của bản thân về kiến thức của bản thân mình. Như bác học Đác Uyn một lần được con gái hỏi vì chuyện tại sao cha của cô trở thành bác học mà vẫn thức khuya tôi luyện tìm tòi. Nhưng câu trả lời của ông lại gây một điều bất ngờ đó chính là “Bác học không có nghĩa là ngừng học”

    Như chúng ta thấy có những cụ già những người đã lớn tuổi nhưng ngày ngày vẫn đọc sách vẫn ngâm nga những câu thơ trong những cuốn sách thời xưa. Học không chỉ là tính toán mà nó còn là đọc và chiêm nghiệm. Họ tuổi già sức yếu nhưng điều đó không có nghĩa là họ dừng lại mọi con đường đi đến với kiến thức.

    Ngày nay, bên cạnh những người ngày đêm miệt mài với sách vở với trau dồi rèn luyện cho bản thân thì cũng không ít những người lại chây lười, và bên cạnh đó lại có những người tự cao tự đại không muốn tiếp thu của ai một điều gì và luôn tự cho mình là đúng. Những người như vậy cần phải phê bình và tốt hơn là bản thân họ tự phê bình.

    Câu nói của Lê Nin mặc dù trải qua bao nhiêu thời gian nhưng nó vẫn luôn là một câu nói đầy động lực cho bất cứ một con người nào. Học Học nữa Học mãi để luôn là người linh hoạt và hiểu biết để bắt kịp với thời đại.

    Giải thích câu nói của Lênin học học nữa học mãi mẫu 5

    Từ xưa đến nay, con người qua lao động sản xuất đã tiếp nhận được bao nhiêu điều thú vị trên thế giới. Đó cũng là một cách tích lũy kiến thức. Chẳng những vậy, những kiến thức được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng rất nhiều hình thức như truyền miệng hay sách vở v.v… Vai trò của việc học tập đã được khẳng định từ xa xưa. Chính vì vậy, Lê-nin, một vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng. Đó chính là: “Học, học nữa, học mãi”.

    Câu nói trên chính là một lời khuyên, một định hướng đúng đắn trong cuộc sống. Có học mới có được kiến thức, có được kiến thức mới có thể có hành trang để bước vào đời. Cái “học” ở đây không đơn thuần là tiếp nhận kiến thức khoa học mà nó còn là tiếp nhận kiến thức đạo đức, lí lẽ, biết phân biệt tốt xấu. Nó còn thể hiện cần học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi phương diện, từ thầy cô đến bạn bè, từ người lớn tới trẻ nhỏ, bất kì ai cũng đều có những ưu điểm. Chúng ta hãy biết tiếp nhận nó hoàn thiện nó để trở thành ưu điểm của riêng ta. Trong cuộc sống, đạo đức giúp ta có thể giao tiếp chan hoà với mọi người, biết sử dụng ngôn từ nhuần nhuyễn, thành thạo, đầy sức gợi cảm để chiếm được tình cảm mọi người xung quanh. Để đạt được điều đó chúng ta cũng cần sự hỗ trợ về kiến thức khoa học, xã hội. Kiến thức này giúp chúng ta có thể vận dụng trong cuộc sống, từ chữa bệnh đến tính toán, từ xây dựng đến làm mộc. Mỗi loại kiến thức đều giúp ta mở rộng hiểu biết về một lĩnh vực riêng. Như kiến thức toán học giúp chúng ta tính toán dễ dàng, kiến thức văn học giúp ta có thể bay bổng, lãng mạn trong những vần thơ câu văn hay uyển chuyển trong cách dùng từ, kiến thức địa lí giúp chúng ta biết thêm về những miền đất mới, con người mới. Còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa với nhiều điều thú vị, hấp dẫn. Dường như hai loại kiến thức này đều bổ trợ tương xứng cho nhau. Chính vì vậy chúng ta cần tiếp nhận kiến thức trong mọi lúc. Trong mỗi một câu chuyện hay mỗi một lời nói đều ẩn chứa một phần của kiến thức, chúng ta chỉ cần biết hợp những điều mà mắt thấy tai nghe, sự hiểu biết của chúng ta lại thì sẽ có được một khái niệm, một chân lí, một định lí nào đó rồi hãy khắc ghi lại, sẽ có lúc chúng ta cần vận dụng đến. Chính những vốn kiến thức từ bé, tu luyện bồi dưỡng dần cùng thời gian, nó sẽ kết lại thành một khối kiến thức giúp ích cho ta về hiện tại và cả về sau, nó giúp chúng có thể thành đạt trong cuộc sống. Một người nổi tiếng có câu rằng: “Kẻ dốt nát không có nghĩa là kẻ kém trí thông minh mà là kẻ không biết học hỏi, tìm tòi, khám phá, và sẽ mãi là kẻ không có tự do vì trước mặt anh ta mãi luôn là một thế giới xa lạ”. Chính vì vậy, chúng ta cần phải hiểu rõ được thế nào là học, học nữa, và học mãi. Đó là những dẫn chứng khá rõ nét phần nào đã thấy được ích lợi, mục đích, giá trị của việc học. Trong thời đại khoa học bây giờ thì nhu cầu về học tập là rất cấp thiết. Và để theo kịp xã hội và cách thích nghi với đời sống văn minh thì lại càng cấp thiết hơn. Cứ mỗi giờ trôi qua, mỗi ngày trôi qua thì lượng kiến thức lại càng nhiều, do đó chúng ta cần phải luôn luôn học. Đó chính là ý nghĩa của ý thứ hai “học nữa”. Còn “học mãi”. Thế giới kiến thức là rất rộng lớn, để tiếp thu, tìm hiểu được hết mọi kiến thức thì chắc hẳn là không thể, thậm chí cả đời người cũng không xong. “Mãi” ở đây là mãi mãi, là liên tục, không dứt. Câu nói trên của Lê-nin-sử dụng cả biện pháp tăng cấp để thể hiện được giá trị việc học tập. Hơn thế nữa, con người đang sống trong kỉ nguyên mới, bên cạnh những quyền lợi khác thì “học tập” cũng là một quyền lợi, đồng thời cũng là nghĩa vụ của mỗi người dân, là mục tiêu, yêu cầu mà bất cứ chính quyền nào cũng đặt ra đầu tiên và quan tâm hàng đầu. Và nhiệm vụ của chúng ta là học tập để phục vụ đất nước, vì tương lai của mình gắn liền với tương lai toàn dân tộc nói chung. Một người bác sĩ muốn chữa bệnh cũng phải học tập, kể cả kinh nghiệm lẫn kiến thức. Một người nông dân muốn cày cấy cũng phải học hỏi cách thức từ những người đi trước, có thể là không qua sách vở. Nói cho cùng thì trình độ văn hoá của mỗi con người là rất quan trọng trong cuộc sống và học tập – một lí tưởng cao đẹp lại là nền tảng cho mục tiêu quan trọng ấy. Cuộc sống sẽ luôn thay đổi theo những chiều hướng tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn nếu mỗi con người biết học tập một cách đúng đắn. Như Bác Hồ, một con người gắn liền với nền độc lập nước ta và cũng là con người gần gũi với chúng ta nhất cũng khẳng định rằng học tập là nền tảng cho một đất nước hùng mạnh. Tuy vậy, hiện nay vẫn có một số người vẫn chưa thấm thía được ích lợi từ học tập, họ vẫn cho rằng học chỉ là phương tiện của nhiều mục đích khác nhau. Có người cho là vì tiền, có người lại cho là vì chức quyền. Nhưng không, mục đích của việc học tập là đổi mới con người, xã hội bởi kiến thức, khoác lên cho dân tộc, thế giới một bộ áo văn minh, hiện đại mà mỗi chúng ta chính la người được hưởng thành quả ấy.

    Thấm hiểu những ý nghĩa sâu sắc trong câu nói nổi tiếng của Lê-nin ấy cũng chính là đã nhận ra được chân lí của học tập. Chúng ta cần biết học hỏi cho đúng, cho phải, biết chọn lựa mà học, hãy biết chắt lọc những gì tinh hoa nhất mà cảm nhận để những tiêu cực sẽ bị thay thế, tinh cầu này sẽ sống trong văn minh, và mỗi chúng ta sẽ là con người lịch sự, là con người có ích cho xã hội hay chính là tâm điểm sáng suốt trong mọi thời đại.

    Giải thích câu nói học học nữa học mãi mẫu 6

    Đất nước ngày càng phát triển, chúng ta đang tiến lên theo con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy, cần có những người có đầy đủ kiến thức khoa học kĩ thuật, văn hoá… để tiếp xúc với cái mới. Học sinh chúng ta cũng như tất cả mọi người cần phải không ngừng học tập để có trình độ đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Lê-nin đã từng nhắc nhở: Học, học nữa, học mãi!. Câu nói đã trở thành một chân lí cho mọi thời đại, mọi thế hệ con người.

    Vậy học là gì? Học là một công việc mà mỗi chúng ta phải làm hằng ngày và có thể là cả cuộc đời. Học là một quá trình tìm hiểu, thu nhận, tích lũy kiến thức của thầy cô giáo, của những người đi trước truyền lại, nhằm tăng thêm hiểu biết về mọi mặt trong xã hội. Học ở đây không chỉ đến trường mới học, mà ngay từ nhỏ, khi ta còn sống trong vòng tay của bố mẹ, bố mẹ đã dạy ta học ăn, học nói, học cách cư xử trong cuộc sống. Đến tuổi đi học, chúng ta được học tập theo chương trình của từng cấp học với sự dạy dỗ tận tình của thầy, cô giáo. Bên cạnh những kiến thức học được ở trường, chúng ta còn học qua bạn bè, qua sách, báo và các phương tiện thông tin đại chúng.

    Kiến thức nhân loại vô cùng phong phú, khoa học kĩ thuật không ngừng phát triển, có nhiều vấn đề nảy sinh trong cuộc sống cần được giải quyết và tiếp thu, nếu ta không học tập thì sẽ bị lạc hậu, hơn nữa yêu cầu xã hội ngày càng cao, là học sinh, sinh viên… lại càng cần phải học một cách toàn diện, đầy đủ, học lí thuyết gắn với thực hành, vận dụng vào đời sống để nắm chắc bài học hơn.

    Tại sao lại còn phải học nữa và học mãi? Bởi điều ta biết chỉ là giọt nước. Điều ta chưa biết là biển cả, cho nên, chúng ta không được thoả mãn với bằng cấp mà mình đã có mà cần luôn học tập để nâng cao trình độ. Mỗi lần học tập để nâng cao trình độ, ta sẽ cảm thấy kiến thức của mình thu được quá ít so với biển kiến thức mênh mông của nhân loại, vì thế con người cần tiếp tục học, học không ngừng, học ở mọi lúc mọi nơi, học để hiểu biết hơn, học để nâng cao năng suất lao động.

    Vì sao chúng ta phải hiểu như vậy? Trước hết là vì bản thân chúng ta. Nếu không học, chúng ta sẽ không có tri thức, thiếu hiểu biết để vận dụng vào cuộc sống, kết quả công việc sẽ không tốt đẹp như ta mong đợi. Người xưa có câu rằng: Nhân bất học bất tri lí; Ấu bất học lão hàn vi. Bởi vậy, chúng ta cần phải học để có trình độ, có kiến thức để có việc làm tốt nuôi sống bản thân mình, giúp đỡ gia đình và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xa hơn nữa là bước tới tầm cao nhân loại. Thực hiện lời mong muốn của Bác Hồ: Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công lao học tập của các cháu. Nếu chúng ta chăm chỉ học tập, rèn luyện thì đó sẽ là những nhân tố tích cực xây dựng đất nước ta giàu đẹp, văn minh, Tổ quốc Việt Nam sẽ sánh vai các cường quốc năm châu. Một đất nước ấm no, hạnh phúc thì mỗi gia đình, bản thân chúng ta sẽ được sống đầy đủ, hạnh phúc hơn. Như vậy, học và chỉ có học nữa, học mãi thì đó sẽ là chìa khóa mở cửa mọi khó báu trên đời.

    Tóm lại, tuổi chúng ta còn trẻ, chúng ta cần phải tranh thủ học tập tốt. Đừng bao giờ cho rằng học đã đủ mà hãy nhớ rằng cần học nhiều hơn nữa để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước. Đừng bao giờ hỏi rằng mình đã được những gì mà hãy tự hỏi rằng mình đã học và đã làm gì cho đất nước và đừng quên lời dạy của Lê-nin: Học, học nữa, học mãi! Hãy xem lời dạy của Lê-nin là kim chỉ nam cho mục đích, phương hướng học tập của chúng ta.

    …………………………

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Câu Ca Dao Nhiễu Điều Phủ Lấy Giá Gương
  • Xếp Loại Học Lực Tiếng Anh Là Gì? Xếp Loại Tốt Nghiệp Trong Tiếng Anh?
  • Chuyên Viên Tiếng Anh Là Gì? Cách Dùng Từ “chuyên Viên” Trong Tiếng Anh Thế Nào Cho Đúng?
  • Giải Thích Bằng Tiếng Anh Khi Đi Làm Muộn Và Muốn Về Sớm
  • Bài Tập Tiếng Anh Lớp 12 Unit 14 International Organizations Có Đáp Án (1)
  • Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lênin: Học, Học Nữa, Học Mãi.

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Thích Câu Nói Lời Nói Gói Vàng, Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua …
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Lời Nói Gói Vàng
  • Giải Thích: Lời Nói Gói Vàng Và Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua (Bài Viết 6 Lớp 7)
  • Dân Gian Có Câu: Lời Nói Gói Vàng, Đồng Thời Lại Có Câu: Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua, Lựa Lời Mà Nói Cho Vừa Lòng Nhau. Qua Hai Câu Trên, Em Hãy Cho Biết Dân Gi
  • Dân Gian Có Câu: Lời Nói Gói Vàng, Đồng Thời Lại Có Câu: Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua, Lựa Lời Mà Nói Cho Vừa Lòng Nhau. Qua Hai Câu Trên, Em Hãy Cho Biết Dân Gian Đã Hiểu Như Thế Nào Về Giá Trị, Ý Nghĩa Của Lời Nói Trong Cuộc Sống.
  • Để hiểu nội dung của lời khuyên này trước hết chúng ta cần hiểu học là gì? Học là một quá trình thu nhận, tích luỹ kiến thức, kĩ năng để giúp cho bản thân có thêm hiểu biết về trình độ khoa học, kĩ thuật. Học là một khái niệm rất rộng chứ không phải bó hẹp trong phạm vi ngôi trường mà ngay từ nhỏ khi sống giữa vòng tay yêu thương của cha mẹ, ông bà chúng ta đã được dạy dỗ từ cách ăn nói, ứng xử, đi đứng đối xử với người trên với bạn bè. Thế rồi khi đến trường chúng ta lại được các thầy cô dạy kiến thức về khoa học, xã hội và dưới bàn tay chăm sóc ân cần của các thầy cô giáo ta còn được học cả rèn luyện cả về đạo đức. Và khi đi ra ngoài xã hội ta còn được học hỏi qua bạn bè, qua những người xung quanh mình, rồi còn qua các thông tin đại chúng như đài báo sách vở… Song có một điều chúng ta cần chú ý là phải học toàn diện tránh tình trạng hỏi về bất cứ vấn đề về tự nhiên thì đều biết còn hỏi về các vấn để xã hội thì chẳng biết gì.

    Học nữa là học hết trình độ này chúng ta phải chuyển sang trình độ khác, từ dễ đến khó, từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng. Việc học không bao giờ được ngừng nghỉ mà là một mạch nối tiếp nhau và không ngừng nâng cao để ta có cơ hội trau dồi tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết của mình. Mỗi lần nâng lên một mức học con người sẽ trưởng thành và vững chắc thêm một bước về tri thức và trình độ và đó là thứ hành trang quý giá giúp con người tự tin khi bước vào cuộc sống tự lập sau này và quan trọng nhất là có tri thức trí tuệ để có thể vận dụng tốt vào công việc và có thể sáng tạo ra những công trình khoa học, góp phần xây dựng quê hương thêm giàu đẹp.

    Còn học mãi là học liên tục, học không ngừng nghỉ suốt đời, luôn nâng cao trình độ hiểu biết của mình. Học mãi để tạo thành thói quen ham học hỏi, say mê với khoa học. Và việc học phải được liên lục không bị hạn chế bởi tuổi tác. Khi ta còn trẻ việc học tập là đương nhiên thế nhưng khi ta càng cao tuổi thì việc học không vì thế mà ngừng trệ. Lúc đó, ta cũng cần chăm chỉ học hỏi hơn nữa bằng cách tự học, nghiên cứu qua sách vở. Như vậy, việc học là vô tận vừa học vừa làm vô cùng có lợi bởi quá trình làm việc sẽ giúp ta hiểu được mình còn thiếu kiến thức gì và việc học sẽ bổ sung cho ta. Như vậy câu nói rất đơn giản của Lênin đã cho ta thấy cần phải học như thế nào mới giúp ta trở thành con người hoàn thiện, một người có tri thức.

    Vậy vì sao chúng ta phải hiểu như vậy? Trước hết, việc ta học tập tốt sẽ có lợi cho chính bản thân mình. Nếu ta không học sau này ta sẽ không thể làm tốt công việc được. Kết quả công việc sẽ không được tốt đẹp như ta mong muốn và chúng ta sẽ không thể nuôi sống bản thân mình, không thể giúp được gia đình cũng như không thực hiện được nghĩa vụ cao cà của đất nước: là người làm chủ tương lai đất nước. Bác Hồ đã từng nói: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần công lao học tập của các cháu. Đúng như vậy nếu chúng ta không học tập thì cả thế hệ trẻ sẽ chẳng có ai tài giỏi để giúp cho đất nước tiến lên. Vì thế việc học tập là vô cùng cần thiết và hơn thế còn là trách nhiệm đối với mỗi học sinh chúng ta để đưa đất nước sánh ngang với các nước khác trên thế giới. Và chúng ta không học tập tốt sẽ không nắm được những tri thức khoa học hiện đại và trở thành những người lạc hậu trước sự lớn mạnh như vũ bão của khoa học kĩ thuật trong ngày nay. Như vậy học tập tốt là giúp cho ta và cho xã hội, hơn nữa là phát huy truyền thống hiếu học của ông cha ta từ xưa cho đến nay.

    Ngày xưa ông cha ta đã có một truyền thống hiếu học như Mạc Đĩnh Chi là con nhà nghèo nhưng vẫn ham mê học đêm đến vì nhà nghèo không có đèn học nên ông phải bắt đom đóm cho vào vỏ trứng để học và sau thành tài… Ngày xưa chúng ta có biết bao tấm gương chăm học tập và ngày nay chúng ta cũng cần noi gương theo cha ông.

    Song việc học như thế nào để đem lại hiệu quá tốt thì chúng ta thấy cần phải học tập thật chăm chỉ, học say mê hứng thú và phải luôn sáng tạo. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần xem xét phương pháp học tập sao cho đạt được kết quả cao. Khi đến lớp cần chăm chú nghe cô giáo giảng bài, ghi chép đầy đủ về nhà học lại và làm bài tập đẩy đủ, chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp. Ngoài ra, ta còn phải học hỏi thêm bạn bè thầy cô giáo và quan trọng là chúng ta phải luôn chủ động trong việc học tránh sự sao chép học tủ, học lệch để có thể phát huy được tính sáng tạo cùa mình. Luôn tạo cho mình một thói quen học tập thật nghiêm túc, say mê, sáng tạo. Học phải đi đôi với hành bởi có như vậy chúng ta mới nhớ lâu kiến thức đã được học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Em Hãy Giải Thích Lời Khuyên Của Lê Nin Học Học Nữa Học Mãi Câu Hỏi 655155
  • Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lênin: Học, Học Nữa, Học Mãi
  • Giải Thích Lời Khuyên Của Lênin Học Học Nữa Học Mãi
  • Dàn Ý Giải Thích Câu Học Học Nữa Học Mãi
  • Dàn Ý Giải Thích Câu Nói “học
  • Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lênin: Học, Học Nữa, Học Mãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Em Hãy Giải Thích Lời Khuyên Của Lê Nin Học Học Nữa Học Mãi Câu Hỏi 655155
  • Em Hãy Giải Thích Nội Dung Lời Khuyên Của Lênin: Học, Học Nữa, Học Mãi.
  • Giải Thích Câu Nói Lời Nói Gói Vàng, Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua …
  • Giải Thích Câu Tục Ngữ Lời Nói Gói Vàng
  • Giải Thích: Lời Nói Gói Vàng Và Lời Nói Chẳng Mất Tiền Mua (Bài Viết 6 Lớp 7)
  • * YÊU CẦU 1:

    I. Mở bài: giới thiệu vấn đề ” Học, học nữa, học mãi”

    Đối với mỗi con người chúng ta, việc học tập là vô cùng cần thiết và quan trọng. học để chúng ta lĩnh hội kiến thức và phục vụ cho công việc, cho cuộc sống sau này. Chính vì thế mà việc học là một việc mỗi con người chúng ta đều phải học. nhưng học như thế nào cho đúng, cho hiệu quả thì ai có thể làm được. nhà triết học Lê- Nin đã có một câu nói về cách học mà chúng ta cần phải học hỏi, đó là ” Học, học nữa, học mãi”. Để biết rõ hơn về câu nói này, ta cùng đi tìm hiểu thế nào là ” Học, học nữa, học mãi”

    II. Thân bài

    1. Giải thích thế nào là ” Học, học nữa, học mãi”

    – Học: là thúc giục con người bắt đầu học tập, lĩnh hội và tiếp thu kiến thức, tìm hiểu và chiếm lĩnh các kiến thức.

    – Học nữa: ” học” đã thúc giục ta bắt đầu học, thì ” học nữa” thúc giục ta tiếp tục học tập, đã học rồi nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục học nữa, học nhiều hơn nữa.

    – Học mãi: học tập là một vấn đề quan trọng, một công việc mãi mãi với cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cần phải luôn học hỏi và học tập dù là bất kì ai, bất kì chức vụ cao quý nào trong xã hội.

    2. Ý nghĩa của việc ” Học, học nữa, học mãi”

    – Học tập là một trong hình thức giúp ta tồn tại và phát triển trong xã hội

    – Xã hội luôn vận động, luôn phát triển và tạo ra những kiến thức mới, những điều mới mẻ. nếu không học tập và học hỏi thì chúng ta sẽ bị tụt hậu so với xã hội.

    – Trong cuộc sống thì người tài giỏi không thiếu, nếu ta không học tập thì bạn sẽ kém hơn so với học, và sẽ trở nên vô ích hơn so với học.

    3. Nên học tập ở đâu và phương pháp học

    – Chúng ta nên trau dồi kiến thức ở trường lớp, bạn bè, thầy cô và xã hội,….

    – Khi không còn ngồi trên ghế nhà trường ta cũng có thể học: học trong cuộc sống, học trong sách vở, học trong công việc,….

    – Học bất cứ đâu, bất cứ nơi nào bạn có thể.

    4. Nêu những lối học sai lầm

    – Học tủ, học vẹt,….

    – Học vì lợi ích

    – Học vì ép buột

    III. Kết bài: nêu cảm nghĩ về ” Học, học nữa, học mãi”

    Việc học là một việc rất bổ ích và quan trọng với mỗi chúng ta. Nhờ vào học tập mà ta có công việc, có chỗ đứng trong xã hội, có được niềm tin yêu của mọi người. Câu nói của Lê- Nin khuyên ta nên học ở mọi lúc, mọi nơi đâu có thể. Chính vì thế hãy ” Học, học nữa, học mãi” .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Lời Khuyên Của Lênin Học Học Nữa Học Mãi
  • Dàn Ý Giải Thích Câu Học Học Nữa Học Mãi
  • Dàn Ý Giải Thích Câu Nói “học
  • Giải Thích Và Hướng Dẫn Cách Xin Quan Âm Linh Xâm
  • Giải Quẻ Xăm Số 49
  • Em Hãy Giải Thích Nội Dung Và Ý Nghĩa Lời Khuyên Của Lênin: ‘học, Học Nữa, Học Mãi’.

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Gian Ta Có Câu: Lời Chào Cao Hơn Mâm Cổ. Em Hiểu Câu Nói Đó Như Thế Nào?
  • Giải Getting Started Unit 4 Sgk Tiếng Anh 9 Mới
  • Soạn Anh 9: Unit 4. Speak
  • Soạn Anh 9: Unit 4. Write
  • Giải Getting Started Unit 1 Sgk Tiếng Anh 9 Mới
  • Em hãy giải thích nội dung và ý nghĩa lời khuyên của Lênin: ‘Học, học nữa, học mãi’.

    Nói đến học chúng ta hiểu ngay là quá trình khám phá và tiếp thu những tinh hoa kiến thức của nhân loại. Học theo đó mà hướng đến việc mở rộng khả năng hiểu biết, hướng đến việc rèn luyện kĩ năng. Và từ đó mà tạo dựng nền móng vững chắc cho nghề nghiệp của mình. Học không chỉ ở trường, mà chúng ta còn học ở gia đình, ở ngoài xã hội. Học không chỉ cứ nhằm đến những kiến thức khoa họ lớn lao mà việc học chỉ đơn giản là việc học ăn, học nói, học cách cư xử, đối đãi, giao tiếp hằng ngày. Như vậy học là một quá trình luyện rèn toàn diện và diễn ra ở khắp mọi nơi. Nó hướng đến mục tiêu giúp cho bản thân mỗi chúng ta trở thành những con người hoàn thiện, có đức, có tài và có ích cho sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng tương lai.

    Vì sao Lê Nin lại dùng từ học nữa và học mãi để răn dạy thế hệ đi sau. Học nữa là học để nâng cao trình độ, để mở mang vốn trí thức cho bản thân mình. Tri thức của con người là vô cùng, vô tận, mà tri thức nào cũng đẹp, cũng hay, cũng cần thiết và hữu ích. Thế nên chúng ta phải rèn luyện thói quen không ngừng học tập. Học tập là sự nghiệp suốt cuộc đời. Vì thế mà Lênin mới gọi đó là học nữa học mãi. Mỗi con người chúng ta có học nữa học mãi suốt cuộc đời cũng không bao giờ là đủ. Làm sao trong đời một con người có thể học hết được vốn tri thức của nhân loại. Điều này lại một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của việc học cũng như nhiệm vụ của mỗi con người là không ngừng học tập.

    Ngày nay trình độ khoa học kĩ thuật cũng ngày một phát triển hiện đại. Vì thế nếu chúng ta không xác định được rõ mục đích và động cơ học tập, chúng ta sẽ bi tụt hậu trước sự phát triển quá nhanh của xã hội. Khi ấy chúng ta sẽ trở thành những người vô dụng. Cuộc sống của chúng ta sẽ nhàm chán và vất vả biết nhường nào nếu không có tri thức.

    Lời căn dặn của Lê Nin thật bất hủ, nó có ý nghĩa rất lớn và đặc biệt nó rất phù hợp với truyền thống hiếu học của dân tộc chúng ta. Truyền thống ấy trở thành ngọn lửa thắp sáng niềm tin, ước mơ và khát khao cho không biết bao thế hệ. Vì thế để xứng đáng với quá khứ của cha ông, thế hệ trẻ chúng ta ngay từ hôm nay cũng phải ra sức học hành, phải coi việc học là mục tiêu, là đích đến và tương lai bền vững lâu dài.

    Ngày nay chúng ta vẫn coi câu nói của Lê Nin như một khẩu hiệu về niềm ham mê học tập mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Rất nhiều trường học để dòng chữ: Học, học nữa, học mãi, ngay trước cổng trường, như một lời nhắc nhở chúng ta không ngừng học tập. Chỉ có học tập con người mới tiếp thu được kiến trức của nhân loại, từ đó giúp ích cho bản thân và cho nước nhà.

    Nguồn: Vietvanhoctro.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Lời Khuyên Của Lê
  • Soạn Bài Ôn Tập Truyện Dân Gian (Chi Tiết)
  • Giải Vở Bài Tập Toán 4 Bài 100: Phân Số Bằng Nhau
  • Bài Tập Có Lời Giải Trang 93, 94 Sbt Sinh Học 6
  • Bài Giảng Và Lời Giải Chi Tiết Vật Lí 6, Bảng Giá 12/2020
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100