Top 19 # Giải Bài Tập Trong Sbt Ngữ Văn 7 / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Caffebenevietnam.com

Giải Soạn Bài Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1 / 2023

Ngày xưa, trên hòn đảo Crét của Hi Lạp, nảy sinh một con quái vật đầu người mình bò vô cùng hung ác. Vua của hòn đảo đó đã phải cho xây một mê cung để nhốt nó vào trong. Tuy nhiên, hàng năm, vẫn có những nam nữ thanh niên thành A-ten bị cống nạp cho con quái vật kia ăn thịt. Để diệt trừ tận gốc tai hoạ, một người anh hùng tên là Tê-dê quyết đi vào mê cung…

Chắc em đoán ra ngay : chàng Tê-dê sẽ chiến thắng con quỷ dữ. Nhưng vẫn còn vấn đề : Tê-đê làm sao thoát khỏi mê cung, nơi đã vào thì không thể nào biết được lối ra ?

Chuyện kể rằng : Tê-dê may mắn được công chúa A-ri-an của hòn đảo đó đem lòng yêu dấu. Nàng công chúa ấy dã trao cho Tê-dê một cuộn chỉ, để khi vào mê cung, Tê-dê đi đến đâu thì sẽ gỡ dần cuộn chỉ ra đến đó. Và cuộn chỉ của A-ri-an đã giúp chàng nhận ra được con đường thoát khỏi mê cung sau khi giết xong quái vật.

Do đó, câu chuyện về cuộn chỉ A-ri-an có thể gợi ra ý nghĩ : Văn bản không mạch lạc thì cũng chẳng khác nào Tê-dê không có cuộn chỉ kia. Tê-dê sẽ không thể ra khỏi mê cung nếu không có cuộn chỉ của nàng công chúa đó. Tương tự thế, một văn bản sẽ có nguy cơ trở thành mê cung, nếu thiếu sợi chỉ đỏ xuyên suốt có tên là mạch lạc mà người đọc (người nghe) có thể nắm lấy và lần theo, để dần hiểu ra điều cốt lõi đã được người viết (người nói) gửi gắm trong văn bản.

2. Tìm hiểu tính mạch lạc trong văn bản viết về phong cảnh làng mạc ngày mùa của nhà văn Tô Hoài (in ở trang 33-34, SGK). Trả lời:

Để làm được bài tập này, em cần phải :

a) Đọc kĩ văn bản để nhận ra ý tứ chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ đoạn văn (sắc vàng trù phú, đầm ấm của làng quê vào lúc chớm đông, giữa ngày mùa).

b) Cách dẫn dắt ý tứ ấy theo một “dòng chảy” hợp lí : đầu tiên, giới thiệu bao quát về màu vàng trong thời gian và trong không gian ; tiếp đó, tả lại những sắc độ khác nhau trong từng sự vật, hiện tượng cụ thể trong thời gian và không gian đó ; cuôì cùng là nhận xét, cảm xúc chung. Nhờ có cái dòng chảy hợp lí, thông suốt ấy mà đoạn văn trở nên mạch lạc.

3. Bài tâp 1, trang 34, SGK. Trả lời:

Cần xem xét kĩ : Tác giả muốn kể về chuyện gì là chính ? Cuộc chia tay giữa người bố với người mẹ, cuộc chia tay giữa bố mẹ và con cái, hay là cuộc chia tay của hai đứa trẻ và của hai con búp bê ? Chỉ khi nắm chắc điều đó, em mới có thể trả lời chính xác câu hỏi được nêu trong bài tập.

4. Hùng khoe với Tuấn rằng mình đã xem trước và có thể đọc thuộc lòng bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến trong SGK :

Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Cải chửa ra cây, cà mới nụ,

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây, ta với ta.

Tuấn cười bảo : Chỉ xét về mặt mạch lạc trong văn bản thôi thì cũng có thể chắc chắn rằng Hùng đã đọc sai. Dứt khoát nhà thơ phải nói không có cá thịt trước, rồi mới nói không có rau dưa sau ; do đó, hai câu “Cải chửa ra cây… mướp đương hoa” không thể nào đặt trước hai câu “Ao sâu nước cả… khó đuổi gà” như Hùng đọc được.

Em thấy ý kiến của Tuấn có lí hay vô lí ? Vì sao ? Trả lời:

Dễ thấy rằng, trong bài thơ, sự thiếu thốn về vật chất được kể theo một trình tự tăng dần : Chợ ở xa, người có thể đi chợ lại vắng. Nhìn quanh trong nhà thì đã không có cá thịt, lại không có rau dưa, đến miếng trầu đãi khách cũng không có nốt. Nếu đã nói không có rau ăn rồi lại còn phân trần là mình cũng chẳng có thịt cá đâu thì thật vô lí và cũng … vô duyên. Một thi hào như Nguyễn Khuyến chắc chắn không thể để mình rơi vào tình trạng đó. (Đấy là chưa kể rằng, như sau này các em sẽ học, cách đọc của Hùng còn làm cho bài thơ trở nên sai luật.)

5. Một bạn nhỏ người Tuy-ni-di đã viết cho người mẹ của mình những lời thiết tha, đau đớn như sau :

Ôi mẹ, mẹ là nguồn gốc gây ra nỗi đau khổ của con, mẹ là nguyên nhân đẩy con đến cùng đường. Mẹ đã đẩy con thành đứa trẻ mồ côi, thật vậy, vì đứa trẻ mồ côi không phải là bố mẹ chúng đã qua đời… ; không, trẻ mồ côi là đứa con mà mẹ nó đã từ bỏ chức năng làm mẹ hay là đứa con mà bố nó bị ai đó chiếm đoạt. Mẹ, khi mà mẹ đã không có hạnh phúc trong cuộc sống với bố con và không chịu được sự chuyên chế của ông, mẹ đã hủy hoại đời con. Có phải con đã không đáng được mẹ hi sinh đời mình ?

(Theo Những bức thư đoạt giải UPU)

Có bạn cho đây là một bức thư không thật mạch lạc, vì hai ý trong bức thư này rời rạc, mâu thuẫn với nhau. Nhận xét như thế có đúng không ? Vì sao ?

Đoạn thư nói đến hai tình cảm khác nhau, nhưng đều thể hiện một tình yêu chung, tình yêu đớn đau của đứa con bất hạnh đối với người mẹ đã bỏ rơi mình. Hai ý ấy gắn bó chặt chẽ với nhau trong một mối liên hệ ý nghĩa tương phản (đã được nói đến trong SGK).

Giải Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1 / 2023

1. Bài tập 1, trang 18, SGK.

Trả lời:

Phần Ghi nhớ trong SGK đã nêu rõ, “để văn bản có tính liên kết” thì :

– Nội dung của các câu (đoạn) phải thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau.

– Các câu (đoạn) phải được nối với nhau bằng những từ (câu) thích hợp.

Dựa vào đó, có thể dễ dàng tìm ra : thứ tự hợp lí của các câu được dẫn trong bài tập phải là (l)-(4)-(2)-(5)-(3).

2. Bài tập 2, trang 19, SGK.

Trả lời:

Cần xét xem :

– Vì sao SGK gợi ý : Về hình thức, các câu văn này có vẻ rất “liên kết” (câu sau có các từ nhắc lại những từ ngừ đã dùng trong câu,trước, hoặc có các từ dùng để nối với câu trước).

3. Bài tập 5, trang 19, SGK.

Trả lời:

Dễ thấy rằng, để có một văn bản, ta cần phải :

a) Có những câu (đoạn) thích hợp, tựa như anh trai cày trong truvện Cây tre trăm đốt, để có cây tre thì trước nhất, phải có những đốt tre (mà phải đúng là đốt của cây tre, có thể làm thành cây tre, chứ không thể là của một loài cây nào khác).

b) Nhưng chỉ thế thôi chưa đủ. Trong truyện cổ, anh trai cày sẽ không thể có cây tre, nếu không được Bụt dạy cách hô “khắc nhập” để nối các đốt tre. Việc làm văn cũng thế. Người tạo lập văn bản phải biết cách làm cho các câu (đoạn) văn của mình nối liền với nhau, gắn chặt vào nhau, để trở thành một khối ý nghĩa thống nhất, rõ ràng, chặt chẽ, khiến người đọc (nghe) dễ dàng tiếp nhận về mặt đó, có thể thấy, việc nắm được phép liên kết văn bản cũng có tầm quan trọng tương tự như việc biết được phép màu làm cho các đốt tre rời rạc trở nên một cây tre thật sự tốt tươi.

Trả lời:

“Đến người viết những câu này cũng không hiểu mình nói gì nữa là người đọc” là một cách nói để chứng tỏ mấy “câu văn cộc lốc” ấy là vô cùng tối tăm, khó hiểu. Bởi theo nhà văn Nguyễn Công Hoan, các câu đó :

– Thiếu một sợi dây tư tưởng để chúng có thể mang một nội dung ý nghĩa thống nhất. Nói cách khác, các câu đó không có sự liên kết về mặt nội dung.

– Là các câu “cóc nhảy”, tức là đứt quãng, không liền mạch, không kết dính được với nhau. Giữa các câu đó không có cả sự liên kết về hình thức.

5. Một bạn đã kể tóm tắt văn bản Mẹ tôi (Bài 1 – SGK) như sau :

Em ấy đã có những lời nói thiếu lễ độ với mẹ mình. Người bố đã gửi cho con một bức thư. Tác giả Ét-môn-đô đơ A-mi-xi đã cho ta thấy hình ảnh một người phụ nữ sẵn sàng hi sinh hết thảy vì hạnh phúc của con mình. Bố của En-ri-cô rất giận En-ri-cô vì em đã dám xúc phạm một con người cao quý, một người rất thương yêu em. En-ri-cô bị buộc phải xin lỗi mẹ và hứa sẽ không bao giờ được làm như thế nữa.

Hãy so sánh với văn bản Mẹ tôi và cho biết, bản tóm tắt có những lỗi nào khiến cho nó lủng củng và khó hiểu.

Trả lời:

Lời tóm tắt trên không sai nội dung văn bản Mẹ tôi trong SGK nhưng rất lủng củng, khó hiểu. Nguyên nhân chủ yếu là vì không có các từ ngữ thích đáng để liên kết các câu văn lại với nhau.

Có thể thay đổi.một số từ ngữ trong bản tóm tắt đó để cho các câu văn liên kết được và bản tóm tắt trở nên hiểu được. Có thể tham khảo bản tóm tắt sau :

Cậu bé En-ri-cô đã có những lời nói thiếu lễ độ với mẹ mình. Vì thế, bô’của En-ri-cô đã gửi cho em một bức thư. Bức thư của ông đã làm hiện lên hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, một người phụ nữ sẵn sàng hi sinh hết thảy vì hạnh phúc của con mình. Bố của En-ri-cô rất giận En-ri-cô vì em đã dám xúc phạm một con người cao quý đến thế một người thương yêu em đến thế. Ông buộc En-ri-cô phải xin lỗi mẹ và hứa sẽ không bao giờ được làm như thế nữa.

Soạn Bài Mạch Lạc Trong Văn Bản Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1 / 2023

Ngày xưa, trên hòn đảo Crét của Hi Lạp, nảy sinh một con quái vật đầu người mình bò vô cùng hung ác. Vua của hòn đảo đó đã phải cho xây một mê cung để nhốt nó vào trong. Tuy nhiên, hàng năm, vẫn có những nam nữ thanh niên thành A-ten bị cống nạp cho con quái vật kia ăn thịt. Để diệt trừ tận gốc tai hoạ, một người anh hùng tên là Tê-dê quyết đi vào mê cung…

Chắc em đoán ra ngay : chàng Tê-dê sẽ chiến thắng con quỷ dữ. Nhưng vẫn còn vấn đề : Tê-đê làm sao thoát khỏi mê cung, nơi đã vào thì không thể nào biết được lối ra ?

Chuyện kể rằng : Tê-dê may mắn được công chúa A-ri-an của hòn đảo đó đem lòng yêu dấu. Nàng công chúa ấy dã trao cho Tê-dê một cuộn chỉ, để khi vào mê cung, Tê-dê đi đến đâu thì sẽ gỡ dần cuộn chỉ ra đến đó. Và cuộn chỉ của A-ri-an đã giúp chàng nhận ra được con đường thoát khỏi mê cung sau khi giết xong quái vật.

Do đó, câu chuyện về cuộn chỉ A-ri-an có thể gợi ra ý nghĩ : Văn bản không mạch lạc thì cũng chẳng khác nào Tê-dê không có cuộn chỉ kia. Tê-dê sẽ không thể ra khỏi mê cung nếu không có cuộn chỉ của nàng công chúa đó. Tương tự thế, một văn bản sẽ có nguy cơ trở thành mê cung, nếu thiếu sợi chỉ đỏ xuyên suốt có tên là mạch lạc mà người đọc (người nghe) có thể nắm lấy và lần theo, để dần hiểu ra điều cốt lõi đã được người viết (người nói) gửi gắm trong văn bản.

2. Tìm hiểu tính mạch lạc trong văn bản viết về phong cảnh làng mạc ngày mùa của nhà văn Tô Hoài (in ở trang 33-34, SGK). Trả lời:

Để làm được bài tập này, em cần phải :

a) Đọc kĩ văn bản để nhận ra ý tứ chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ đoạn văn (sắc vàng trù phú, đầm ấm của làng quê vào lúc chớm đông, giữa ngày mùa).

b) Cách dẫn dắt ý tứ ấy theo một “dòng chảy” hợp lí : đầu tiên, giới thiệu bao quát về màu vàng trong thời gian và trong không gian ; tiếp đó, tả lại những sắc độ khác nhau trong từng sự vật, hiện tượng cụ thể trong thời gian và không gian đó ; cuôì cùng là nhận xét, cảm xúc chung. Nhờ có cái dòng chảy hợp lí, thông suốt ấy mà đoạn văn trở nên mạch lạc.

3. Bài tâp 1, trang 34, SGK. Trả lời:

Cần xem xét kĩ : Tác giả muốn kể về chuyện gì là chính ? Cuộc chia tay giữa người bố với người mẹ, cuộc chia tay giữa bố mẹ và con cái, hay là cuộc chia tay của hai đứa trẻ và của hai con búp bê ? Chỉ khi nắm chắc điều đó, em mới có thể trả lời chính xác câu hỏi được nêu trong bài tập.

4. Hùng khoe với Tuấn rằng mình đã xem trước và có thể đọc thuộc lòng bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến trong SGK :

Đã bấy lâu nay, bác tới nhà,

Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.

Cải chửa ra cây, cà mới nụ,

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Ao sâu nước cả, khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Đầu trò tiếp khách, trầu không có,

Bác đến chơi đây, ta với ta.

Tuấn cười bảo : Chỉ xét về mặt mạch lạc trong văn bản thôi thì cũng có thể chắc chắn rằng Hùng đã đọc sai. Dứt khoát nhà thơ phải nói không có cá thịt trước, rồi mới nói không có rau dưa sau ; do đó, hai câu “Cải chửa ra cây… mướp đương hoa” không thể nào đặt trước hai câu “Ao sâu nước cả… khó đuổi gà” như Hùng đọc được.

Em thấy ý kiến của Tuấn có lí hay vô lí ? Vì sao ? Trả lời:

Dễ thấy rằng, trong bài thơ, sự thiếu thốn về vật chất được kể theo một trình tự tăng dần : Chợ ở xa, người có thể đi chợ lại vắng. Nhìn quanh trong nhà thì đã không có cá thịt, lại không có rau dưa, đến miếng trầu đãi khách cũng không có nốt. Nếu đã nói không có rau ăn rồi lại còn phân trần là mình cũng chẳng có thịt cá đâu thì thật vô lí và cũng … vô duyên. Một thi hào như Nguyễn Khuyến chắc chắn không thể để mình rơi vào tình trạng đó. (Đấy là chưa kể rằng, như sau này các em sẽ học, cách đọc của Hùng còn làm cho bài thơ trở nên sai luật.)

5. Một bạn nhỏ người Tuy-ni-di đã viết cho người mẹ của mình những lời thiết tha, đau đớn như sau :

Ôi mẹ, mẹ là nguồn gốc gây ra nỗi đau khổ của con, mẹ là nguyên nhân đẩy con đến cùng đường. Mẹ đã đẩy con thành đứa trẻ mồ côi, thật vậy, vì đứa trẻ mồ côi không phải là bố mẹ chúng đã qua đời… ; không, trẻ mồ côi là đứa con mà mẹ nó đã từ bỏ chức năng làm mẹ hay là đứa con mà bố nó bị ai đó chiếm đoạt. Mẹ, khi mà mẹ đã không có hạnh phúc trong cuộc sống với bố con và không chịu được sự chuyên chế của ông, mẹ đã hủy hoại đời con. Có phải con đã không đáng được mẹ hi sinh đời mình ?

(Theo Những bức thư đoạt giải UPU)

Có bạn cho đây là một bức thư không thật mạch lạc, vì hai ý trong bức thư này rời rạc, mâu thuẫn với nhau. Nhận xét như thế có đúng không ? Vì sao ?

Trả lời:

Đoạn thư nói đến hai tình cảm khác nhau, nhưng đều thể hiện một tình yêu chung, tình yêu đớn đau của đứa con bất hạnh đối với người mẹ đã bỏ rơi mình. Hai ý ấy gắn bó chặt chẽ với nhau trong một mối liên hệ ý nghĩa tương phản (đã được nói đến trong SGK).

chúng tôi

Giải Soạn Bài Điệp Ngữ Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1 / 2023

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 trang 112 SBT Ngữ Văn 7 tập 1. Phân tích cái hay của điệp ngữ trong bài thơ.

Bài tập 1. Bài tập 1, trang 153, SGK. 2. Bài tập 2, trang 153, SGK. 3. Bài tập 3, trang 153, SGK. 4. Bài tập 4, trang 153, SGK. 5. Điền các điệp ngữ vào chỗ trống trong bài ca dao sau

Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất ?

Khăn …

Khăn vắt lên vai ?

Khăn …

Khăn chùi nước mắt ?

Đèn …

Mà đèn chẳng tắt ?

Mắt …

Mắt không ngủ yên ?

6. Phân tích cái hay của điệp ngữ trong bài thơ sau đây

Ò… ó… o

Ò… ó… o

Tiếng gà

Tiếng gà

Giục quả na

Mở mắt

Tròn xoe

Giục hàng tre

Đâm măng

Nhọn hoắt

Giục hàng chuối

Thơm lừng

Trứng cuốc

Giục hàng đậu

Nảy mầm

Giục bông lúa

Uốn câu

Giục con trâu

Ra đồng

Giục đàn sao

Trên trời

Chạy trốn

Gọi ông trời

Nhô lên

Rửa mặt

Ôi bốn bề

Bát ngát

Tiếng gà

Ò… ó… o

Ò… ó… o

Gợi ý làm bài

1. a) Đoạn thứ nhất : Em hãy đặt lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào bối cảnh lịch sử của nước ta năm 1945 để thấy rõ ở thời điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vấn đề gì (vấn đề mà tác giả lặp đi lặp lại).

b) Đoạn thứ hai : Tìm từ được lặp lại nhiều lần (điệp ngữ) và giải thích vì sao tác giả dùng điệp ngữ đó.

2. Trước hết, tìm các điệp ngữ, sau đó vận dụng kiến thức đã học để xác định dạng của điệp ngữ này (điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp hay điệp ngữ chuyên tiếp).

3. a) Sử đụng điệp ngữ là để đạt hiệu quả diễn đạt tốt chứ không phải viết những câu văn rườm rà, lặp đi lặp lại các từ ngữ một cách không cần thiết như trong đoạn văn này.

b) Bỏ bớt những từ ngữ trùng lặp không cần thiết. Có thể gộp hai hoặc nhiều câu thành một câu.

4. Khi viết đoạn văn phải chú ý sử dụng điệp ngữ có tác dụng tốt như đã học.

5. Đọc qua cả bài để tìm xem ở đây tác giả muốn nhấn mạnh điều gì, từ đó xác định điệp ngữ thích hợp.

6. Chú ý đến tác dụng của các điệp ngữ trong việc tạo âm thanh, cảnh sắc làng quê lúc rạng sáng.