Top 9 # Giải Sbt Văn 8 Bài 6 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Caffebenevietnam.com

Soạn Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 80 Sbt Ngữ Văn 8

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 trang 80 SBT Ngữ Văn 8 tập 1. Từ năm 2005, Việt Nam đã có Nghị định 45 quy định xử phạt hành chính những hành vi hút thuốc lá ở những nơi công cộng.. Soạn bài Ôn dịch, thuốc lá SBT Ngữ Văn 8 tập 1 – Soạn bài Ôn dịch thuốc lá

1. Câu 1, trang 121, SGK.

Phân tích ý nghĩa của việc dùng dấu phẩy trong đầu đề của văn bản: Ôn dịch, thuốc lá. Có thể sửa thành Ôn dịch thuốc lá hoặc Thuốc lá là một loại ôn dịch được không? Vì sao?

Trả lời:

Bản thân thuốc lá không có tội tình gì nên trước hết cần hiểu ửiuốc lá là cách nói tắt của “bệnh nghiện thuốc lá”, “tệ nghiện thuốc lá”

2. Vì sao trước lúc nói đến tác hại cụ thể của việc hút thuốc lá, tác giả lại mượn lời của Trần Hưng Đạo nói về các kiểu tấn công của giặc ?

Trả lời:

Để gây ấn tượng mạnh tác giả đã so sánh việc thuốc lá tấn công loài người như giặc ngoại xâm , đánh phá bằng cách ” gặm nhấm như tằm ăn dâu” . ” Dâu” ví như con người, sức khoẻ con người , ” tằm” so sánh với khói thuốc lá. Với ” tằm ăn dâu” dù chậm vẫn còn nhìn thấy. Còn thuốc lá, cụ thể là khói thuốc lá phá hoại cơ thể, sức khoẻ con người bằng cách gặm nhấm âm thầm, bí mật không dễ gì nhìn thấy và ngăn chặn được . Nhấn mạnh mức độ nguy hiểm của khói thuốc lá đối với con người, đồng thời dễ thuyết phục người đọc ở những lập luận tiếp theo.

Giống như nhan đề văn bản, ở đây, tác giả cũng dùng phép so sánh sự vật (sự việc) đùng để so sánh (cách tấn công của giặc) được đưa lên trước gây ấn tượng mạnh. Quan hệ giữa sự vật được so sánh (cách tấn công của thuốc lá) và sự vật dùng để so sánh dường như lỏng lẻo (ở trong hai câu cách nhau bằng một dấu chấm qua dòng), song người đọc vẫn nhận ra được một cách sâu sắc những phương diện so sánh ở đây : Thuốc lá cũng là giặc, song loại giặc này rất nguy hiểm vì nó không “đánh như vũ bão” làm cho con người “lăn đùng ra chết” mà cứ “gặm nhấm như tằm ăn dâu”.

Trước khi giải thích rõ thuốc lá “gặm nhấm” cái gì ở con người thì tác gia nhân mạnh cái kiểu gặm nhấm từ từ ấy đặc biệt nguy hiểm ở chỗ làm cho người ta không biết sợ hãi, không biết đề phòng, không cần và không dễ nhận biết.

3. Đọc kĩ văn bản trích sau đây và trả lời các câu hỏi.

Với khói từ điếu thuốc mình hút, người hút đã hít vào hơn một nghìn chất. Phần lớn các chất trong đó như khí a-mô-ni-ắc, ô-xít các-bon và hắc ín, đều rất nguy hiểm đối với sức khoẻ. Chất ni-cô-tin trong là thuốc còn độc hại hơn . Đó là một thứ ma tuý. Nhiều người hút đã quen nó tới mức không thể nào nhịn nổi. Bởi vậy, họ lại tiếp tục hút […]

Cơ thể được cấu tạo bằng hàng tỉ tế bào, tất cả những tế bào ấy đều cần ô xi. Nhờ không khí ta thở, ô xi xuyên thấm vào phổi. Máu tiếp nhận ô xi và chuyển tới toàn bộ cơ thể. Ở những người hút thuốc lá, một số chất có thể ngăn cản phổi thực hiện chức năng của nó. Bồ hóng và hắc ín của khói thuốc lá làm phổi và các ống dẫn của nó đọng cáu ghét. Điều đó thường dẫn đến các bệnh đường họng và những cơn ho. Nếu những tế bào bị công kích, chúng sẽ phắt triển nhanh và điều đó cuối cùng có thể gây nên ung thư.

Ô-xít các-bon và ni-cô-tin của khói thuốc làm hại đến sự vận chuyển của ô xi trong toàn bộ cơ thể. Chúng tới khắp nơi cùng với máu. Chúng có thể làm cho máu đặc thêm rất nhiều. Đôi khi, máu trở nền quá đặc khiến cho sự vận chuyển máu nghẽn tắc hoàn toàn. Đó là nguyên nhân tạo nên một cơn ho nhồi máu cơ tim […].

Khi bắt đầu hút, người ta không hiểu rằng ni-cô-tin là một chất ma tuý và (khi đã dùng) sẽ khó từ bỏ nó. Vậy thì tốt nhất là phải chống lại thói tò mò và tuyệt không bao giờ bắt đầu hút.

(C. Luy-xác-đô – H. Pô-tơ-lê, Tiếng Pháp lớp đệ ngũ,NXB Ha-chi-ê, Pa-ri, 1998)

Câu hỏi :

a) xHãy nêu lên mối quan hệ giữa ba phần của văn bản và thử đặt tiêu đề cho mỗi phần.

b) Từ ma tuý trong văn bản trích được dùng với hàm nghĩa nào ? Nghĩa này có gì giống và khác với nghĩa của từ ma thường gặp trong báo chí hiện nay ?

c) Hãy viết lại câu văn thứ ba của phần một, không dùng đâu hai chấm mà vẫn giữ được nguyên ý và mối liên hệ chặt chẽ giữa các vế của câu.

d) Văn bản trích đã sử dụng những phương thức biểu đạt nào ? Mối quan hệ giữa các phương thức biểu đạt ấy.

Trả lời:

a) cả ba phần đều nêu lên tác hại của thuốíc lá và đi theo hướng tổng hợp – phân tích – tổng hợp. Có thể đặt tiêu đề cho phần cuối lầ Không được hút điếu thuốc đầu tiên. Em tự đặt nhan đề cho hai phần còn lại.

b) Từ ma tuý trong văn bản trích được dùng theo nghĩa :

“Tên gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện.” (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Từ điển tiếng Việt trang 583). Từ nghĩa chung này, em tự tìm chỗ giống và khác với nghĩa của từ ma tuý thường gặp trong báo chí hiện nay.

c) Có thể thay dấu hai chấm bằng chữ vì; em có thể tìm thêm các cách viết khác.

d) Phần hai chủ yếu dùng phương thức thuyết minh để giải thích tác hại của khói thuốc lá đối với hoạt động của hai cơ quan hết sức quan trọng của cơ thể là phổi và tim. Song xét cả bài, đây là một bài nghị luận mà luận điểm chủ yếu là Không nên hút thuốc, dù là điếu thuốc đầu tiên.

4. Thế nào là hút thuốc lá bị động (còn gọi là hút thuốc lá thụ động) ? Hút thuốc lá bị động có nguy hiểm không ? Thử nêu ra một số biện pháp để bản thân, bạn bè và gia đình không rơi vào tình trạng hút thuốc lá bị động.

Theo em, cần phải làm gì để hạn chế và tiến tới xoá bỏ tác động tiêu cực của việc hút thuốc lá bị động ?

Hút thuốc lá thụ đông hoặc hít khói thuốc thụ động (tiếng Anh, passive smoking, seconhand smoking hoặc exposure to environmental tobacco smoke, viết tắt ETS) là hình thức hít khói thuốc lá từ không khí mà không trực tiếp hút thuốc lá hoặc hút thuốc lào và cũng bị tác hại gián tiếp dẫn đến những nguy cơ về bệnh ung thư phổi. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo không có ngưỡng an toàn cho việc hút thuốc lá thụ động.

Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (IARC) đã xếp khói thuốc lá vào các chất gây ung thứ bậc 1. Trong nhóm này xếp những chất mà chỉ cần khối lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư, không có hạn mức, nghĩa là hoàn toàn có hại, dù chỉ là một khối lượng nhỏ, cho mình và cho người khác.

Khói thuốc được coi là độc hại nhất trong môi trường cư trú. Khi hút, người hút thường thở ra hai luồng khói chính và phụ và 20% khói thhuốc bị hút vào trong luồng chính, 80% còn lại được gọi là luồng phụ khi kéo thuốc (giữa hai lần hít vào) và khi tắt thuốc… Luồng khói phụ toả ra nhiều chất độc hại hơn.

Khói thuốc cấu tạo từ một hỗn hợp khí và bụi. Theo WHO, trong khói thuốc có khoảng 4000 chất hoá học; trong đó có 40 chất được xếp vào loại gây ung thư gồm những chất như ni-cô-tin, ô-xít các-bon, a-mô-ni-ắc, hắc ín… ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết, gây ra nhũng bệnh tim mạch, giảm trí nhớ và các bệnh ung thư.

Khói thuốc có thể tồn tại trong không khí hơn hai giờ, ngay cả khi không còn nhìn thấy hoặc ngửi thấy nữa. Do đó, những người thường xuyên sống hoặc làm việc cạnh người dùng thuốc lá có thể tiếp nhận lượng khói thuốc tương dương với hút 5 điếu mỗi ngày. Theo Hiệp hội Ung thư Mĩ, cứ mỗi giờ ở cùng phòng với một người hút thuốc lá, nguy cơ mắc ung thư phổi cao gấp 100 lần so với việc sống 20năm trong toà nhà chứa chất độc Asen…

5. Bài tập 1, trang 122, SGK.

Vì sao tác giả đã đưa ra những số liệu đế so sánh tình hình hút thuốc lá ở nước ta với các nước Âu – Mĩ trước khi đưa ra kiến nghị : Đã đến lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này?

6. Từ năm 2005, Việt Nam đã có Nghị định 45 quy định xử phạt hành chính những hành vi hút thuốc lá ở những nơi công cộng. Theo em, vì những lí do nào mà cho đến nay, Nghị định ấy vẫn chưa có hiệu lực rõ rệt trong cuộc sống ? cần thực hiện những biện pháp gì để khắc phục tình trạng nói trên ?

Trả lời:

Đây là đề mở, các em có thể thẳng thắn nêu ý kiến của mình, chẳng hạn :

– Nghị định 45 chưa có hiệu lực vì chưa quy định chế tài xử phạt cụ thể, vì công tác tuyên truyền còn yếu chưa làm cho toàn xã hội thấy tác hại của việc hút thuốc lá (chủ động cũng như bị động)…

– Về biện pháp, không nên đề xuất những kế hoạch to tát, thiếu tính khả thi. Trước hết là đề xuất những biện pháp có thể thực hiện được trong phạm vi gia đình, trường lớp, trong quan hệ bạn bè…

7. Bài tập 2, trang 122, SGK.

Trả lời:

Cảm nghĩ có thể đa dạng, song cần nêu hai ý :

– Đã dính vào hê-rô-in thì dù là con cái của tỉ phú cũng có khi không thể nào chạy chữa được (mà) kết thúc là cái chết bi thảm.

– Các gia đình giàu có cần cảnh giác, chớ để cuộc sống dư dật trở thành điều kiện cho ma tuý làm hư hỏng con cái.

Soạn Bài Câu Ghép Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 76 Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1.

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 trang 76 SBT Ngữ Văn 8 tập 1. Trong các câu cho sau đây, câu nào là câu ghép có quan hệ từ nối các về trong câu, câu nào là câu ghép không có quan hệ từ nối các vế trong câu ?. Soạn bài Câu ghép SBT Ngữ Văn 8 tập 1 – Soạn bài Câu ghép

1. Bài tập 1, trang 113, SGK.

a) Dần buông chị ra, đi con ! Dần ngoan lắm nhỉ ! U van Dần, u lạy Dần ! Dần hãy để chị đi với u, đừng giữ chị nữa. Chị con có đi, u mới có tiền nộp sưu, thầy Dần mới được về với Dần chứ ! Sáng ngày người ta đánh trói thầy Dần như thế, Dần có thương không. Nếu Dần không buông chị ra, chốc nữa ông lí vào đây, ông ấy trói nốt cả u, trói nốt cà Dần nữa đấy.

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

b) Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

c) Rồi hai con mắt long lanh của cô tôi chằm chặp đưa nhìn tôi. Tôi lại im lặng cúi đầu xuống đất : lòng tôi càng thắt lại, khoé mắt tôi đã cay cay.

(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

d) Một hôm, tôi phàn nàn việc ấy với Binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi. Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo :

– Lão làm bộ đấy!

(Nam Cao, Lão Hạc)

Giải:

Bài tập này nhằm mục đích nhận biết câu ghép và hai cách nối các vế câu : có dùng và không dùng từ nối.

a) Đoạn trích này có 4 câu ghép, trong đó có 1 câu nối các vế câu bằng quan hệ từ và 1 câu nối các vế câu bằng cặp từ hồ ứng.

b) Đoạn trích có 2 câu ghép, các vế câu đều được nối với nhau bằng những từ có tác dụng nối.

c) Đoạn trích có 1 câu ghép.

d) Đoạn trích có 1 câu ghép.

2. Bài tập 2, trang 113, SGK.

a) vì… nên… (hoặc hởi vì… cho nên…; sở dĩ… là vì…) b) nếu… thì … (hoặc hễ… thì …;giá… thì …) c) tuy… nhưng… (hoặc mặc dù… nhưng…) d) không những… mà… (hoặc không chỉ… mà…; chẳng những… mà…)

3. Bài tập 3, trang 113, SGK.

Chuyển những câu ghép em vừa đặt được thành những câu ghép mới bằng một trong hai cách sau : a) Bỏ bớt một quan hệ từ. b) Đảo lại trật tự các vế câu.

Giải:

Lưu ý : Đối với những câu ghép sử dụng cặp quan hệ từ không những… mà … (hoặc không chỉ… mà … , chẳng những … mà …) không áp dụng các biện pháp bỏ bớt quan hệ từ hoặc đảo trật tự các vế câu được ; đối với những câu ghép sử dụng cặp quan hệ từ sở dĩ… là vì ta chỉ bỏ bớt được sở dĩ và khi đảo trật tự các vế câu thì cần bỏ các quan hệ từ sở dĩ, là.

4. Bài tập 4, trang 114, SGK.

Giải:

Cần chú ý là các từ hô ứng đứng ngay trước hoặc sau từ mà nó phụ thuộc. Ví dụ : Người nào làm, người nấy chịu.

5. Bài tập 5, trang 114, SGK.

Viết một đoạn văn ngắn về một trong các đề tài sau (trong đoạn văn có sử dụng ít nhất là một câu ghép) : a) Thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông. b) Tác dụng của việc lập dàn ý trước khi làm bài tập làm văn.

6. Trong các câu cho sau đây, câu nào là câu ghép có quan hệ từ nối các về trong câu, câu nào là câu ghép không có quan hệ từ nối các vế trong câu ?

a) Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại nghĩa là rất đẹp.

(Phạm Văn Đồng)

b) Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh.

(Sự tích Hồ Gươm)

c) Những nhịp cầu tả tơi như ứa máu, nhưng cả cây cầu vẫn sừng sừng giữa mênh mông trời nước.

(Thuý Lan)

Giải:

Trong số 3 câu của bài tập này, có 2 câu ghép chứa quan hệ từ nôi các vế trong câu, có 1 câu ghép không chứa chứa quan hệ từ nối các vế trong câu.

7. Trong bài tập 6, có những quan hệ từ nào được dùng để nối các vế trong câu ghép ? (Chỉ ra từng từ cụ thể, kể cả các từ được dùng hai lần.)

Giải:

Trong các câu ở bài tập 6, có tất cả 3 lần sử dụng quan hệ từ nối các vế trong câu, trong đó có 1 từ được dùng hai lần.

Giải Soạn Bài Viết Bài Làm Văn Số 6: Văn Tả Người (Làm Tại Lớp) Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2

Giải câu 1, 2, 3 trang 54 Sách bài tập (SBT) Ngữ văn 6 tập 2. Câu 1. Đề 2, trang 94, SGK.

Bài tập

1. Đề 2, trang 94, SGK.

2. Đề 4*, trang 94, SGK.

3. Đề 5, trang 94, SGK.

Gợi ý làm bài

1. Đối tượng miêu tả ở đây là hình ảnh mẹ hoặc bố nhưng trong một tình huống cụ thể : khi em ốm ; lúc em mắc lỗi và khi em làm được một việc tốt. Như thế vẫn là cùng một đối tượng nhưng ở ba tình huống khác nhau nên chân dung, cử chỉ hành động, ngôn ngữ của người được tả phải khác nhau.

Bố cục bài viết vẫn phải bám sát yêu cầu chung với ba phần lớn :

– Mở bài : giới thiệu tình huống (một trong ba tình huống trên) và đối tượng được miêu tả (mẹ hay bố).

– Thân bài : tập trung miêu tả đối tượng với tình huống cụ thể từ các phương diện : nét mặt, ngôn ngữ (lời nói) ; cử chỉ, hành động.

– Kết bài : suy nghĩ và tình cảm của người viết đối với mẹ hoặc bố trong hoàn cảnh đó.

2. Đối tượng miêu tả ở đây là người lực sĩ cử tạ (to, khoẻ) nhưng đồng thời phải miêu tả các động tác cử tạ (miêu tả người trong hoạt động, chứ không chỉ miêu tả chân dung tĩnh), cần tìm hiểu các động tác của người cử tạ để miêu tả cho đúng, tránh miêu tả người to khoẻ chung chung. Ví dụ hiện nay có hai kiểu đẩy trong bộ môn cử tạ là cử giật và cử đẩy.

Các em chỉ cần biết :

– Cử giật là đưa tạ lên đầu.

– Cử đẩy là đưa tạ vào ngực rồi mới đẩy lên đầu.

– Quả tạ là vật rất nặng, thường có hình cầu (tròn), to nhỏ tuỳ theo trọng lượng (số ki-lô-gam) ; nhưng với các lực sĩ cử tạ thì quả tạ rất nặng (hàng trăm ki-lô-gam), nên thường làm theo kiểu bánh xe treo ở hai đầu xà. Người cử tạ dùng hai tay to khoẻ và sức lực tổng hợp của cả cơ thể để nâng xà lên ngực và từ đó đưa lên đầu tuỳ theo kiểu cử tạ nêu trên.

– Người cử tạ rất cần một cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng, đặc biệt là sức mạnh của cơ bắp thể hiện ở đôi chân to khoẻ, vững chãi và đôi cánh tay rắn chắc.

Căn cứ vào hiểu biết của bản thân em và một số thông tin vừa nêu để miêu tả hành động cử tạ của một lực sĩ theo yêu cầu của đề bài.

3. Tả một người theo ý thích của bản thân là một đề văn có tính mở, tức là đề bài không bắt buộc về đối tượng miêu tả. Tuy nhiên, đối tượng được tả ở đây thường có đặc điểm nổi trội về hình thức, ngôn ngữ, dáng vẻ ngoại hình hoặc tính cách, thái độ, tình cảm, nội tâm,… Ngoài ra, cũng cần thấy đối tượng ấy có mối quan hệ như thế nào với người viết và tình cảm của người viết đối với đối tượng được tả ra sao ?

Từ các lưu ý trên, em tự xác định đối tượng và nội dung cho bài viết.

Bố cục (dàn ý) cho bài văn cũng như mọi bài khác, HS cần nắm vững nhiệm vụ của từng phần trong bài để đáp ứng yêu cầu cho phù hợp.

Giải Soạn Bài Ôn Tập Văn Miêu Tả Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2

Giải câu 1, 2, 3 trang 73 Sách bài tập (SBT) Ngữ văn 6 tập 2. Câu 1. Đây là đoạn văn của Ma Văn Kháng, trích từ tác phẩm Người con trai họ Hạng (NXB Thanh niên, 1982) :

Bài tập

1. Đây là đoạn văn của Ma Văn Kháng, trích từ tác phẩm Người con trai họ Hạng (NXB Thanh niên, 1982) :

b) Cách triển khai đoạn văn của tác giả là cách nào, lựa chọn một trong bốn nhận xét sau :

A – Quy nạp

B – Tổng – phân – hợp

C – Diễn dịch

D – Không theo cách nào

Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng – những màu vàng rất khác nhau.

Hãy viết thành một đoạn văn từ 8 đến 10 câu theo cách diễn dịch. Trong đoạn văn cố gắng nêu được nhiều màu vàng khác nhau.

3. Hãy nêu những điểm giống nhau và khác nhau giữa tả cảnh và tả người.

Gợi ý làm bài

1. Có thể rút lại hai câu thật ngắn gọn là :

“A Cháng đẹp người thật. Nhưng phải nhìn Hạng A Cháng cày mới thấy hết vẻ đẹp của anh.”

Từ đây có thể nhận xét đoạn văn viết theo cách nào.

2. Có thể tham khảo đoạn văn sau đây của Tô Hoài :

Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng – những màu vàng rất khác nhau. Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cứng và sáng ngày ra thì trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi. Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe. Trong vườn lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, trông như những tràng hạt bồ đề treo lơ lửng. Từng chiếc lá mít vàng ối. Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi. Buồng chuối đốm quả chín vàng. Những tàu lá chuối vàng ối xoã xuống như những đuôi áo, vạt áo. Nắng vườn chuối đương có gió lẫn với lá vàng như những vạt áo nắng, đuôi áo nắng vẫy vẫy. Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng. Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn. Quanh đó con gà, con chó cũng vàng mượt. Mái nhà phủ một màu vàng rơm mới. Lác đác cây lựu có mấy chiếc lá đỏ. Qua khe giậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói. Tất cả đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng. Không còn có cảm giác héo tàn hanh hao lúc sắp bước vào mùa đông. Hơi thở của đất trời, mặt nước thơm thơm, nhè nhẹ.

3. Tả cảnh hay tả người đều có chung một mục đích là tái hiện lại cảnh vật, con người một cách sống động, làm cho chúng hiện lên như thật trước mắt người đọc. Muốn thế, tả cảnh hay tả người đều phải biết quan sát tinh để lựa chọn được các chi tiết và hình ảnh đặc sắc, tiêu biểu, sau đó phải biết sắp xếp, trình bày theo một thứ tự hợp lí. Ngoài ra, khi tả cảnh và tả người, HS đều cần phải biết liên tưởng, tưởng tượng, ví von so sánh và có những nhận xét độc đáo thì bài viết mới sinh động.

Điểm khác nhau giữa tả cảnh và tả người chỉ ở chỗ đối tượng chính của tả cảnh là cảnh vật (thường là phong cảnh – tức các cảnh thiên nhiên như sông, núi, mưa, nắng,…), còn đối tượng chính của tả người là con người với hai dạng chính : tả chân dung (diện mạo bề ngoài và tâm lí bên trong), tả hành động (con người trong khi lao động, làm việc).