Giải Soạn Bài Khởi Ngữ Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sang Thu Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Sang Thu Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt
  • Soạn Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Ngắm Trăng
  • Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 5 SBT Ngữ Văn 9 tập 2. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    1. Bài tập 1, trang 8, SGK.

    a) Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm hết sức.

    b) – Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

    c) Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu.

    d) Làm khí tượng, ở được cao thế mới là lí tưởng chứ.

    Trả lời:

    Để tìm được thành phần khởi ngữ, cần đọc kĩ phần Ghi nhớ (trang 8, SGK) và thực hiện các việc sau đây :

    – Tìm chủ ngữ, vị ngữ của câu. Nên tìm vị ngữ trước. Từ vị ngữ sẽ tìm được chủ ngữ : chủ ngữ là thành phần chính nêu tên sự vật hiện tượng có hoạt động, đặc điểm, trạng thái được miêu tả ở vị ngữ. Ví dụ : trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức. ” vị ngữ là cụm từ khổ tâm hết sức, còn chủ ngữ là từ ông.

    – Xem trong câu có từ hoặc cụm từ nào đứng trước chủ ngữ không. Ví dụ, trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức.” có một cụm từ đứng trước chủ ngữ .

    – Xem từ hoặc cụm từ đứng trước chủ ngữ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu không. Nếu từ, cụm từ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu thì đó là khởi ngữ.

    – Xem trước từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ không. Nếu từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ , được thì đó là khởi ngữ. Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu bắt buộc phải có đối với khởi ngữ mà chỉ là một dấu hiệu thường gặp. Cũng có trường hợp khởi ngữ không có dấu hiệu này.

    2. Bài tập 2, trang 8, SGK.

    Hãy viết lại câu sau bằng cách chuyển phần in đậm thêm khởi ngữ:

    a) Anh ấy làm bài cẩn thận lắm.

    b) Tôi hiểu rồi nhưng tôi vẫn chưa giải được.

    Trả lời:

    Để trở thành khởi ngữ, phần in đậm cần được chuyển lên trước chủ ngữ.

    3. Trong hai câu cho sau đây câu nào chứa khởi ngữ và khởi ngữ là những từ ngữ nào ?

    Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của, chỉ biết lấy nhiều làm quý. Đối với việc học tập, cách đọc đó chỉ là lừa mình dối người, đối với việc làm người thì cách đọc đó thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém.

    (Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu ghép chứa hai khởi ngữ.

    4. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    Anh Nhuận Thổ nói :

    – Lạy cụ ạ ! Thưa cụ con đã nhận được, /…/

    (Lỗ Tấn, Cố hương)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu chứa khởi ngữ. Chỉ có thể chuyển từ làm khởi ngữ vào một vị trí thích hợp là ở sau cụm động từ làm vị ngữ ; khi đó, nó trở thành một bộ phận của cụm động từ này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Soạn Bài Lựa Chọn Trật Tự Từ Trong Câu Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Quê Hương Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Hội Thoại Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Vượt Thác Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Vượt Thác Sgk Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách (Trích) Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Tổng Kết Về Từ Vựng (Tiếp Theo)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Xưng Hô Trong Hội Thoại
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt (Tuần 14)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Số Từ Và Lượng Từ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6: Số Từ Và Lượng Từ
  • 1. Tóm tắt nội dung văn bản, nhận xét về bố cục của đoạn trích Bàn về đọc sách.

    Trả lời:

    Nội dung đoạn trích xoay quanh các vấn đề cơ bản : vai trò của việc đọc sách, cách chọn sách để đọc, phương pháp đọc sách.

    Nhận xét về cách sắp xếp các vấn đề nghị luận của tác giả :

    – Nội dung nào trình bày trước, vì sao ?

    – Kết hợp nhuần nhuyễn giữa các nội dung bàn luận (cách chọn sách để đọc và phương pháp đọc). Làm như thế có thể trình bày gọn mà sâu các ý kiến ra sao ?

    2. Phân tích quan niệm của Chu Quang Tiềm về việc chọn sách để đọc.

    Trả lời:

    Phân tích quan niệm của Chu Quang Tiềm về việc chọn sách để đọc có thể triển khai theo các hướng sau :

    – Tại sao lại phải chọn lựa ? Để trả lời câu hỏi này, cần chú ý đoạn Lịch sử càng tiến lên… lối đánh “tự tiêu hao lực lượng”trong bài nghị luận.

    + Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu, dễ sa vào lối “ăn tươi nuốt sống” chứ không kịp tiêu hoá, không biết nghiền ngẫm.

    + Sách nhiều khiến người đọc khó chọn lựa, lãng phí thời gian và sức lực với những cuốn không thật có ích.

    – Cần chọn lựa như thế nào ? Kết hợp giữa đọc loại sách chuyên sâu và loại sách thường thức, phổ thông ra sao ?

    + Không tham đọc nhiều, đọc lung tung mà phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ các cuốn sách, các tài iiệu cơ bản thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu của mình.

    + Cùng với đọc tài liệu chuyên sâu cũng không thể xem thường việc đọc các loại sách thường thức, loại sách ở lĩnh vực gần gũi, kế cận với chuyên môn của mình vì “không biết rộng thì không thể chuyên, không thông thái thì không thể nắm gọn”.

    3. Về phương pháp đọc sách, Chu Quang Tiềm đưa ra các ý kiến như thế nào ? Suy nghĩ của em về các ý kiến ấy.

    Trả lời:

    Về phương pháp đọc sách, Chu Quang Tiềm đã đưa ra những ý kiến thật cụ thể, sâu sắc. Có thể phân tích và trình bày suy nghĩ của mình theo các ý :

    – Biết lựa chọn sách để đọc đã là một điểm quan trọng thuộc phương pháp đọc sách.

    – Không nên đọc lướt qua, đọc chỉ để trang trí bộ mặt mà phải vừa đọc vừa suy nghĩ, “trầm ngâm tích luỹ, tưởng tượng tự do”, nhất là đối với những quyển sách có giá trị.

    – Không nên đọc tràn lan, theo kiểu tuỳ hứng cá nhân mà cần đọc có kế hoạch và có hệ thống.

    Khi trình bày suy nghĩ của em về các ý kiến ấy, cần căn cứ vào bối cảnh xã hội, văn hoá hiện nay (sách ngày càng nhiều, văn hoá đọc có nguy cơ bị các loại hình khác lấn át,…), cần xuất phát từ thực tế đọc sách và học tập của các em.

    4. Nhận xét về cách viết (lập luận, dẫn dắt,…) của tác giả bài nghị luận.

    Trả lời:

    Bài nghị luận của Chu Quang Tiềm có sức thuyết phục lớn trước tiên bởi nội dung các lời bàn thật xác đáng, sâu sắc, vừa đạt lí vừa thấu tình. Mặt khác, sức thuyết phục ấy còn từ cách trình bày, lập luận. Có thể phân tích điều này qua các phương diện:

    – Bố cục của bài viết chặt chẽ, hợp lí, các ý kiến được dẫn dắt rất tự nhiên.

    – Phân tích cụ thể bằng giọng chuvện trò, tâm tình thân mật để chia sẻ kinh nghiệm thành công, thất bại trong thực tế.

    – Đặc biệt, tác giả bài nghị luận có cách viết thật giàu hình ảnh. Nhiều ý kiến được minh hoạ bằng hình ảnh ví von cụ thể, thú vị. Chẳng hạn : “Liếc qua” tuy rất nhiều, nhưng “đọng lại” thì rất ít, giống như ăn uống…” ; “Chiếm lĩnh học vấn giống như đánh trận…” ; “đọc nhiều mà không chịu nghĩ sâu, như cưỡi ngựa qua chợ…” ; “giống như con chuột chui vào sừng trâu, càng chui sâu càng hẹp, không tìm ra lối thoát”…

    5. Trình bày thu nhận của em sau khi đọc – hiểu văn bản Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm.

    Trả lời:

    Nên trình bày thu nhận theo các ý sau :

    – Nhận thức đầy đủ, thấm thía hơn về tầm quan trọng của sách, ý nghĩa của việc đọc sách.

    – Cách lựa chọn sách để đọc.

    – Cách đọc sách cụ thể (cần nghiền ngẫm, biết liên hệ,…)

    – Học tập về cách trình bày ý kiến, cách viết bài nghị luận làm sao cho hay, cho thuyết phục.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bàn Về Đọc Sách
  • Bài 23. Viếng Lăng Bác
  • Soạn Bài Viếng Lăng Bác
  • Soạn Bài: Viếng Lăng Bác (Siêu Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Khởi Ngữ Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Câu Phủ Định Ngắn Nhất
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 8 Bài 21: Câu Trần Thuật
  • Câu Cầu Khiến Sbt Văn Lớp 8 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Trang 24
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Ôn Tập Truyện Lớp 9
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Tổng Kết Phần Văn Học Nước Ngoài
  • Giải câu 1, 2, 3, 4 trang 5 SBT Ngữ Văn 9 tập 2. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    1. Bài tập 1, trang 8, SGK.

    a) Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm hết sức.

    b) – Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

    c) Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu.

    d) Làm khí tượng, ở được cao thế mới là lí tưởng chứ.

    Trả lời:

    Để tìm được thành phần khởi ngữ, cần đọc kĩ phần Ghi nhớ (trang 8, SGK) và thực hiện các việc sau đây :

    – Tìm chủ ngữ, vị ngữ của câu. Nên tìm vị ngữ trước. Từ vị ngữ sẽ tìm được chủ ngữ : chủ ngữ là thành phần chính nêu tên sự vật hiện tượng có hoạt động, đặc điểm, trạng thái được miêu tả ở vị ngữ. Ví dụ : trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức. ” vị ngữ là cụm từ khổ tâm hết sức, còn chủ ngữ là từ ông.

    – Xem trong câu có từ hoặc cụm từ nào đứng trước chủ ngữ không. Ví dụ, trong câu “Điều này ông khổ tâm hết sức.” có một cụm từ đứng trước chủ ngữ .

    – Xem từ hoặc cụm từ đứng trước chủ ngữ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu không. Nếu từ, cụm từ có nêu lên đề tài được nói đến trong câu thì đó là khởi ngữ.

    – Xem trước từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ không. Nếu từ, cụm từ ấy có hoặc có thể thêm các quan hệ từ , được thì đó là khởi ngữ. Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu bắt buộc phải có đối với khởi ngữ mà chỉ là một dấu hiệu thường gặp. Cũng có trường hợp khởi ngữ không có dấu hiệu này.

    2. Bài tập 2, trang 8, SGK.

    Hãy viết lại câu sau bằng cách chuyển phần in đậm thêm khởi ngữ:

    a) Anh ấy làm bài cẩn thận lắm.

    b) Tôi hiểu rồi nhưng tôi vẫn chưa giải được.

    Trả lời:

    Để trở thành khởi ngữ, phần in đậm cần được chuyển lên trước chủ ngữ.

    3. Trong hai câu cho sau đây câu nào chứa khởi ngữ và khởi ngữ là những từ ngữ nào ?

    Thế gian có biết bao người đọc sách chỉ để trang trí bộ mặt, như kẻ trọc phú khoe của, chỉ biết lấy nhiều làm quý. Đối với việc học tập, cách đọc đó chỉ là lừa mình dối người, đối với việc làm người thì cách đọc đó thể hiện phẩm chất tầm thường, thấp kém.

    (Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu ghép chứa hai khởi ngữ.

    4. Trong lời nói của Nhuận Thổ sau đây, câu nào có chứa khởi ngữ ? Hãy chuyển từ làm khởi ngữ đó vào một vị trí thích hợp khác trong câu.

    Anh Nhuận Thổ nói :

    – Lạy cụ ạ ! Thưa cụ con đã nhận được, /…/

    (Lỗ Tấn, Cố hương)

    Trả lời:

    Trong bài tập có một câu chứa khởi ngữ. Chỉ có thể chuyển từ làm khởi ngữ vào một vị trí thích hợp là ở sau cụm động từ làm vị ngữ ; khi đó, nó trở thành một bộ phận của cụm động từ này.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khởi Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Nêu Ví Dụ Dễ Hiểu (Ngữ Văn 9)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Liệt Kê
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 1
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Ngôi Kể Trong Văn Tự Sự
  • Soạn Bài Kể Chuyện Tưởng Tượng
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 9: Viết Bản Tập Làm Văn Số 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 6 Bài 9: Thứ Tự Kể Trong Văn Bản Tự Sự
  • Giải Vở Bài Tập Ngữ Văn 9 Bài 5: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bài 5 Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9 SGK

    Ngữ văn lớp 6 bài 9: Viết bản tập làm văn số 2

    . Đây là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Ngữ văn của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

    Viết bản tập làm văn số 2

    Đề 1: Kể một việc tốt mà em đã làm.

    Đề 2: Kể về một lần em mắc lỗi.

    Đề 3: Kể về một thầy giáo hay một cô giáo mà em quý mến.

    Đề 4: Kể về một kỉ niệm hồi thơ ấu làm em nhớ mãi.

    Đề 5: Kể về một tấm gương tốt trong học tập hay trong việc giúp đỡ bạn bè mà em biết.

    Đề 1: Hãy kể lại một việc làm khiến bố mẹ em vui lòng.

    Bài làm

    Từng ngày, từng ngày trôi qua, mỗi ngày đều đem đến những điều kì thú. Trong những ngày ấy, có biết bao điều vui buồn, hờn giận. Nhưng có lẽ nếu nói đến điều đặc biệt nhất của một ngày đối với tôi thì đó là niềm vui. Và trong cuộc sống đầy sắc màu này, niềm vui của bố mẹ tôi là tất cả, tất cả đều ý nghĩa đối với tôi. Thế nên, tôi xin kể lại một việc làm khiến bố mẹ tôi vui lòng trong tuần vừa rồi.

    Ngày hôm ấy, như mọi lần, tôi lại tung tăng chân sáo tới trường. Từng cơn gió nhè nhẹ, mang không khí se lạnh của mùa đông, tạo nên những âm thanh huyền diệu; tiếng lá cây xào xạc, tiếng áo người đi xe bay phần phật. Nghe sao giống tiếng hát mượt mà của chị gió đang dẫn đường cho bác mùa đông già nua, khó tính. Trong cảnh sắc mờ hơi sương, không khí trong lành đến lạ thường, tôi đang nghĩ về những tấm gương tốt mà tôi đã được đọc trên báo thì bỗng có tiếng khóc nhỏ thút thít ở đâu đó lọt vào “giác quan thứ 6” của tôi. Nhìn quanh quẩn, cuối cùng tôi cũng nhìn thấy một em bé khoảng 4 tuổi đang đứng khóc một mình. Tôi nghĩ ngay rằng: “Chắc em bé này bị lạc”. Tôi lại gần em hỏi:

    – Em bị lạc mẹ à?

    Em khóc nấc lên nghẹn lời:

    – Chị ơi… Em muốn. Em muốn mẹ em. Hu… hu… mẹ ơi! Mẹ ơi!

    Tôi nhẹ nhàng vuốt tóc em bé:

    Em bé không nói chỉ gật đầu, tay gạt nước mắt. Tôi mỉm cười thân thiện rồi rút khăn tay ra, lau nước mắt cho em nhỏ.

    Em bé mỉm cười hồn nhiên:

    – Vâng ạ!

    Bổng tôi khựng lại: “Chết rồi, chỉ còn 10 phút nữa là vào lớp rồi. Làm sao đây?”. Tôi đắn đo, nếu dắt em bé đi tìm mẹ thì sẽ bị muộn học nhưng chẳng lẽ lại bỏ em ở đây. Suy nghĩ một lát tôi quyết định đưa em đến đồn công an để các chú ấy tìm mẹ cho em. Thế là, tôi dẫn em bé đến đồn công an.

    Chú công an mỉm cười:

    – Có chuyện gì vậy cháu bé?

    – Dạ thưa chú – Tôi đáp – Cháu đi học thì gặp em bé này bị lạc mẹ ạ!

    Chú công an ngạc nhiên:

    – Vậy, cháu gặp em bé này ở đâu?

    – Dạ, cháu gặp em ở đường cái ạ!

    – Ủa, vậy chắc người phụ nữ vừa đến hỏi con mình là mẹ của đứa bé này rồi. Vì lời báo của chị ta trùng với của cháu mà. Thôi được rồi, cháu để em bé lại đây. Chú sẽ thông báo để ta đón con về.

    – Dạ vâng, thôi cháu chào chú ạ! Nói rồi tôi chạy vội ra ngoài thật nhanh để còn kịp giờ học.

    Trên đường về nhà, tôi luôn mừng thầm vì mình đã làm được một việc tốt. Vừa đến cổng, tôi chạy nhanh vào lòng mẹ, tôi thì thào kể lại chuyện sáng nay. Mẹ tôi mừng rỡ hôn vào trán tôi:

    – Ôi, con mẹ giỏi quá!

    Từ ngoài cửa, bố tôi bước vào xoa đầu tôi:

    – Tốt lắm con gái. Bố tự hào về con. Con đã làm được một việc rất tốt, đáng khen ngợi. Hôm đó, nhà tôi tràn ngập tiếng cười vui. Nhìn bố mẹ cười nói vui vẻ, tôi rất vui bằng một việc làm tuy bé nhỏ nhưng đã đem lại nụ cười hạnh phúc cho bố mẹ.

    Trần Phương Ly

    (Theo Giang Khắc Bình, Nguyễn Thế Hà. 162 bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Hôm đó, tôi dậy sớm để đánh răng rửa mặt chuẩn bị đi học. Hàng sáng, mẹ tôi thường để chảo cơm trên bếp, sao hôm nay lại chẳng thấy đâu. Tôi lên hỏi mẹ: “Mẹ ơi sao mẹ vẫn chưa rang cơm cho bọn con ăn hả mẹ?”. Mẹ nhẹ nhàng nói: “Hôm nay nhà mình hết tiền mua gạo, phải đợi tiền lương của bố và chị con, hay con chịu khó bỏ ăn sáng một buổi có làm sao đâu?”. Tôi bực mình dậm chân dậm tay tỏ vẻ không bằng lòng. Tôi thoáng nhìn thấy nét mặt mẹ rất buồn. Mẹ bảo: “Thôi đi học đi con, mẹ phải đi làm việc của mẹ”. Tôi tức quá phát khóc lên, bỏ cả cặp sách lên giường ngủ tiếp. Tôi không nhớ là hôm nay có bài để chuẩn bị cho tiết kiểm tra ngày mai, thú thực lúc đấy tôi rất bực nên chỉ vì chuyện nhỏ mà quên hết mọi thứ. Tôi chỉ khóc và lẳng lặng lấy chăn ra đắp. Lúc mẹ tôi đánh răng rửa mặt xong mẹ lên nhà khoá cửa để đi làm, mẹ có biết đâu là tôi ở trong nhà. Thế là tôi nằm trong chăn ấm áp, chiếc chăn ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Đến khi thức dậy thì đã quá muộn. Tôi giật mình, bổ chổng bổ choảng vùng dậy thì chao ôi, cửa nhà đã khoá. Tôi ngồi trong nhà kêu ầm ĩ lên nhưng vô hiệu, mọi người đều đi làm hết. Nhà tôi là nhà tập thể, xung quanh lúc đó chỉ có mấy đứa trẻ con. Tôi gọi chúng và bảo: “Các em giúp chị mở cửa ra với”. Một đứa nhanh nhảu nói: “Thế chìa khoá nhà chị để đâu thì chúng em mới mở được chứ!”.

    Tôi đứng ngẩn người ra, quay lại nhìn đồng hồ thì thấy đã mười giờ rưỡi. Bụng tôi lúc này như có móng tay sắc nào cào vào. Mắt tôi hoa lên vì đói. Tôi lục hết mọi thứ trong nhà xem có cái gì ăn không, nhưng vô hiệu, chả có gì cả. Tôi nhìn ra ô cửa sổ thì thấy bạn Lan nhà bên bảo: “Nguyệt ơi sao hôm nay bạn không đi học? Thầy giáo phê bình bạn đấy”. Tôi liền nói: “Lan ơi, hôm nay có bài nào không cho tớ mượn để tớ chép?”. Lan rút trong cặp ra đưa cho tôi bài chuẩn bị cho tiết kiểm tra. Tôi học vẹt được vài bài nhưng không chịu nổi cơn đói. Vừa hay lúc đó mẹ tôi về bảo: “Ôi, sao hôm nay con không đi học?”. Tôi bảo: “Mẹ nhốt con trong nhà thì làm sao con đi được”. Mẹ bảo: “Mẹ không biết, cho mẹ xin lỗi”. Rồi mẹ rút trong túi ra gói mì. Tôi không kịp bỏ vào bát mà vơ lấy vơ để ăn sống. Mẹ tôi ngồi nhìn tôi ăn, chảy cả nước mắt. Tôi nhìn mẹ tôi cũng cảm thấy mẹ không có lỗi trong chuyện này mà chính là mình đã làm cho mẹ lo. Sáng hôm sau đi học, tôi cố gắng làm bài kiểm tra một tiết, may sao được 5 điểm. Tôi ngượng quá, đấy là mình còn lớp phó học tập mà điểm kém như thế. Tôi rất ân hận vì đã làm đau lòng mẹ, và phí công thầy cô đã bỏ sức ra để dạy tôi, tôi rất ân hận và tôi hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa.

    Nguyễn Thị Như Nguyệt

    (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học Sinh lớp 6)

    Đề 3: Hãy kể về một thầy (cô) giáo mà em quý mến. Bài làm

    Có những lúc tôi chợt nhớ đến quá khứ. Trong đôi mắt thơ dại của tôi, cuộc đời là một khúc hát du dương trầm bổng cứ trôi đi mãi, chỉ để lại trong tôi những kỉ niệm buồn vui. Và tôi nhớ tới các thầy, các cô giáo đã từng dạy dỗ, dìu dắt tôi. Trong số đó có một cô giáo rất dịu dàng và cũng là người mẹ thứ hai của tôi, đó là cô Huế, dạy tôi hồi lớp bốn.

    Cứ mỗi sớm mai tới trường, tôi đã thấy cô đứng đó với chiếc áo dài màu xanh tự lúc nào. Cô luôn đến sớm để đón chúng tôi với nụ cười trên môi. Cô hai mươi tám tuổi nhưng trông cô còn rất trẻ. Mái tóc dài óng ả được cô khéo léo cặp ra đằng sau, để lộ khuôn mặt trái xoan duyên dáng và phúc hậu. Đôi mắt to, trong sáng, luôn mở to dưới cặp lông mày lá liễu, nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến và độ lượng. Chiếc mũi tuy không cao nhưng rất phù hợp với khuôn mặt của cô. Đôi môi đỏ thắm, mỏng như cánh hoa hồng, luôn nở nụ cười duyên dáng với hàm răng trắng bóng. Cô có dáng người thanh mảnh và những bước đi nhanh nhẹn. Tính cô thẳng thắn, nghiêm nghị nhưng cũng rất vui vẻ. Cô luôn tận tâm, tận lực, luôn dìu dắt, chỉ mong sao mai sau chúng tôi sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Trong giờ học, những bạn nào không chú ý lắng nghe, ưa nhìn ra ngoài hay gục mặt xuống bàn là cô nhắc nhở ngay, có khi còn bắt đứng lên nhắc lại lời cô giảng hay ý kiến phát biểu xây dựng bài của bạn. Những lúc rảnh rỗi, cô thường kể chuyện cho chúng tôi nghe. Cả lớp cười vang khi nghe cô kể những mẩu chuyện vui, lý thú. Cô không chỉ chăm sóc chúng tôi mà còn quan tâm tìm hiểu các bạn gặp hoàn cảnh khó khăn, luôn tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần. Cô luôn giúp đỡ các đồng nghiệp và các thầy cô khác cũng sẵn sàng giúp đỡ cô. Mỗi lần đi họp về, bố mẹ em lại hết lời khen ngợi về thái độ và năng lực giảng dạy của cô. Bố mẹ rất yên tâm khi tôi được cô dìu dắt để tìm con đường học tập tốt nhất. Nghe cô đọc thơ thật là thích: Lúc thì cao vút như tiếng chim hoạ mi buổi sớm mai, lúc thì đầm ấm, thiết tha. Nghe thơ tôi có cảm giác y như nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: “Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”. Hàng ngày, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến. Nhưng một lần cô gọi tôi lên bảng kiểm tra, hôm đó tôi quá mải chơi nên chưa làm bài tập. Cô phạt tôi điểm không. Tôi xấu hổ trở về bàn và ngồi phịch xuống. Ngước lên nhìn cô, tôi thấy nét mặt cô rất buồn, nhìn tôi với vẻ trách móc. Ngay chiều hôm đó, cô đến nhà tôi nhắc nhở, hỏi han và tranh thủ giảng cho tôi những bài tôi chưa giải được. Nhờ có sự kèm cặp liên tục của cô nên tôi tiến bộ rõ rệt về môn toán. Tôi nhớ lại những ngày tập viết với cô. Chữ tôi xấu cộng thêm tính cẩu thả nên thường bị điểm kém. Trong những giờ học sau cô quan tâm tới nhiều hơn. Cô dạy tôi nắn nót từng chữ từng nét. Tuy bàn tay cô đã nhiều chỗ bị chan sạn nhưng tôi vẫn thấy ấm áp và chan chứa tình thương. Bàn tay ấy đã chịu khó kiên nhẫn trao cho chúng tôi những kiến thức để làm hành trang bước vào đời.

    Vắng đâu đây lời của một nhạc phẩm: “Mẹ của em ở trường là cô giáo mến thương…”. Vâng! Đúng vậy. Làm sao tôi quên được người mẹ đã mở cánh cửa tâm hồn mình đón ánh hào quang của cuộc đời: Cô Thanh Huế.

    Đào Tú Uyên

    (Theo La Kim Liên, Cái Văn Thái… 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Đề 4: Kể lại một lần em mắc lỗi. Bài làm

    Ngồi trong căn nhà ấm cúng và nhìn những cơn mưa rơi ngoài cửa sổ, tôi bồi hồi xúc động nhớ lại một kỉ niệm buồn của tuổi ấu thơ mà có lẽ suốt cuộc đời này tôi sẽ chẳng bao giờ quên.

    Đó là một hôm trời oi bức, Lan đứng trước cổng chờ tôi cùng đi học. Lan gọi rối rít: “Trang ơi! Nhanh lên muộn học rồi”. Tôi cuống quýt mặc quần áo và vội vàng chạy ra cửa. Nội gọi tôi lại và bảo:

    – Cháu đem quần áo mưa đi, hôm nay trời oi dễ mưa lắm đấy! Tôi đang vội nên vừa nghe thấy nội nói, tôi gắt lên:

    – Nội đem cất quần áo mưa đi! Trời như thế này làm sao mà mưa được? Cháu mang nhiều sách lại cầm thêm áo mưa thì nặng lắm. Nói xong, tôi nắm tay Lan cùng chạy đến trường. May sao cho chúng tôi, khi chúng tôi vừa vào lớp thì bác bảo vệ đánh trống truy bài. Bốn tiết học trôi qua nhanh chóng. Nhưng đến tiết thứ năm, tôi nhìn ra bầu trời: Mây đen ùn ùn kéo đến, mỗi lúc một nhiều, gió bắt đầu thổi, sấm chớp liên hồi, báo hiệu một cơn mưa to sắp đến. Tôi hoảng sợ vì mình không mang áo mưa nên sẽ không về được, đến bây giờ tôi mới hiểu những lời nội nói ban chiều. Tôi thật sự ăn năn khi nghĩ về những lời gắt của tôi với nội. Hết tiết năm, tất cả các bạn học sinh đã về hết, bạn thì mang áo mưa, bạn thì có người đến đón. Thế là trong trường, chỉ còn lại mình tôi đứng lủi thủi dưới mái hiên. Bỗng tôi nhìn ra cổng trường thì thấy bóng ai trông quen quá, và tôi reo lên “Nội! Nội ơi! Cháu ở đây mà!”. Nội trông thấy tôi liền tất tưởi đi vào mặc quần áo mưa cho tôi. Vì nội chỉ mang một bộ áo mưa nên nội nhường cho tôi mặc còn nội thì chỉ đội mỗi chiếc nón cũ. Khi đi đường, lúc nào tôi cũng muốn xin lỗi nội nhưng không hiểu sao, môi tôi cứ mím chặt không nói lên lời. Về đến nhà quần áo nội ướt sũng, sau đó nội bị cảm rất nặng. Một tuần sau, nội mất. Bác sĩ bảo với bố mẹ tôi rằng nội đã già, sức khoẻ yếu mà lại bị cảm nặng nên khó lòng qua khỏi. Tôi khóc nhiều lắm, tôi chỉ buồn khi nội ra đi quá sớm, tôi không có đủ thời gian để xin lỗi nội về những hành động thiếu ý thức của mình. Vì không nghe lời nội nên tôi đã gây ra tai hoạ. Tôi thấy xấu hổ, vừa xót thương cho nội, vừa hối hận vô cùng.

    Nếu tôi có điều ước nào thì tôi chỉ muốn ước nội sống lại để tôi nói với nội: “Con xin lỗi nội”, sau đó tôi sẽ được nội âu yếm, vuốt ve và kể cho nghe những câu chuyện cổ tích như thuở nào.

    Vũ Thị Thu Trang

    (Theo Nguyễn Trọng Hoàn, Hà Thanh Tuyền. 162 Bài văn chọn lọc dành cho học sinh lớp 6)

    Đề 5: Kể về kỉ niệm thời thơ ấu làm em nhớ mãi Sông La quê ngoại

    Kì nghỉ hè năm học vừa qua, em được mẹ đưa về thăm quê của bà ngoại em ở Hà Tĩnh đó là lần đầu tiên em được về quê ngoại. Con đường thật dài, phải gần 1000 cây số mất một ngày một đêm ở trên tàu mới tới nơi.

    Đặt chân xuống quê ngoại em ngỡ ngàng, thanh bình và yên tĩnh quá, mở ra trước mắt em là cánh đồng lúa xanh mơn mởn, bao la típ tắp. Em nhắm mắt hít một hơi thật sâu hương lúa thơm dịu nhẹ, không khí trong lành mát mẻ. Từ ga tàu về nhà non một cây số, cả nhà em quyết định đi bộ để ngắm cảnh quê hương. Những ngôi nhà ở đây không cao như ở thành phố, nằm lẩn khuất dưới những bóng cây. Thỉnh thoảng một vài chú chó con thấy người lạ đi qua ngóc mõm lên: Gâu! Gâu! vài tiếng. Mấy bà cụ già thấy mẹ con em đi qua cất tiếng hỏi: “Mẹ con nhà Thu về ngoại chơi đấy à? Gớm lâu quá rồi, mới thấy mẹ con mày!”

    Em thầm nghĩ mọi người ở đây thật cởi mở, nồng hậu đáng yêu đến thế.

    Đi thêm một lúc trước mặt em là một dòng sông hiền hoà êm ả chưa hề thấy ở bất kì con sông nào của Sài Gòn. Thấy em đứng tần ngần, mẹ giải thích, những dòng sông ở miền Trung thường không đục, và đỏ như những con sông ở hai miền Nam và miền Bắc, vì dải đất miền Trung hẹp, sông ngắn ít phù sa, vì vậy những cánh đồng hai bên bờ sông thường ít màu mỡ. Người dân miền Trung vì thế mà cũng nghèo hơn các vùng khác. Nhưng bù lại những dòng sông ở miền Trung rất đẹp bởi màu nước trong xanh quyến rũ đến nao lòng người. Mẹ đọc cho em nghe câu thơ của một nhà thơ quê xứ Nghệ:

    Dẫu bao năm tháng không về lại Vẫn còn thăm thẳm nước sông La.

    Em ngắm nhìn những con đò nhỏ xuôi trên dòng sông, từ từ chậm rãi, mặt sông gợn sóng lăn tăn, phía bãi xa có một đám trẻ đang đùa giỡn, té nước trắng xoá lên nhau, cười nói ầm ĩ. Cả nhà tiếp tục cuộc hành trình. Dòng sông đã lùi lại phía sau lưng, em bỗng nghe câu hát của người chèo đò từ mặt sông cất lên:

    Ai có biết nước sông La răng là trong là đục Thì mới biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh.

    Vâng đúng thế! Em sẽ cố gắng sống thật xứng đáng, ơi dòng sông quê ngoại thân thương. Em sẽ còn trở lại nhiều lần nữa.

    Đề 6: Kể một tấm gương học tốt hay giúp đỡ bạn bè mà em biết. Bài làm

    Đến bây giờ, dù hai đứa học hai trường khác nhau nhưng tôi vẫn đến nhà và chơi với Sinh. Tôi rất cảm phục Sinh vì những việc mà Sinh đã làm cho Mai – người hàng xóm và cũng là bạn học của tôi và Sinh hồi tiểu học.

    Qua năm lớp 6, Mai đã hoàn tất bình phục. Bây giờ, tuy không học cùng Mai, Sinh nữa, nhưng tôi sẽ nhớ mãi kỉ niệm đẹp của ba đứa chúng tôi.

    Cao Bích Xuân

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 9: Ông lão đánh cá và con cá vàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Tập 1 Trang 61 Bài 6
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Học Sách Bài Tập Ngữ Văn 11 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Học (Kì 2)
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận So Sánh
  • Ôn Tập Phần Tập Làm Văn Văn Lớp 11 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 116 Sbt
  • Hướng Dẫn Giải Bài 33 34 35 36 37 38 39 Trang 115 116 Sgk Toán 6 Tập 1
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Thương Vợ
  • Thơ mới khác với thơ trung đại như thế nào?

    Trả lời:

    Thơ mới khác với thơ truyền thống (thơ trung đại) không chỉ ở “phần xác” của thơ, mà chủ yếu là ở “phần hồn” của nó, hay nói như Hoài Thanh là ở “tinh thần thơ mới” (Một thời đại trong thi ca). Đó là “cái tôi” cá nhân vói cách nhìn con người, cuộc đời và thiên nhiên bằng đôi mắt xanh non, bằng cặp mắt biếc ròn (Xuân Diệu). Đó là cách nhìn đời bằng đôi mắt trẻ trung, tươi mới, ngơ ngác trước thiên nhiên và cuộc sống, đồng thời thấm đượm một nỗi buồn cô đơn, bơ vơ giữa cuộc đời, trước không gian mênh mông và thời gian vô tận. Thơ mới khác thơ trung đại không chỉ ở phương diện nghệ thuật (phá bỏ những lối diễn đạt ước lệ, những quy tắc cứng nhắc, những công thức gò bó,…) mà chủ yếu ở phương diện nội dung (cách nhìn, cách cảm nhận mới mẻ đối với con người và thế giới). Lời thơ trong thơ mới được tổ chức gần với chuỗi lời nói của cá nhân khác với lời thơ trong thơ trung đại, do bị tính quy phạm chi phối, nên thường nặng tính ước lệ, cách điệu,…

    2. Làm rõ tính chất giao thời (giữa văn học trung đại và văn học hiện đại) của các bài thơ Lưu biệt khi xuất dưong (Phan Bội Châu) và Hầu Trời (Tản Đà).

    Ở các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương ( Phan Bội Châu), Hầu Trời (Tản Đà), nội dung cảm xúc đã có những nét mới, nhưng thể thơ, thi pháp cơ bản vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

    – Nội dung cảm xúc của bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu đã cố những nét mới: lẽ sống mới, quan niệm mới về chí làm trai, ý thức cá nhân trước thời cuộc, khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường,… Nhưng thể thơ vẫn là thể thơ cũ (thất ngôn bát cú), niêm, luật và ngôn ngữ vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại.

    – Bài Hầu Trời của Tản Đà mới hơn so với Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu. Trong bài thơ Hầu Trời đã thấy xuất hiện một “cái tôi” cá nhân phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định mình. Qua Hầu Trời, Tản Đà cũng bộc lộ một quan niệm khá hiện đại về nghề văn. Cách chia khố thơ như vậy cũng chưa thấy trong thơ trung đại… Nhưng “cái tôi” cá nhân phóng túng của Tản Đà vẫn phảng phất tinh thần cái “ngông” ở nhà nho tài tử của thơ ca cuối thời trung đại kiểu Nguyễn Công Trứ, Tú Xương. Vì vậy, bài Hầu Trời chưa thực sự hiện đại, vẫn chưa phải là thơ mới.

    3. Hãy chỉ ra tính chất hiện đại của các bài thơ mới: Vội vàng (Xuân Diệu), Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Tương tư (Nguyễn Bính).

    Trả lời:

    Giai đoạn khoảng từ năm 1930 đến năm 1945, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hoá với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại. Phong trào Thơ mới (được khơi lên từ năm 1932) được xem là “một cuộc cách mạng trong thơ ca” (Hoài Thanh). Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vì Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương tư của Nguyễn Bính,… là những bài thơ rất tiêu biểu, thể hiện rất rõ những đặc trưng của thơ mới. Các bài thơ trên không hề có dấu vết của thi pháp thơ trung đại. Đó là tiếng nói nghệ thuật của “cái tôi” cá nhân tự giải phóng hoàn toàn ra khỏi hệ thống ước lệ của thơ ca trung đại, trực tiếp quan sát thế giới và lòng mình bằng con mắt của cá nhân, đồng thời cảm thấy bơ vơ, cô đơn trước vũ trụ và cuộc đời. Ngôn ngữ thơ được tổ chức gần với lời nói thường ngày,…

    4. Dựa vào một số bài thơ đã học (đọc) trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh, hãy chứng minh nhận định của nhà vãn Hoài Thanh: “Nhật kí trong tù là một tiếng nói chan chứa tình nhân đạo” (Đọc “Nhật kí trong tù”, NXB Tác phẩm mói, Hà Nội, 1977).

    Để làm tốt bài tập này, cần chú ý một số điểm chính sau đây:

    (1) Chủ đề của bài là tính nhân đạo. HS cần xác định rõ hàm nghĩa nhân đạo, không nên lạc sang nội dung lòng yêu nước (thiếu sót này thường gặp trong bài làm của HS, có khi do không nắm được các biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo một cách chắc chắn, cũng có khi do không có khả năng triển khai được các phương diện của chủ nghĩa nhân đạo nên đành nói về lòng yêu nước để bài làm có thêm nội dung nhưng vô hình trung đã đi lạc đề).

    (2) Đây là kiểu bài chứng minh. Nhưng muốn chứng minh được đầy đủ phải nắm được các biểu hiện của tính nhân đạo để tập hợp ý và dẫn chứng cho sát, đúng

    (3) Về nội dung, tính nhân đạo trong Nhật kí trong tù, nên chú ý đến mấy khía cạnh chính sau đây:

    a) Lòng thương cảm đối với số phận con người

    – Đối tượng thương yêu của Hồ Chí Minh qua Nhật kí trong tù thật rộng rãi: Là một người tù hôm qua còn sống hôm nay đã chết (Một người bạn tù cờ bạc ; Lại một người nữa), là một em bé trong nhà lao Tân Dương (Cháu bé trong nhà lao Tân Dương), là vợ người bạn tù bên ngoài cửa sắt (Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng),…

    – Nhạy cảm với những khổ đau, bất hạnh của mọi kiếp người, trong khi chính mình đang bị đày đoạ cơ cực:

    + Nỗi khổ của em bé phải sớm vào nhà lao ;

    + Nỗi đau của đôi vợ chồng bị ngăn cách bởi cánh cửa sắt nhà tù ;

    + Lòng cảm thông, nồi thương nhớ của người thiếu phụ xa chồng ;

    + Cái chết thảm thương của người tù trong nhà lao ;

    + Nỗi vất vả của người phu làm đường (Phu làm đường) ;

    + Cảm thông với người bạn tù chạy trốn (Anh ấy muốn trốn) ;

    + Niềm tin tưởng vào bản chất lương thiện của con người (Nửa đêm) ;

    + Tâm lí nhạy cảm với con người trong từng suy nghĩ, từng niềm vui và nỗi khổ (Niềm vui được đi xe lửa sau bao ngày cuốc bộ, chút sảng khoái sau bao lần suýt vấp ngã, sự giày vò của cơn đói và chút hạnh phúc được mở cửa tù đón ánh nắng [Đáp xe lửa đi Lai Tân, Hụt chân ngã, Nhân lúc đói bụng),…).

    b) Khát vọng mãnh liệt, thường trực về tự do, về nhân phẩm của con người

    Nhật kí trong tù có nói nhiều đến nỗi khổ nhưng lớn hơn, sâu hơn cả là nỗi khổ mất tự do, là sự xúc phạm đến nhân phẩm con người. Nên khai thác những bài Ngắm trăng, Tiếc ngày giờ, Lính gác khiêng lợn cùng đi (bài 1 và bài 2).

    c) Lòng yêu thương con người, khát vọng mãnh liệt về tự do và nhân phẩm gắn liền với lòng căm ghét những thế lực hắc ám, xã hội bạc ác đối với con người.

    Nhật kí trong tù cũng lên án chế độ nhà tù và rộng hơn là cái xã hội bất nhân đối với con người. Có thể lấy dẫn chứng từ những bài: Bốn tháng rồi, Chia nước, Chăn bông giấy của người bạn tù, Hạn chế,…

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Phần Văn Học (Kì 2)
  • Ôn Tập Phần Văn Học Văn 11 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3, 4 Trang 103 Sbt Văn 11…
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Văn Học (Học Kì 2)
  • Soạn Bài Thao Tác Lập Luận Bình Luận
  • Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Nước Đại Việt Ta
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Đấu Tranh Cho Một Thế Giới Hòa Bình
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Ôn Tập Phần Tập Làm Văn
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Bếp Lửa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bếp Lửa
  • 1. Em hãy liệt kê các từ ngữ trong các trường từ vựng :

    – Miêu tả núi rừng hùng vĩ (đoạn 2, 3).

    – Miêu tả con hổ chốn rừng thiêng (đoạn 2,3).

    Qua đó, em có nhận xét gì về việc khai thác, sử dụng từ ngữ của tác giả ? Đặc biệt, việc sử dụng rộng rãi các từ Hán Việt ở các đoạn 2 và 3 đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật như thế nào ?

    Trả lời:

    Cần hiểu mục đích của bài tập nhằm thực hành về trường từ vựng.

    – Muốn làm tốt được bài tập này, trước hết HS phải có những hiểu biết nhất định về trường từ vựng. (Trường từ vựng là tập hợp tất cả các từ có nét chung nào đó về nghĩa). Ở đây là các từ cùng miêu tả một đối tượng : cảnh “sơn lâm hùng vĩ” và hình ảnh “chúa sơn lâm”, cần lưu ý : một trường từ vựng có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn ; cùng một trường từ vựng có thể bao gồm những từ khác biệt nhau về từ loại ; một từ có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau ; trong diễn đạt, người ta thường dùng cách chuyển trường từ vựng để tăng thêm tính nghệ thuật của ngôn từ.

    – Đọc kĩ bài thơ, từ đó liệt kê các từ ngữ thuộc trường từ vựng miêu tả núi rừng hùng vĩ ở các đoạn 2,3.

    Ví dụ : sơn lâm, bóng cả, cây già, gió gào ngần, nguồn hét núi, lá gai, cỏ sắc hang tối, thảo hoa, đêm vàng, bờ suối ánh trăng, ngày mưa, bốn phương ngàn, giang sơn, bình minh, cây xanh, nắng gội, tiếng chim ca, sau rừng, mặt người,… Nét nghĩa chung : núi rừng hùng vĩ.

    – Liệt kê các từ ngữ thuộc trường từ vựng miêu tả con hổ chốn rừng thiêng ở các đoạn 2,3.

    Ví dụ : tung hoành, hống hách, bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, lượn tấm thân, vờn bóng, quắc, say mồi đứng uống ánh trăng tan, lặng ngắm, đợi chết, chiếm lấỵ,.:.

    – Qua đó có thể nhận thấy, tác giả đã khai thác, sử dụng một vốn từ vựng phong phú, đa dạng và chọn lọc để diễn tả nổi bật cái lớn lao, mạnh mẽ, phi thường của cảnh núi rừng hùng vĩ và khắc hoạ đậm nét, đầy ấn tượng hình ảnh oai phong lẫm liệt của chúa sơn lâm.

    – Đặc biệt, việc sử dụng rộng rãi các từ Hán Việt ở các đoạn 2, 3 đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật đáng kể : khắc hoạ sáng tạo, đầy ấn tượng sự cao cả, lớn lao, phi thường và bi ữáng. So với từ thuần Việt đồng nghĩa, từ Hán Việt thường có sắc thái trang trọng, mĩ lệ và có sức gợi cảm riêng.

    2. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ : “Đọc đôi bài, nhất là bàỉ Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được.” (Thi nhân Việt Nam)

    Em hiểu ý kiến trên như thế nào ? Theo em, “đội quân Việt ngữ” mà Hoài Thanh nói đến có thể gồm những yếu tố gì ?

    Trả lời:

    Cần hiểu cách diễn đạt hình ảnh của Hoài Thanh :

    – Khi nồi “tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức manh phi thường” là Hoài Thanh muôn khẳng định mạch cảm xúc sôi trào mãnh liệt chi phối mạnh mẽ việc sử dụng câu chữ trong bài thơ của Thế Lữ. Đây chính

    là một trong những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp lãng mạn và cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài Nhớ rừng.

    – Khi nói “Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được” tức là nhà phê bình khẩng định tài năng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) một cách chủ động, linh hoạt, phong phú, chính xác và đặc biệt hiệu quả để có thể biểu đạt tốt nhât nội dung của bài thơ.

    – “Đội quân Việt ngữ” có thể bao gồm nhiều yếu tố như : từ ngữ (ở đây là những từ ngừ diễn tả mạnh mẽ, đầy gợi cảm, giàu chất tạo hình như khi đặc tả cảnh sơn lâm hùng vĩ, gây cho người đọc ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp vừa phi thường tráng lệ, vừa thơ mộng), các cấu trúc ngừ pháp, nhịp điệu và nhạc điệu phong phú, giàu sức biểu cảm (âm điệu dồi dào, cách ngắt nhịp linh hoạt – có câu nhịp rất ngắn, có câu lại trải dài phù hợp với cảm xúc). Điều này có thể nhận thấy rõ nhất qua đoạn 2 vầ 3 của bài thơ miêu tả cảnh núi rừng hùng vĩ và hình ảnh con hổ trong giang sơn mà nó ngự trị.

    3. Theo em, vì sao con hổ không chỉ bực bội vì bị nhốt trong cũi sắt, mà còn bực bội, chán ghét toàn bộ cảnh vật ở vườn bách thú (được miêu tả ở đoạn 1 và đoạn 4) ?

    Trả lời:

    Con hổ đúng là không chỉ bực bội vì bị nhốt trong cũi sắt (mất tự do) mà còn bực bội, chán ghét toàn bộ cảnh vật ở vườn bách thú (được miêu tả kĩ ở đoạn 1 và đoạn 4) ; vì : dưới con mắt của chúa sơn lâm, những thứ ở vườn này đều nhỏ bé, đơn điệu, đều tầm thường, tháp kém, giả tạo (bọn gấu dở hơi, cặp báo vô tư lự; những cảnh không đời nào thaỵ đổi ; Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng – Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng – Len dưới nách những mô gò thấp kém – Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm..). Chúa sơn lâm không chấp nhận chung sống với những cái phàm tục, giả dối, thấp hèn đó.

    Hổ khao khát trở về rừng xưa không những để được tự do, mà còn để được về với cái siêu phàm, kì vĩ, đối lập với những cái hiện có ở vườn bách thú. Đây chính là một trong những đặc điểm của tâm hồn lãng mạn : chán ghét thực tại tù túng, tầm thường, khát khao mãnh liệt sự tự do, luôn hướng tới cái lớn lao, phi thường, siêu phàm.

    4. SGK Ngữ văn 8, tập hai, có nhận xét : Bài Nhớ rừng “tràn đầy cảm xúc lãng mạn”.

    Em hiểu thế nào là “lãng mạn” ? Cảm xúc lãng mạn được thể hiện trong bài thơ như thế nào ?

    Trả lời:

    Bài Nhớ rừng đúng là tràn đầy cảm xúc lãng mạn. Hiểu một cảch đơn giản, đặc điểm nôi bật của tâm hồn lãng mạn là giàu mộng tưởng, khát vọng và giàu cảm xúc. Người nghệ sĩ lãng mạn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cảm thấy bất hoà sâu sắc với thực tại xã hội tù túng, ngột ngạt, xâu xa đương thời ; nhưng vì bất lực, họ chỉ biết tìm cách thoát li khỏi thực tại ấy bằng mộng tưởng và bằng sự đắm chìm vào đời sống nội tâm tràn đầy cảm xúc. Tâm hồn lãng mạn ưa thích sự độc đáo, phi thường, ghét khuôn khổ, gò bó và sự tầm thường. Nó có hứng thú giãi bày những cảm xúc thiết tha mãnh liệt, nhất là nỗi thất vọng, buồn đau. Cảm xúc lãng mạn trong bài Nhớ rừng được thể hiện khá rõ qua các khía cạnh sau :

    – Hướng về thế giới mộng tưởng lớn lao, phi thường, tráng lệ bằng một cảm hứng sôi trào mãnh liệt. Thế giới ây hoàn toàn đối lập với thực tại tầm thường giả dối. Trong bài Nhớ rừng, thế giới mộng tưởng chính là cảnh đại ngàn hùng vĩ và kèm theo đó là hình ảnh oai hùng của chúa sơn lâm (tập trung ở đoạn 2, 3 và 5 của bài thơ) ; còn cảnh vườn bách thú với hình ảnh chiếc cũi sắt chính là biểu hiện của thực tại tù túng, tầm thường, đáng ghét.

    – Diễn tả thấm thía nỗi đau uất hận của con hổ, từng là chúa sơn lâm tung hoành nơi rừng thiêng đại ngàn, nay phải nằm dài bất lực trong cũi sắt ở vườn bách thú vô cùng chán ngán. Hình ảnh con hổ với tâm sự đau uất mang tính chất bi tráng đó là một biểu tượng đầy nghệ thuật, được diễn tả bằng những vần thơ sôi nổi, da diết, đã thể hiện đầy đủ cảm xúc lãng mạn của nhà thơ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Soạn Bài Nhớ Rừng Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Nhớ Rừng Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Soạn Bài Nhớ Rừng (Thế Lữ)
  • Bàn Luận Về Phép Học (Luận Học Pháp)
  • Soạn Văn 8 Bài Bàn Luận Về Phép Học
  • Soạn Bài Ông Đồ Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Soạn Bài Hội Thoại (Tiếp Theo) Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Giải Soạn Bài Hội Thoại Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Bài 1 Trang 31 Sgk Ngữ Văn 8
  • Bài 2 Trang 23 Sgk Ngữ Văn 8
  • Giải Bài Tập 46: Trang 31
  • 1. Em hãy trình bày những hiểu biết của mình về “ông đồ” và việc “thuê viết” chữ thời xưa.

    Trả lời:

    Để cảm nhận được bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, các em cần phải có một số hiểu biết nhất định về “ông đồ” và nghệ thuật thư pháp thời xưa. Trả lời đúng câu hỏi này là đã có được cơ sở cần thiết để hiểu bài thơ.

    Ông đồ là người dạy chữ nho ngày xưa. Khi nền Hán học còn thịnh thì ông đồ dù không đỗ đạt, không làm quan, chỉ sống bằng nghề dạy học, ông vẫn luôn được xã hội trọng vọng.

    Chữ nho là thứ chữ tượng hình, viết bằng bút lông mềm mại, có một vẻ đẹp riêng. Cá tính và nhân cách của người viết nhiều khi thể hiện ngay trên nét chữ. Viết chữ đẹp từ xưa đã trở thành một môn nghệ thuật

    Dán chữ, treo câu đối chữ nho – nhất là trong những ngày Tết – là một nét sinh hoạt văn hoá của người Việt Nam từ xưa. Tết đến, người ta thường mua chữ hoặc xin chữ. Người bán chữ hoặc cho chữ thường viết lên tờ giấy, mảnh lụa hay phiến gỗ,… để chủ nhân mang về làm vật trang trí trong nhà. Chữ viết phải đẹp và ý nghĩa của chữ phải sâu sắc, hợp tình, hợp cảnh. Cách viết chữ nho đẹp trở thành một bộ môn nghệ thuật gọi là thư pháp. Và người có tài viết chữ đẹp rất được kính trọng. Cao Bá Quát (thế kỉ XIX) là một trong những người nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp.

    2. Theo em, hai khổ thơ đầu và ba khổ thơ sau của bài thơ Ông đồ có những điểm gì giống và khác nhau ? Hãy làm rõ ý kiến của mình qua việc phân tích các khổ thơ.

    Trả lời:

    Giữa hai khổ đầu và ba khổ sau của bài thơ có những điểm giống và khác nhau :

    Tất cả đều tập trung miêu tả ông đồ ngồi bán chữ trong ngày giáp Tết. Nhưng hai khổ thơ đầu và ba khổ thơ cuối thể hiện những nội dung cảm xúc khác nhau, bởi miêu tả ông đồ ở hai giai đoạn khác nhau.

    Hai khổ đầu miêu tả hình ảnh ông đồ khi Hán học đang thịnh vượng, ông được xã hội trọng vọng. Mồi khi Tết đến, ông trở thành nhân vật quan trọng của chốn phố phường. Cái “cửa hàng văn hoá lưu động” (theo cách nói của Vũ Quần Phương) mới đông vui làm sao ! Ông đồ xuất hiện trong những màu sắc rực rỡ của hoa đào, của giấy đỏ ; trong âm thanh tươi vui và trong không khí nhộn nhịp của phố phường. Chữ ông viết ra rất đẹp nên những người thuê viết cứ “tâm tắc ngợi khen tài”. Ở hai khổ thơ đầu, những câu thơ có nhịp điệu nhanh, liền mạch, âm hưởng vui tươi.

    Ba khổ cuối miêu tả ông đồ khi Hán học đã suy tàn, ông bị gạt ra ngoài lề xã hội. Người ta bỏ chữ nho để học chữ Pháp, chữ quốc ngữ. Trong bối cảnh ấy, tình cảnh ông đồ trở nên đáng buồn. Người thuê viết giảm đi theo thời gian, “mỗi năm mỗi vắng”. Người buồn, nên những vật dụng đã từng gắn bó thân thiết với cuộc đời ông đồ cũng sầu thảm theo : Giấy đỏ chảng thắm tươi như ngày xưa, mực đọng trong nghiên cũng sầu não theo ( Giấy đỏ buồn không thắm – Mực đọng trong nghiên sầu). Thế là, cho dù vẫn hiện diện, “vẫn ngồi đấy”, nhưng ông đồ chẳng còn được ai để ý; ông đã bị người đời lãng quên rồi. Ồng chỉ còn là “cái di tích tiều tuỵ đáng thương của một thời tàn” (lời tác giả).

    Rồi Tết lại đến, hoa đào lại nở, nhưng không ai còn thấy “ông đồ xưa”. Vậy là ông đã đi hẳn vào quá khứ, vĩnh viễn vắng bóng trong cuộc sống náo nhiệt đương thời. Hai câu cuối bài thơ là một câu hỏi day dứt, ngậm ngùi : “Những người muôn năm cũ – Hồn ở đâu bây giờ ?”. Câu hỏi không lời đáp ấy cứ vương vấn không dứt trong lòng người đọc khi đọc xong bài thơ.

    3. Theo em, bài thơ Ông đồ có những đặc sắc nghệ thuật gì ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ông Đồ (Vũ Đình Liên)
  • Soạn Bài Câu Nghi Vấn Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Giải Soạn Bài Câu Nghi Vấn Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Câu Nghi Vấn (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Câu Nghi Vấn
  • Trang 68 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Bài Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích) Ngữ Văn 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 8 Tiết 41 Nói Giảm, Nói Tránh
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Trang 130 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 2, Soạn Văn Lớp
  • Câu Hỏi Ôn Tập Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Ngữ Văn Lớp 8
  • Câu hỏi

    Cho đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

    Hãy lập dàn ý chi tiết

    (Gợi ý:

    • Đề yêu cầu nêu vấn đề gì? Cần chú ý đến các từ nào trong đề để định hướng đúng phương hướng làm bài?
    • Em biết gì về hoàn cảnh lịch sử cụ thể của miền Nam nước ta trước đây khiến cho nhiều người như ông Sáu phải xa nhà đi chiến đấu và chịu nhiều mất mát về tình cảm gia đình?
    • Nêu những nhận xét (ý kiến) về hai nhân vật ông Sáu và bé Thu trong đoạn trích: những mất mát, thiệt thòi, sự chịu đựng, hi sinh và nghị lực, niềm tin…
    • Những đặc điểm cụ thể của tình cha con trong từng nhân vật: tìm và phân tích các chi tiết đặc sắc về cử chỉ, hành động, lời nói, diễn biến tâm trạng…nhất là việc công phu, tỉ mẩn làm chiếc lược cho con gái của nhân vật ông Sáu; hành động bất nhờ khi nhận ba ở giờ phút chia li cuối cùng của nhân vật bé Thu để chứng minh những nhận xét của mình.
    • Nghệ thuật tạo dựng tình huống, cách trần thuật, cách lựa chọn chi tiết,…của Nguyễn Quang Sáng có tác dụng gợi cảm xúc như thế nào)

    Hướng dẫn giải

    a) Yêu cầu của đề bài là cảm nhận, tức là nêu lên cảm xúc của mình sau khi đã đọc, suy ngẫm về tác phẩm. Cần chú ý tới từ khóa “Cảm nhận” để có thể xác định đúng phương hướng làm bài

    b) Lập dàn ý chi tiết

    Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Quang Sáng và tác phẩm Chiếc lược ngà; khẳng định vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Sáng cũng như trong nền văn học kháng chiến chống Mỹ của dân tộc

    Thân bài:

    • Giới thiệu về tác phẩm

      • Ra đời năm 1966, thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra gay go và ác liệt nhất. Bom đạn của kẻ thù dội xuống miền Nam nhằm hủy diệt sự sống. Để bảo vệ hòa bình của dân tộc và sự bình yên cho quê hương, những con người như ông Sáu đã bỏ lại sau lưng gia đình dấn thân vào chiến trường một phen sống mái với kẻ thù. Chiến tranh đã gieo rắc cái chết, nỗi khổ đau và cũng là nguyên nhân của những mất mát về tình cảm gia đình của ông Sáu.
      • Truyện kể ngôi thứ nhất qua lời kể của Bác Ba – bạn thân anh Sáu, cũng là người trực tiếp chứng kiến câu chuyện khiến câu chuyện trở nên sinh động, khách quan và chân thực hơn
      • Chiếc lược ngà là kỉ vật cuối cùng của ông Sáu dành cho bé Thu cũng là minh chứng cho tình cha con thiêng liêng, bất diệt mà ông Sáu dành cho đứa con gái bé bỏng của mình
      • Nhà văn dẫn dắt nhân vật vào tình huống éo le để nhân vật bộc lộ sâu sắc tình cha con
      • Nói sơ lược cốt truyện
      • Cảm nhận về tác phẩm
    • Những mất mát, đau thương và nghị lực của nhân vật ông Sáu và bé Thu
      • Ông Sáu: tham gia chiến tranh từ khi con gái mới lọt lòng, không được ở bên cạnh con để nhìn nó lớn lên; chịu nỗi đau về thể xác – minh chứng cho tội ác của kẻ thù, là vết thẹo dài trên mặt. Vết thẹo là lý do khiến cho bé Thu một mực không nhận ông Sáu là cha, mặc cho ông có cố gắng thế nào. Cuộc đời ông Sáu là sự hi sinh hạnh phúc cá nhân cho hạnh phúc của cộng đồng, cũng là số phận của những con người Việt Nam trong thời chống Mỹ, nước mất nhà tan, gia đình chia rẽ, li tán
      • Bé Thu: Sống với má và chỉ biết đến cha qua bức hình chụp chung với má. Bé Thu là một cô bé ngang bướng, cứng đầu. Nó kiên quyết không chịu nhận va gọi ông Sáu là ba dù bị mẹ nó ép hay ông Sáu dỗ dành. Nó càng ngang bướng bao nhiêu càng chứng tỏ tình yêu cha của nó lớn bấy nhiêu. Trong tâm hồn của đứa trẻ tội nghiệp ấy, ba nó không có cái thẹo. Nên mặc cho nỗi khao khát được cha yêu thương, mặc cho những đe dọa của mẹ, nó vẫn không chịu nhận. Điều ấy làm cho cả bé Thu và ông Sáu đều chịu tổn thương về tinh thần.
    • Tình cha con sâu đậm
      • Những cử chỉ, hành động của ông Sáu và bé Thu trong 3 ngày nghỉ phép
        • Giây phút đầu gặp gỡ
        • Trong 3 ngày nghỉ phép
        • Trong bữa cơm
        • Trong những giây phút cuối cùng của buổi chia li
      • Hành động tỉ mẩn làm lược và ánh mắt gửi gắm cuối cùng của ông Sáu trước lúc hi sinh
    • Đặc sắc về nghệ thuật: tình huống truyện, cách trần thuật, cách lựa chọn chi tiết…

    Kết bài: Khẳng định lại cảm xúc của bản thân với tác phẩm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng

    Cập nhật lúc: 09:58:56 AM, 12-04-2019

    Các câu hỏi cùng bài học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Câu Hỏi (Trang 68 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2)
  • Giải Câu 1 (Trang 49 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2)
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2
  • Giải Sách Bài Tập Toán 9 Trang 109 Tập 2 Bài 8.1, 8.2
  • Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt Trang 109 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2 (Chi Tiết)
  • Giải Đề 2 (Trang 69 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Sách Bài Tập Toán 6 Trang 69 Câu 17, 18, 19, 20 Tập 1
  • Giải Sách Bài Tập Toán 6 Trang 69, 70 Câu 21, 22, 23, 24 Tập 1
  • ✅ Cuộc Chia Tay Của Những Con Búp Bê
  • Giải Vbt Ngữ Văn 7 Cuộc Chia Tay Của Những Con Búp Bê
  • Soạn Bài Cuộc Chia Tay Của Những Con Búp Bê (Ngắn Gọn)
  • Giải đề 2 (Trang 69 SGK ngữ văn 9 tập 2) – Phần soạn bài Viết bài tập làm văn số 6 – Nghị luận văn học (làm ở nhà) trang 69 SGK ngữ văn lớp 9 tập 2.

    Đề 2. Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tìm cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp?

    Ngoài các đề bài trên, có thể tham khảo các đề bài nêu ở bài 23, tr. 64 – 65.

    Mở bài: – Giới thiệu đôi nét về tác giả Kim Lân.

    – Dẫn vào truyện ngắn “Làng” và nội dung phản ánh của tác phẩm là những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.

    Thân bài:

    * Tình yêu làng – nét truyền thống của người nông dân Việt Nam thể hiện qua nhân vật ông Hai.

    – Ông hay khoe về cái làng chợ Dầu của mình, dù ở xa nhưng luôn nhớ về làng.

    – Khi nghe tin làng theo Tây, ông đã rất đau lòng.

    * Sau cách mạng, theo kháng chiến, ông Hai đã có những chuyển biến mới trong tình cảm:

    – Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, về việc xây dựng kháng chiến của quê ông.

    – Ông Hai hay quan tâm đến tin tức kháng chiến, ngày nào cũng ra phòng thông tin theo dõi tin tức…

    * Tình yêu làng gắn bó với lòng yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong diễn biến tâm lí khi ông Hai nghe tin làng mình theo giặc:

    – Mới nghe tin làng theo giặc, ông sững sờ, tủi hổ cắm gằm mặt ra về, thầm nguyền rủa những kẻ phản bội cách mạng,..

    – Những ngày sau, ông không dám ra ngoài, cái tin nhục nhã ấy đã trở thành nỗi ám ảnh khủng khiếp.

    – Xung đột nội tâm của ông Hai: Có lúc muốn quay về làng nhưng tình yêu nước, tình yêu cách mạng đã để ông đau lòng dứt rằng “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”.

    – Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ còn bộc lộ trong lời tâm sự của ông Hai với đứa con.

    * Khi tin làng được cải chính, ông Hai vui sướng, trút bỏ được gánh nặng tâm lí: Ông vội vàng thông báo với mọi nhà, ông chạy đi khoe rằng “nhà ông bị Tây đốt”.

    Kết bài: Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước chân thành, mộc mạc mà vô cùng sâu nặng, cao quý của người dân lao động bình thường.

    – Sự mở rộng từ tình yêu làng, yêu quê hương sang tình yêu nước, yêu cách mạng chính là chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.

    Như bao con người Việt Nam khác, ông Hai cũng có một quê hương yêu thương, gắn bó. Làng Chợ Dầu luôn là niềm tự hào và là kiêu hãnh của ông. Ông luôn khoe về làng mình, đức tính ấy như đã trở thành bản chất. Ông cũng như mọi người nông dân Việt Nam khác, có quan niệm rằng “Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, đối với họ, không có bất cứ đâu đẹp hơn nơi chôn rau cắt rốn của mình. Trước cách mạng, mỗi khi kể về làng, ông đều khoe về cái sinh phần của viên tổng đốc sừng sững ở cuối làng. Sau Cách mạng, làng ông đã trở thành làng kháng chiến, ông đã có nhận thức khác. Ông Hai không còn khoe về cái sinh phần ấy nữa mà ông lấy làm hãnh diện với sự cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê mình. Ông khoe làng có “những hố, những ụ, những giao thông hào”, “có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”… Kháng chiến bùng nổ, ông Hai bất đắc dĩ phải rời làng đi tản cư. Trong những ngày buộc phải rời xa làng tâm trí ông luôn nhớ về nơi ấy, về những anh em đồng chí của mình, ông muốn “cùng anh em đào đường, đáp ụ, xẻ hào, khuân đá…”.

    Ở nơi tản cư, ông luôn đến phòng thông tin để theo dõi và mong ngóng tin tức về làng nhằm nguôi ngoai nỗi nhớ. Trong lúc mong tin làng, những tin vui chiến thắng ở khắp nơi khiến ông vui sướng vô cùng, “ruột gan cứ múa cả lên”. Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ người đàn bà đi tản cư, ông Hai vô cùng sửng sốt, “cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Đến khi nghe kể rành rọt, không thể không tin vào điều xấu ấy, niềm tin và tình yêu bấy lâu nay của ông về làng như sụp đổ. Ông đã “gầm mặt xuống”, đánh trống lảng rồi bước đi như kẻ trốn nợ. Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người nhưng lại không tin họ theo giặc. Mấy hôm liền, ông không dám đi đâu vì xấu hổ, luôn bị ám ảnh cái tin khủng khiếp ấy và hay hốt hoảng giật mình. Những ngày này mâu thuẫn nội tâm trong con người ông Hai diễn ra một cách quyết liệt và ngày càng dâng cao. Đã có lúc ông nghĩ đến việc “quay về làng” nhưng ông đã dứt khoát “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ”, “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Tuy quyết định như thế nhưng ông vẫn rất đau đớn xót xa. Tất cả những cử chỉ của ông Hai khẳng định tình yêu làng của ông đã hòa quyện vào cuộc kháng chiến của dân tộc và ông sẽ gắn bó cả cuộc đời với nó bằng suy nghĩ và hành động. Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông trút nỗi lòng vào lời nói với đứa con út ngây thơ: “Bố con mình theo kháng chiến, theo Cụ Hồ con nhỉ?” để giãi bày tâm sự, trút bỏ, an ủi lòng mình. Đồng thời, ông cũng truyền cả tình yêu nước sang cho con mình và khẳng định tình cảm của bố con ông với kháng chiến, với Cụ Hồ là trước sau như một.

    Đau khổ là thế, lo âu là thế nhưng cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã được cải chính. Niềm vui trong ông Hai như vỡ òa. Ông chạy đi khoe ngay với bác Thứ rồi gặp bất cứ ai ông cũng khoe Tây đã đốt nhà mình như muốn chứng minh làng mình không theo giặc với tất cả niềm tin và tình cảm của ông. Đối với ông hai cũng như mọi người nông dân khác, con trâu, mảnh ruộng, gian nhà là vô cùng quý giá nhưng họ thà mất đi tất cả chứ không chịu mất nước và ý chí ý đã trở thành một truyền thống vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta.

    Cách mạng và sự nghiệp kháng chiến đã tác động mạnh mẽ, đem lại những nhận thức, những tình cảm mới lạ cho những người nông dân. Từ đó khiến họ nhiệt tình tham gia kháng chiến và tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng, vào lãnh tụ. Ở nhân vật ông Hai, tình cảm đẹp đẽ có tính chất truyền thống của người nông dân Việt Nam là tình yêu làng quê đã được nâng lên thành tình yêu nước. Sự hòa quyện và gắn bó của tình yêu quê hương và tình yêu đất nước là nét mới mẻ trong nhận thức của người nông dân, của quần chúng cách mạng trong giai đoạn văn học chống Pháp.

    Với kết cấu đơn giản, xoay quanh nhân vật ông Hai với tình yêu làng sâu sắc, “Làng” đã để lại trong lòng người đọc nhiều ý vị sâu sắc. Làng Nhà văn Kim Lân đã xây dựng rất thành công nhân vật ông Hai với các phẩm chất tốt đẹp của người nông dân. Đồng thời nhà văn còn khôn khéo xây dựng tình huống thử thách làm bộc lộ chiều sâu tâm trạng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả đặc biệt tài tình nội tâm của nhân vật với những suy nghĩ phức tạp, giằng xé. Tác giả đẩy các chi tiết đến cao trào rồi giải quyết một cách nhẹ nhàng, thỏa đáng và có hậu, tạo hứng thú và bất ngờ cho người đọc, người nghe. Cách sử dụng từ ngữ địa phương mộc mạc, gần gũi với nông dân trong đối thoại, giao tiếp kết hợp với sự hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của họ khiến những trang viết của Kim Lân thật gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc.

    Nhân vật ông Hai gây ấn tượng mạnh mẽ và để lại nhiều tình cảm tốt đẹp, sự yêu mến, trân trọng và cảm phục trong lòng người đọc. Tình yêu làng của ông Hai mang tinh chất truyền thống đã được nâng lên thành tình yêu nước nồng nàn như “dòng suối đổ vào sông, dòng sông đổ vào dải trường giang Vônga, dòng sông Vônga đi ra biển…”. Qua nhân vật ông Hai như là nông dân với những phẩm chất tốt đẹp bước từ đời thực vào tác phẩm, có được những biểu hiện cụ thể, sinh động về tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc.

    “Làng” đã trở thành một truyện ngắn đặc sắc, Kim Lân đã thành công trong việc thể hiện những chuyển biến mới mẻ trong nhận thức và tình cảm của người dân Việt Nam. Nhân vật ông Hai đã trở thành một hình tượng điển hình cho những người nông dân Việt Nam cần cù, chất phác nhưng luôn cháy bỏng tình yêu quê hương, yêu đất nước. Họ đã góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng và là nhân tố trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Bản thân mỗi chúng ta cần phải học tập tấm gương của họ, ngày càng yêu thương quê hương, đất nước mình hơn.

    (BAIVIET.COM)

    --- Bài cũ hơn ---

  • ✅ Vượt Thác (Võ Quảng)
  • Soạn Bài Vượt Thác (Võ Quảng)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Luyện Nói Kể Chuyện
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Câu Trần Thuật Đơn
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Luyện Nói Về Quan Sát, Tưởng Tượng, So Sánh Và Nhận Xét Trong Văn Miêu Tả
  • Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Phần Giới Hạn (Kèm Lời Giải)
  • Hocthue.net: Tổng Hợp Sách, Giáo Trình, Bài Giảng, Bài Tập Xác Suất Thống Kê (Có Lời Giải)
  • Bài Tập Ôn Luyện Lập Trình Oop & Interface
  • Bài Tập Tự Luận Java Cơ Bản Có Lời Giải
  • Bài Tập Câu Lệnh Điều Kiện Switch Case
  • Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1)

    Để phát huy tính chủ động trong việc học, bên cạnh sự có mặt của giáo viên, các loại tài liệu tham khảo cũng đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết, đặc biệt là với môn học đòi hỏi sự nhạy bén, tinh tế như môn Văn.

    Cuốn Vở Bài Tập Ngữ Văn Lớp 9 (Tập 1) được biên soạn bám sát nội dung sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9. Sách gồm các bài tập Ngữ Văn đa dạng có gợi ý làm bài cụ thể nhằm giúp các em có thể tự học tốt môn Ngữ văn một cách chủ động, sáng tạo.

    Sách bao gồm 17 bài học với các nội dung:

    – Thực hành phần Đọc – hiểu văn bản các văn bản văn học.

    – Thực hành Tiếng Việt thông qua các bài tập dưới hình thức bảng biểu và điền vào chỗ trống.

    – Thực hành các thao tác kĩ năng lập luận , diễn đạt và tạo lập thành văn bản ở phần Tập làm văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ma Trận Space Phân Tích Môi Trường Và Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Ma Trận Ge Là Gì ?
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 7
  • Giáo Trình Thương Mại Quốc Tế
  • Giáo Án Lớp 5
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100