Pgs Nguyễn Xuân Thảo: Dạy Toán Bằng Cả Tâm Huyết Với Nghề

--- Bài mới hơn ---

  • Những Bài Toán Giải Tích Chọn Lọc Tô Văn Ban
  • Số Phức Và Các Chuyên Đề Thptqg
  • Giải Bài 1,2,3,4, 5,6,7 Trang 45,46 Sgk Hình Học 10: Tích Vô Hướng Của Hai Vectơ
  • Bài Tập Về Xét Tính Liên Tục Của Hàm Số
  • Xét Tính Liên Tục Của Hàm Số
  • Điểm: 4.29/5 (7 đánh giá)

    Vũ Thơm

    Gần 40 năm gắn bó với sự nghiệp trồng người, 16 năm tham gia đào tạo, bồi dưỡng sinh viên và là Trưởng đoàn dẫn sinh viên tham gia cuộc thi Olympic môn Toán cấp quốc gia, gần 60 bài báo được công bố trên các tạp chí trong nước và quốc tế, hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh và học viên cao học… là những con số “biết nói”, minh chứng cho lòng nhiệt huyết, tình yêu nghề của PGS Nguyễn Xuân Thảo – nguyên Trưởng Bộ môn Toán cơ bản, Viện Toán Ứng dụng và Tin học, một trong năm thầy cô được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2022.

    “Hình ảnh người thầy đã ăn sâu vào tâm thức tôi từ nhỏ”

    Hẹn gặp PGS Nguyễn Xuân Thảo vào một chiều mùa đông giá lạnh ngay tại Bộ môn Toán cơ bản, thầy nhẹ nhàng rót chén trà nóng mời phóng viên Đặc san Bách khoa Hà Nội, tay run run bởi cái lạnh dưới 10 0 C ngoài trời, tôi đón chén trà từ bàn tay ấm áp của thầy. Lòng tôi như dần ấm lên không phải nhờ bất kỳ một thiết bị điều hòa nào mà chính bởi tấm lòng đầy nhiệt huyết của người thầy đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp trồng người.

    Bắt đầu câu chuyện, PGS Thảo kể: “Thưở nhỏ, hình ảnh người thầy giáo làng nắn từng nét chữ, viết từng con số, tận tình chỉ bảo học sinh đã ăn sâu vào tâm thức tôi. Hình ảnh đẹp ấy đã luôn thôi thúc tôi cố gắng học tập thật tốt để một ngày kia, tôi cũng có thể trở thành nhà giáo luôn được các em học sinh kính trọng, quý mến”. Đó chính là lý do mà PGS Thảo đã chọn học ngành sư phạm của Đại học Sư phạm Hà Nội để thực hiện ước mơ ngày nào. Đi một con đường riêng bởi cả gia đình không có ai theo nghề giáo nên thầy gặp không ít khó khăn. Vừa ra trường, bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ, thầy Thảo rời xa gia đình vào công tác tại Khoa Toán, Đại học Sư phạm Quy Nhơn. Trong khoảng thời gian này, thầy một mặt vừa tham gia giảng dạy, nghiên cứu, mặt khác vừa nâng cao trình độ chuyên môn. Thầy học lên cao học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; rồi đến năm 1995 thầy bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Trường Đại học Tổng hợp Novgorod (Liên bang Nga). Những năm tháng tu nghiệp tại nước ngoài, PGS Nguyễn Xuân Thảo nhận được rất nhiều lời mời của các doanh nghiệp với mức lương hấp dẫn, nhưng bằng tình yêu, sự kiên định, thầy quyết định trở về nước và tiếp tục theo đuổi niềm đam mê của mình.

    Tình yêu lớn dành cho Toán học

    Chuyển qua nhiều đơn vị công tác như Đại học Sư phạm Quy Nhơn, Đại học Thủy Lợi và đến năm 2009, thầy chuyển về làm việc tại Viện Toán Ứng dụng và Tin học, Trường ĐHBK Hà Nội. Lý giải cho sự thay đổi này, PGS Nguyễn Xuân Thảo cho biết: “Trong thời đại công nghệ số như hiện nay, Toán học có vai trò rất quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của xã hội. Tôi lựa chọn ĐHBK Hà Nội là điểm dừng chân, bởi ở đây tôi được làm việc với các giáo sư đầu ngành và là nơi lý tưởng để phát triển các hướng nghiên cứu của mình về Toán giải tích”.

    PGS Nguyễn Xuân Thảo chính là người có công rất lớn trong việc mở thêm chuyên ngành Toán giải tích để đào tạo tiến sĩ. “Bất kể một ngành đào tạo nào khi mới mở cũng gặp muôn vàn khó khăn, đặc biệt là một chuyên ngành đào tạo tiến sĩ thì khó khăn ấy nhân lên gấp bội. Năm 2010, tôi đã cùng đồng nghiệp ở Bộ môn viết Đề án trình Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét phê duyệt, lên khung chương trình đào tạo rồi tuyển sinh. Đây là thời gian vô cùng áp lực và căng thẳng, nếu không tuyển sinh được có nghĩa là bao tâm huyết của tôi thất bại. Thế rồi, thông qua các hội thảo khoa, các bài báo được đăng trên các tạp chí trong nước và quốc tế, các nghiên cứu sinh đã biết đến chương trình đào tạo cùng các hướng nghiên cứu và chủ động liên lạc với chúng tôi. Năm đầu tiên tuyển sinh (2012) đã có 1 nghiên cứu sinh đăng ký lựa chọn chuyên ngành này, năm thứ hai có thêm 3 nghiên cứu sinh nữa và các năm sau số lượng đó được tăng lên” – PGS Thảo nhớ lại.

    Bên cạnh việc tham gia giảng dạy cao học, hướng dẫn nghiên cứu sinh, PGS Nguyễn Xuân Thảo còn dành tâm huyết của mình tham gia giảng dạy, truyền đạt kiến thức chuyên môn đến các em sinh viên. Môn toán vốn được xem là môn học khô khan, nhiều công thức, chữ số, vì vậy, thầy luôn đưa ra các ví dụ thực tế để giúp sinh viên tiếp thu bài nhanh chóng, nắm chắc kiến thức ngay trên giảng đường. Không những vậy, thầy luôn cập nhật những kiến thức mới, bài giảng hay, phương pháp khoa học để truyền đạt kiến thức đến sinh viên.

    Với những kinh nghiệm tích lũy được cùng uy tín, tâm huyết của mình, bên cạnh công việc chuyên môn, thầy còn được giao nhiệm vụ bồi dưỡng sinh viên giỏi tham gia cuộc thi Olympic môn Toán cấp quốc gia các năm. Nhờ công sức bồi dưỡng của thầy và các thầy cô khác, đội tuyển Olympic môn Toán của Trường ĐHBK Hà Nội đã đạt được nhiều thành tích cao như: giải Xuất sắc toàn đoàn năm 2003, 2022; giải Nhất toàn đoàn các năm 2010, 2012…; giải Đặc biệt của sinh viên Lê Bá Trường Giang năm 2022…

    Chia sẻ về những “thành quả” của mình, PGS Nguyễn Xuân Thảo khiêm tốn nói: “May mắn làm đúng ngành nghề đam mê, tôi luôn tâm niệm cố gắng hết mình, luôn tìm tòi, học hỏi những phương pháp dạy hay, có hiệu quả nhất để đưa Toán học đến gần với sinh viên và cuộc sống hơn”.

    (Đặc san Bách Khoa Hà Nội, Số 5/2018)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ứng Dụng Tích Phân Tính Giới Hạn Của Dãy Số
  • Đề Thi Cuối Học Kỳ 3 Năm Học 2022
  • Đề Thi Cuối Học Kỳ Ii Năm Học 2022
  • Bài Tập Giải Tích 1
  • Đề Cương Giải Tích 2 Sami
  • Giáo Trình Giải Tích 2 Bùi Xuân Diệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết & Giải Bài 3: Ứng Dụng Của Tích Phân Trong Hình Học
  • Giải Bài Tập 1 Trang 43 Sgk Giải Tích 12
  • Ra Mắt Sách ‘giải Tích Cho Kinh Doanh, Kinh Tế Học, Khoa Học Sự Sống Và Xã Hội’
  • Xuất Bản Bản Tiếng Việt Sách “giải Tích” Của James Stewart
  • Bài Giảng Toán Cao Cấp
  • Giáo Trình Giải Tích 2 Bùi Xuân Diệu, Bài Giảng Giải Tích 3 Bùi Xuân Diệu, Phân Tích Vội Vàng – Xuân Diệu, Giải Tích 3 Giáo Trình Và 500 Bài Tập, Giáo Trình Giải Tích 2, Giáo Trình Giải Tích 1, Giáo Trình Giải Tích 3, Giải Tích 2 Giáo Trình, Giải Tích 3 Giáo Trình, Giáo Trình Giải Tích Tập 1, Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ, Giáo Trình Học Máy Hoàng Xuân Huấn, Giáo Trình Thuế 1 Lê Xuân Quang, Giáo Trình Kỹ Thuật Điện Tử Đỗ Xuân Thụ, Giáo Trình Báo Chí Truyền Hình – Gs Dương Xuân Sơn, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí – Đinh Xuân Thắng Pdf, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí – Đinh Xuân Thắng, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí 2007 Đinh Xuân Thắng, Giáo Trình Kỹ Thuật Xử Lý ô Nhiễm Không Khí – Đinh Xuân Thắng, Thông Tư 73/2012/tt-bca Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thuỷ, Thông Tư 77/2012/tt-bca Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ Của Cảnh, Thông Tư 77/2012/tt-bca Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ Của Cảnh, Thông Tư Số 73/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thôn, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Thông Tư 73/2012/tt-bca Về Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Nội, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thôn, 77/2012/tt-bca Ngày 28 Tháng 12 Năm 2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Thông Tư 73/2012/tt-bca Về Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Nội, Thông Tư Số 73/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thôn, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Thông Tư 77/2012/tt-bca Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ Của Cảnh, Hông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đườ, Phân Tích Xuân Đương Tới Nghĩa Là Xuân Đương Qua, Thông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đ, Thông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đư, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 0/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Thông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đ, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 0/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông , Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Giải Bài Tập Phương Trình Tích, Sách Giáo Khoa Giải Tích 12, Phân Tích Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 3 Khổ Thơ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 3 Khổ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Hãy Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích Khổ 4 Và Khổ 5 Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 6 Câu Thơ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ, Hãy Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ, Văn 9 Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ, Em Hãy Phân Tích Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phần Tích 3 Khổ Thơ Cuối Của Bài Văn Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 3 Khổ Thơ Cuối Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích Ba Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nho Nhỉ, Phân Tích Ba Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 3 Khổ Cuối Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Truyện Cổ Tích Xuân Hạ Thu Đông, Tài Liệu Giáo Khoa Chuyên Toán Giải Tích 12, Phân Tích Cảnh Ngày Xuân, Phân Tích 4 Câu Thơ Đầu Bài Cảnh Ngày Xuân, Phân Tích 7 Khổ Đầu Bài Sóng Của Xuân Quỳnh, Phân Tích 4 Câu Đầu Cảnh Ngày Xuân, Hãy Phân Tích Bài Cảnh Ngày Xuân, Dàn ý Phân Tích Hình ảnh Mẹ Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Phân Tích 4 Khổ Thơ Cuối Sóng Xuân Quỳnh, Phân Tích 6 Câu Thơ Cuối Cảnh Ngày Xuân, Phân Tích 6 Câu Thơ Cuối Bài Cảnh Ngày Xuân, Hãy Phân Tích Diễn Biến Tâm Lí Của Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân, 5 Bài Thơ Của Xuân Diệu, 3 Câu Thơ Của Xuân Diệu, Bài Thơ Xuân Diệu, Xuan Dieu, Tóm Tắt Xuân Diệu, Câu Thơ Xuân Diệu, Tap Tho Xuan Dieu, Hãy Giải Thích Nghĩa Của Từ Xuân, Hãy Giải Thích Nhan Đề Mùa Xuân Nho Nhỏ, Hãy Giải Thích Câu Mùa Xuân Là Tết Trồng Cây, Mẫu Giải Trình Bổ Sung Điều Chỉnh, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Phân Tích Sức Sống Tiềm Tàng Của Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Dàn Ý Phân Tích Tâm Trạng Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Phân Tích Diễn Biến Tâm Lí Nhân Vật Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Thời Hạn Điều Tra, Giải Quyết Vụ Tai Nạn Giao Thông, Giáo Trình Phân Tích Hóa Lý, Tuyển Tập Thơ Xuân Diệu, Địa Chỉ Trường Xuân Diệu Mỹ Tho, Câu Thơ Nào Nói Về Giọng Thơ Của Xuân Diệu, Vội Vàng Xuân Diệu, Tuyển Tập Thơ Xuân Diệu Pdf, Tuyển Tập Thơ Hay Xuân Diệu, Bản Giải Trình Khai Bổ Sung Điều Chỉnh, Mẫu Giải Trình Khai Bổ Sung Điều Chỉnh, Giải Trình Đáp ứng Điều Kiện Kinh Doanh, Mẫu Bản Giải Trình Khai Bổ Sung Điều Chỉnh, Hãy Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Nhân Vật Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Phân Tích Sức Sống Tiềm Tàng Của Nhân Vật Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Phân Tích Diễn Biến Tâm Trạng Của Nhân Vật Mị Trong Đêm Tình Xuân,

    Giáo Trình Giải Tích 2 Bùi Xuân Diệu, Bài Giảng Giải Tích 3 Bùi Xuân Diệu, Phân Tích Vội Vàng – Xuân Diệu, Giải Tích 3 Giáo Trình Và 500 Bài Tập, Giáo Trình Giải Tích 2, Giáo Trình Giải Tích 1, Giáo Trình Giải Tích 3, Giải Tích 2 Giáo Trình, Giải Tích 3 Giáo Trình, Giáo Trình Giải Tích Tập 1, Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ, Giáo Trình Học Máy Hoàng Xuân Huấn, Giáo Trình Thuế 1 Lê Xuân Quang, Giáo Trình Kỹ Thuật Điện Tử Đỗ Xuân Thụ, Giáo Trình Báo Chí Truyền Hình – Gs Dương Xuân Sơn, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí – Đinh Xuân Thắng Pdf, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí – Đinh Xuân Thắng, Giáo Trình ô Nhiễm Không Khí 2007 Đinh Xuân Thắng, Giáo Trình Kỹ Thuật Xử Lý ô Nhiễm Không Khí – Đinh Xuân Thắng, Thông Tư 73/2012/tt-bca Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thuỷ, Thông Tư 77/2012/tt-bca Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ Của Cảnh, Thông Tư 77/2012/tt-bca Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ Của Cảnh, Thông Tư Số 73/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thôn, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Thông Tư 73/2012/tt-bca Về Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Nội, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thôn, 77/2012/tt-bca Ngày 28 Tháng 12 Năm 2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Thông Tư 73/2012/tt-bca Về Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Nội, Thông Tư Số 73/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thôn, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Thông Tư 77/2012/tt-bca Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Bộ Của Cảnh, Hông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đườ, Phân Tích Xuân Đương Tới Nghĩa Là Xuân Đương Qua, Thông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đ, Thông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đư, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 0/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 05/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Thông Tư 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đ, Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 0/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông , Thông Tư Số 77/2012/tt-bca Ngày 28/12/2012 Quy Định Quy Trình Điều Tra Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông, Giải Bài Tập Phương Trình Tích, Sách Giáo Khoa Giải Tích 12, Phân Tích Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 3 Khổ Thơ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 3 Khổ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Hãy Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích Khổ 4 Và Khổ 5 Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Phân Tích 6 Câu Thơ Đầu Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ, Em Hãy Phân Tích Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tích Phân Suy Rộng (Improper Integrals)
  • Gt Trong Toán Học Là Gì? Giải Tích Là Gì?
  • Giải Tích Toán Học Ở Bậc Phổ Thông?
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8224:2009 Công Trình Thủy Lợi
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8478: 2010
  • Cảm Nhận Về Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tôi Yêu Em
  • Phân Tích Bài Thơ Tôi Yêu Em, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài
  • Tuần 26. Tôi Yêu Em
  • Bài Văn Tả Mẹ Lớp 6 Hay Tuyển Chọn
  • 6 Bài Tập Kế Toán Định Khoản Kế Toán Doanh Nghiệp + Lời Giải Hay
  • Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam là danh nhân văn hoá thế giới. Truyện Kiều là một kiệt tác của thiên tài Nguyễn Du.

    Đoạn trích Cảnh Ngày Xuân là một trong những đoạn trích hay của truyện kiều, được trích ở phần một gặp gỡ và đính ước. Sau bức chân dung tài sắc của chị em Thuý Kiều là bức hoạ về cảnh sắc mùa xuân trong tiết thanh minh và cảnh du xuân của trai tài gái sắc. Đoạn thơ Cảnh Ngày Xuân có 18 câu từ câu 39 đến 56 của Truyện Kiều tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh và tả tình của Nguyễn Du.

    Mở đầu bài thơ tác giả miêu tả bức tranh mùa xuân :

    Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi

    Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    Một không gian nghệ thuật hữu sắc hữu hương hữu tình nên thơ được mở ra. Giưa bầu trời bao la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như đưa thoi cách nói mùa xuân thân mật biết bao. Hai chữ đưa thoi rất gợi hình gợi cảm vút qua vút lai chao liệng để diễn tả thời gian trôi nhanh mùa xuân đang trôi nhanh. Sau cánh én đưa thoi là ánh xuân “Thiều Quang” của mùa xuân chín chục đã ngoài sáu mươi. Cách tính thời gian và miêu tả vẻ đẹp của mùa xuân của thi sỹ thật thú vị mùa xuân đã bước sang tháng ba ánh sáng của mùa xuân hồng ấm áp. Rồi còn cả sắc xanh mơn mởn ngọt ngào của cỏ nỏn trải dài trải rộng như thảm “đến tận trân trời”. Còn sắc trắng tinh khôi thanh khiết của hoa lê. Chỉ bằng vài nét thôi cộng với sự pha trộn màu sắc tài tình cảnh mùa xuân hiện ra thật đẹp nó có sự mới mẻ và sức sống đang trỗi dậy của màu xanh của cỏ non có sự tinh khôi tươi đẹp của những bông hoa lê trắng và bức tranh thật sống động bởi động từ điểm

    Tám câu thơ tiếp theo tả cảnh chảy hội mùa xuân:

    “Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

    Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

    Dập dìu tài tử giai nhân

    Ngựa xe như nước áo quần như nêm

    Ngổn ngang gò đống kéo lên

    Ngựa xe như nước áo quần như nêm

    Lễ tảo mộ đi viếng sửa sang phần mộ người thân hội đạp thanh( dẫm lên cỏ xanh) đi chơi xuân ở chốn đồng quê. Điệp từ “lễ là…….hội là”gợi nên cảnh lễ hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra bao đời nay. Cảnh chảy hội đông vui tưng bừng náo nhiệt. Trên các lẻo đồng gần xa những dòng người cuồn cuộn chảy hội. Có biết bao yến anh chảy hội(hình ảnh ẩn dụ chỉ các nam thanh nữ tú). Trong niềm vui nô nức hồ hởi dục dã. Có biết bao tài tử giai nhân dập dìu sánh vai chân nối chân nhịp bước. Dòng người chảy hội tấp lập ngựa xe cuồn cuộn như nước áo quần đẹp đẽ tươi thắm sắc màu nghìn nghịt đông vui trên các nẻo đường như nêm các từ ngữ “nô nức dập dìu” các hình ảnh so sánh “như nước như nêm”đã gợi tả mùa xuân tưng bừng náo nhiệt khắp mọi miền quê. Trẻ trung sinh đẹp sang trọng phong lưu trong đám tài tử giai nhân là ba chị em Kiều đang xốn sang náo nức chuẩn bị du xuân, các từ ghép “yến anh chị em tài tử giai nhân ngựa xe áo quần(danh từ). Gần xa nô nức sắm sửa dập dìu(động từ. tính từ”đượn thi hào Nguyễn Du sử dụng làm sống lại không khí mùa xuân một nét đẹp của nền văn hoá lâu đời của phương đông và nếp sống của chị em Thuý Kiều.

    “Ngổn ngang gò đống kéo lên

    Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay”

    Đời sống tâm tình phong tục dân gian cổ truyền trong lễ tảo mộ được Nguyễn Du nối đến với những cảm thông chia sẻ trước những ngôi mộ người ta rắc vàng thoi bạc giấy bày cỗ thắp lến đốt nhang khấn vái để tưởng nhớ những người thân đã mất tạo ra một không gian giao hoà trong cõi tâm linh mỗi con người.

    Sáu câu thơ cuối ghi lại cảnh chị em Thuý Kiều đi tảo mộ đang bước dần trở về. Mặt trời đẫ tà tà gác núi. Ngày hội ngày vui đã trôi qua nhanh:

    “Tà tà bóng ngả về tây

    Chị em thơ thẩn dang tay ra về”

    Hội tan ngày tàn sao chẳng buồn. Nhịp thơ chậm dãi nhịp sống như ngừng trôi. Tâm tình “thơ thẩn” cử chỉ “dan tay” nhịp chân “bước dần” một cái nhìn man mác bâng khuâng “lần xem”.Đối với mọi cảnh vật tất cả đều nhỏ bé khe suối chỉ là ngọn tiểu khê, phong cảnh thanh dòng nước lao lao uốn quanh dịp cầu nho nhỏ uốn quanh cối gềnh. Cả một không gian êm đềm vắng lặng tâm tình chị em Kiều như dịu lại trong bóng tà dương như đang đợi chờ một cái gì sẽ đến sẽ nhìn thấy, nên cặp mắt cứ lần xem gần xa. Các từ láy tượng hình “thanh thanh nao nao nho nhỏ”gợi lên sự nhạt nhoà của cảnh vật và sự dung động của tâm hồn giai nhân khi hội tan nỗi buồn man mác bâng khuâng thấm sâu nan toả trong tâm hồn của giai nhân đa tình đa cảm.

    Bằng nghệ thuật miêu tả thiên nhiên theo trình tự thời gian không gian kết hợp tả với gợi tả cảnh thể hiện tâm trạng. Từ ngữ giàu chất tạo hình sáng tạo nghệ thuật đối lập sử dụng từ ghép từ láy. Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên mùa xuân đẹp đẽ khoáng đạt tinh khôi thanh khiết mới mẻ và đầy sức sống cảnh lễ hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt và tâm trạng xốn sang náo nức của chị em Thuý Kiều khi đi hội tâm trạnh buồn lưu luyến bâng khuâng khi trở về. Qua đây ta thấy Nguyễn Du là người yêu thiên nhiên hiểu lòng người có tài khi miêu tả. Đoạn thơ đem đến cho chúng ta cảm nhận được không khí mùa xuân giúp ta thêm yêu thiên nhiên quê hương đất nước.

    Cảm nhận về đoạn trích Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 2

    Nguyễn Du là một nghệ sĩ thiên tài. Không chỉ tả tình sâu sắc mà ngòi bút của ông trong tả cảnh cũng rất tài hoa. Với đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, ông không những vẽ lên một bức tranh xuân trong sáng, tươi đẹp mà còn gợi lên không khí lễ hội rộn ràng và tưng bừng.

    Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian, rất phù hợp với diễn biến tâm trạng của con người trong cuộc du xuân: bốn câu đầu tả khung cảnh ngày xuân, tám câu tiếp tả cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh, sáu câu cuối là cảnh chị em Kiều ra về.

    Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã đem đến cho chúng ta một bức tranh thiên nhiên thật sống động, tươi đẹp mà đầy sức xuân.

    “Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”

    Nhà thơ đã sử dụng rất thành công bút pháp nghệ thuật giữa gợi và tả. Hai câu đầu vừa nói thời gian, vừa gợi không gian mùa xuân. Ngày xuân thấm thoát trôi mau đã qua tháng giêng, tháng hai, bước sang tháng ba. Câu đầu bài thơ tả cảnh ngày xuân có những cánh chim én bay đi bay lại rộn ràng giữa bầu trời trong xanh như con thoi đưa. Nếu như trong bài thơ “Mùa xuân chín”, thi sĩ Hàn Mạc Tử nói;

    “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” thì Nguyễn Du lại nói khác: “Cỏ non xanh tận chân trời”. Ở đây, nhà thơ muốn thể hiện sắc cỏ vừa non xanh vừa mỡ màng, ngọt ngào trải rộng tới chân trời càng khẳng định sự ảnh hưởng sâu sắc của Nguyễn Du với thi sĩ Hàn Mặc Tử. Chỉ hai câu thơ:

    “Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài hông hoa”

    Bên cạnh vẻ đẹp của hoa, Nguyễn Du còn cảm nhận được sự mềm mại, uốn lượn, nhỏ nhắn của dòng nước. Dòng nước, cây cầu bị nhuốm bởi sắc vàng đỏ của ánh sáng mặt trời buổi chiều tà. Nhưng chính nhờ cảnh người đi trẩy hội, tấp nập trong khói hương nghi ngút, đã tạo nên sự sinh động cho bức tranh. Nhịp thơ nhẹ nhàng, hình sắc thanh âm êm dịu, thanh thoát ngân vang của từng dòng thơ cũng làm cho chúng ta cảm nhận được vẻ trong lành, thanh khiết của mùa xuân.

    Có thể nói đây là bức tranh xuân được dệt nên từ những màu sắc tinh tế, quý phái phối màu hài hòa giữa hai gam màu xanh và trắng; giữa màu vàng và màu đỏ tạo sự ấm áp mà không chói chang. Đường nét, hìnhkhối mà nhà thơ chọn tả đều thanh mảnh ở mọi góc nhìn. Cánh én chao liệng, người đi trẩy hội khiến bức tranh trở nên ấm áp; làm cho cảnh vật “nửa như thực, nửa như mơ”.

    “Gần xa nô nức yến anh

    Chị em sấm sửa bộ hành chơi xuân

    Dập dìu tài tử giai nhân

    Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”

    Bốn câu thơ tiếp, Nguyễn Du tập trung miêu tả cảnh du xuân của chị em Kiều. Chị em Kiều hòa mình giữa dòng người tấp nập như chim yến anh để dự lễ tảo mộ ở vùng đồng quê. Chị em Kiều vừa đi, vừa thong thả ngắm cảnh chốn đồng quê thanh bình rồi thả thoi tiền giấy bay trong gió. Sử dụng một loạt các từ ghép, từ láy là tính từ, động từ như: gần xa, nô nức, tài tử, giai nhân, dập dìu, hình ảnh so sánh “ngựa xe như nước” “áo quần như nêm” Nguyễn Du đã miêu tả cuộc du xuân của chị em Kiều trong không khí lễ hội thật rộn ràng, tấp nập. Thông qua cuộc du xuân của chị em Kiều, Nguyễn Du đã khắc họa một nét truyền thống văn hóa xa xưa. Dù xuân đã muộn nhưng ta vẫn thấy cảnh xuân rộn ràng, nhộn nhịp những nam thanh, nữ tú, tài tử, giai nhân, những đoàn người đông vui như chim én, chim oanh ríu rít, tưng bừng.

    Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một bức tranh xuân trong sáng và tươi đẹp, một bức tranh “thi trung hữu họa”. Thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Du thật đẹp được tạo nên từ hồn thơ nhạy cảm và ngòi bút tài hoa của nhà đại thi hào dân tộc.

    Cảm nhận về đoạn trích Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 3

    Nguyễn Du không chỉ là bậc thầy về ngôn ngữ trong việc miêu tả tâm lý nhân vật mà còn là “họa sĩ” vẽ tranh bằng chữ. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” trích Truyện Kiều là một ví dụ điển hình. Người đọc phải khâm phục và ngưỡng mộ khả năng quan sát cũng như những nét vẽ tài hoa của Nguyễn Du. Bức tranh ngày xuân hiện lên với những nét đẹp tươi mới, tràn đầy sức sống nhất.

    Có thể nói mùa xuân là đề tài bất tận trong thi ca, khơi nguồn cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ. Mỗi người có một cảm nhận riêng về mùa xuân. Đối với Nguyễn Du, mùa xuân gắn với cảnh vật và con người, với những ngày lễ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Bao trùm lên cả đoạn thơ này là một bức tranh thiên nhiên đẹp, hữu tình nhưng có nhuốm màu buồn khi ngày đã ngả về chiều hôm.

    Những câu thơ đầu được sử dụng với chất liệu ngôn ngữ đẹp như tranh, sự mượt mà của câu chữ đã tạo nên sự mượt mà của cảnh sắc thiên nhiên khi xuân về:

    Ngày xuân con én đưa thoi

    Thiều quang chin chục đã ngoài sáu mươi

    Cỏ non xanh rợn chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

    Một không gian đầy chất thơ, thi vị và hữu tình biết bao nhiêu. Sự rộng lớn của đất trời khi mùa xuân về được diễn tả một cách tinh tế và tràn ngập niềm vui. Cánh én chính là báo hiệu cho mùa xuân về, một mùa gợi lên sự ấm áp, sự sống căng đầy và niềm vui trọn vẹn. Với từ ngữ “đưa thoi” vừa gợi lên khung cảnh bầu trời tràn ngập cánh én, vừa diễn tả sự trôi đi quá nhanh của thời gian. Có phải chăng ý niệm về thời gian của Nguyễn Du có phần giống với Xuân Diệu, thời gian trôi đi nhanh, mùa xuân và tuổi trẻ cũng trở nên chông chênh hơn. Đồng nghĩa với thời gian trôi đi, tuổi trẻ trôi đi thì đời người bỗng nhiên ngắn lại.

    Trong lúc đấy, chỉ với hai nét vẽ Nguyễn Du như vẽ lên trang giấy một bức tranh thiên nhiên mùa xuân đẹp tuyệt vời. Nghệ thuật điểm xuyết chấm phá đã được sử dụng dứt điểm, khiến cho câu thơ trở nên mềm mại và căng tràn sức sống hơn. Màu xanh của cỏ non tạo nên sự tươi mới và tinh khiết của đất trời. Từ “rợn” vừa tả cái xa, vừa gợi cái rộng lớn của mùa xuân, của cảnh vật khi xuân về. Nó làm cho câu thơ như được ngân dài ra, bừng sáng lên sức sống tràn đầy. Trên nền xanh của cỏ, của bầu trời có điểm xuyết “một vài bông hoa” trắng tinh khiết. Chính sự điểm xuyết này khiến cho cả bài thơ như bừng lên một sức sống mãnh liệt, khó có thể dập tắt.

    Có thể nói với chỉ 4 câu thơ này, Nguyễn Du như người họa sĩ tài hoa vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, có sự giao thoa và hòa quyện giữa đất và trời. Không khí mùa xuân, hương sắc mùa xuân và cả ý vị mùa xuân cứ thế tràn ra trong từng câu thơ đẹp như vậy.

    Không khí mùa xuân như tươi đẹp hơn với lễ hội tảo mộ tháng Ba:

    Thanh minh trong tiết tháng ba

    Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

    Có lẽ không khí vui tươi, tưng bừng, phấn khởi của con người trong dịp đi tảo mộ thật sự khiến cho người đọc như sống lại với không khí những ngày xuân tươi mới nhất. Con người cũng hiện lên như tô điểm thêm bức tranh ngày xuân tươi đẹp đó

    Dập dìu tài tử giai nhân

    Ngựa xe như nước áo quần như nêm

    Mùa xuân là dịp để “tài tử giai nhân” được vui chơi, giãi bày tâm sự với nhau. Có vẻ như mùa xuân là thời điểm thích hợp cho chuyện tình yêu nảy nở, cho những yêu thương còn bỏ ngỏ được phép căng trào ra. Hình ảnh “ngựa xe”, “áo quần” gợi lên sự tấp nập, nhộn nhịp và huyên náo. Nguyễn Du đã rất tài tình khi sử dụng một loạt hình ảnh có tính chất gợi hình ảnh khiến cho người đọc có cảm giác như đang bước vào không khí của mùa xuân.

    Ngổn ngang gò đống kéo lên

    Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay

    Những phong tục tập quán khi mùa xuân về, khi được đi tảo mộ đã được Nguyễn Du vẽ lên chân chất, mộc mạc, gợi nhớ và gợi thương. Đó chính là tấm lòng thành kính hướng về quá khứ với một sự biết ơn chân thành nhất. Hai câu thơ này thực sự khiến người đọc xúc động khi nhớ về những người đã khuất, những người tạo dựng nên cuộc sống hiện nay của chúng ta.

    Tuy nhiên những câu thơ cuối dường như cảnh vật và con người trở nên buồn bã và đìu hiu hơn:

    Tà tà bóng ngả về tây

    Chị em thơ thẩn dan tay ra về

    Bước dần theo ngọn phong khê

    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh

    Nhịp thơ trở nên nhẹ nhàng, trầm bổng khiến cho tâm trạng của con người trở nên nặng nề và buồn rầu hơn. Với từ láy “tà tà” đã phần nào gợi tả thời gian đã xế chiều và không gian dường như tĩnh mịch và ảm đạm hơn. Mỗi bước chân cũng trở nên nặng nề hơn khi màn đêm sắp buông xuống, con người cũng cảm nhận được một nỗi buồn nào đó len vào trong trái tim. Tâm sự của con người như nhuốm vào cảnh sắc thiên nhiên, khiến cho nó trở nên tiêu điều và xơ xác hơn.

    Có thể nói dù cảnh trong thơ Nguyễn Du buồn hay vui thì vẫn mang phong vị riêng của nhà thơ. Đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một ví dụ điển hình như thế. Bức tranh ngày xuân vui tươi, rộn ràng, náo nức và có chút buồn phiền được Nguyễn Du khắc họa thành công với sự cảm nhận tinh tế cũng như sự tài hoa trong cách dụng công xây dựng ngôn ngữ.

    Cảm nhận về đoạn trích Cảnh ngày xuân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du – Bài làm 4

    Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ mang những giá trị xã hội sâu sắc mà còn làm say lòng người đọc ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút. Một trong số đó là đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (trích Truyện Kiều, sách Ngữ văn 9, tập một – NXB Giáo dục, 2008).

    Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm. Vào ngày Tết Thanh minh, chị em Thúy Kiều đi tảo mộ. Thiên nhiên và con người ngày xuân hiện lên tươi tắn, xinh đẹp đông vui nhộn nhịp dưới đôi mắt “xanh non biếc rờn” của những chàng trai, cô gái tuổi đôi tám.

    Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng:

    ” Ngày xuân con én đưa thoi,

    Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi.

    Cỏ non xanh tận chân trời,

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”…

    Không gian mùa xuân được gợi nên bởi những hình ảnh những cánh én đang bay lượn rập rờn như thoi đưa. Sự mạnh mẽ, khỏe khắn của những nhịp cánh bay cho thấy rằng mùa xuân đang độ viên mãn tròn đầy nhất. Quả có vậy: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” có nghĩa là những ngày xuân tươi đẹp đã qua đi được sáu chục ngày rồi, như vậy bây giờ đang là thời điểm tháng ba.

    Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non, tươi mát của thảm cỏ trải ra bao la: “Cỏ non xanh tận chân trời”, sắc cỏ tháng ba là sắc xanh non, tơ nõn mềm mượt êm ái. Huống chi cái sắc ấy trải ra “tận chân trời” khiến ta như thấy cả một biển cỏ đang trải ra rập rờn, đẹp mắt. Có lẽ chính hình ảnh gợi cảm ấy đã gợi ý cho Hàn Mặc Tử hơn một thế kỉ sau viết nên câu thơ tuyệt bút này: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê. Chỉ là “vài bông” bởi những bông hoa lê đang thì chúm chím chưa muốn nở hết. Hoa như xuân thì người thiếu nữ còn đang e ấp trong ngày xuân. Chữ điểm có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà. ở đây, tác giả sử dụng bút pháp hội hoạ phương Đông, đó là bút pháp chấm phá.

    Hai câu thơ tả thiên nhiên ngày xuân của Nguyễn Du có thể khiến ai đó liên tưởng đến hai câu thơ cổ của Trung Quốc: hương thơm của cỏ non, màu xanh mướt của cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cành lê có điểm một vài bông hoa. Nhưng cảnh trong hai câu thơ này đẹp mà tĩnh tại. Trong khi đó gam màu nền cho bức tranh mùa xuân trong hai câu thơ của Nguyễn Du là thảm cỏ non trải rộng tới tận chân trời. Trên cái màu xanh cùa cỏ non ấy điểm xuyết một vài bông lê trắng (câu thơ cổ Trung Quốc không nói tới màu sắc của hoa lê). Sắc trắng của hoa lê hoà hợp cùng màu xanh non mỡ màng của cỏ chính là nét riêng trong hai câu thơ của Nguyễn Du. Nói gợi được nhiều hơn về xuân: vừa mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống lại vừa khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết.

    Thiên nhiên trong sáng, tươi tắn và đầy sức sống, con người cũng rộn ràng, nhộn nhịp để góp phần vào những chuyển biến kì diệu của đất trời.

    Sáu câu thơ tiếp của bài thơ tái hiện phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh) trong tiết Thanh minh. Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép tính từ, danh từ, động từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, sắm sửa, dập dìu, gần xa, nô nức. Chúng được đặt cạnh nhau dồn dập gợi nên không khí đông đúc, vui tươi sôi nổi. Đó không chỉ là không khí lễ hội mà còn mang đậm màu sắc tươi tắn, trẻ trung của tuổi trẻ:

    “Gần xa nô nức yến anh

    Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

    Dập dìu tài tử giai nhân

    Ngựa xe như nước áo quần như nêm”.

    Nhưng hội họp rồi hội phải tan. Sau những giây phút sôi nổi, chị em Thúy Kiều phải rời buổi du xuân trở về:

    “Tà tà bóng ngả về tây,

    Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

    Bước lần theo ngọn tiểu khê,

    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

    Nao nao dòng nước uốn quanh,

    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” …

    Bên cạnh vẻ thanh thoát, dịu nhẹ của mùa xuân như ở những câu thơ trước, khung cảnh mùa xuân đến đây đã mang một sắc thái khác với bức tranh lễ hội rộn ràng, nhộn nhịp. Cảnh vật toát lên vẻ vương vấn khi cuộc du xuân đã hết. Các từ láy tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ vừa gợi tả sắc thái cảnh vật vừa gợi ra tâm trạng con người. Dường như có cái gì đó đang mơ hồ xâm lấn, cảnh vật đã nhuốm sắc thái vương vấn, man mác của tâm trạng con người, ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để mượn cảnh vật mà diễn tả những rung động tinh tế trong tâm hồn những người , thiếu nữ. Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ đểu là những từ láy có tính giảm nhẹ. “Tà tà” diễn tả bóng chiều đang từ từ nghiêng xuống; “thơ thẩn” lại diễn tả tâm trạng bâng khuâng dịu nhẹ không rõ nguyên nhân (nó gần với nỗi buồn “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” của Xuân Diệu sau này) “thanh thanh” vừa có ý nghĩa là sắc xanh nhẹ nhàng vừa có ý nghĩa là thanh thoát, thanh mảnh; từ “nao nao” trong câu thơ diễn tả thế chảy của dòng nước nhưng đồng thời diễn tả tâm trạng nao nao buồn và từ “nho nhỏ” gợi dáng nhỏ xinh xắn, vừa vặn với cảnh với tình. Khung cảnh thiên nhiên cũng theo đó mà nhỏ đi để phù hợp với tâm trạng con người: “ngọn tiểu khê” – dòng suối nhỏ, phong-cảnh thanh thoát, dịp cầu “nho nhỏ” lại nằm ở “cuối ghềnh” ở phía xa xa,… Cảnh và người như có sự tương liên để giao hòa trong bầu không khí bâng khuâng, lưu luyến, khe khẽ sầu lay. Có thể mớ hồ cảm nhận được cảnh vật đang tạo ra dự cảm về những sự việc sắp xảy ra.

    Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí. Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc. Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo. Trong đoạn trích, mặc dù chủ yếu là miêu tả cảnh ngày xuân nhưng vẫn thấy sự kết hợp với biểu cảm và tự sự (diễn biến cuộc tảo mộ, du xuân của chị em Thúy Kiều, dự báo sự việc sắp xảy ra).

    “Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn thơ tả cảnh hay nhất trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đọc đoạn trích, người đọc không chỉ trầm trồ về bức tranh thiên nhiên trong sáng vô ngần mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong một lễ hội truyền thống đầy ý nghĩa của cha ông: tiết Thanh minh. Và qua đây, Nguyễn Du cũng thể hiện nét tài hoa trong việc dựng lên một bức tranh tả cảnh ngụ tình tinh tế,… Với những điều đó, “Cảnh ngày xuân” sẽ luôn sống lại trong lòng người yêu thơ vào mỗi dịp đầu năm khi chúa xuân về với đất trời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân Hay Nhất
  • Phân Tích Đoạn Thơ Cảnh Ngày Xuân
  • Phân Tích Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân, 3 Bài Văn Mẫu Hay, Mở Bài, Thân B
  • Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân (Chi Tiết)
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Mùa Xuân Của Tôi
  • Phân Tích Đoạn Thơ Cảnh Ngày Xuân

    --- Bài mới hơn ---

  • 2 Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân Hay Nhất
  • Cảm Nhận Về Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân Trong Truyện Kiều Của Nguyễn Du
  • Soạn Bài Tôi Yêu Em
  • Phân Tích Bài Thơ Tôi Yêu Em, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài, Kết Bài
  • Tuần 26. Tôi Yêu Em
  • Bốn câu thơ đầu gợi tả khung cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp riêng của mùa xuân. Đó là hình ảnh chim én chao liệng như thoi đưa giữa bầu trời xuân trong sáng, thảm cỏ non xanh mượt mà của bức tranh xuân điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng. Màu sắc có sự hài hòa tới mức tuyệt diệu. Tất cả hòa quyện, gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân mới mẻ, tinh khôi, tràn trề sức sống (cỏ non), khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời), nhẹ nhàng, thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa). Chữ “điểm” làm cho cảnh vật trở nên sinh động, có tâm hồn, không tĩnh tại. Trong đoạn thơ cùng với bút pháp ước lệ vừa gợi thời gian vừa gợi không gian mùa xuân, tác giả còn dùng nhiều từ ngữ giàu chất tạo hình gợi tả màu sắc, đường nét, cái hồn của cảnh vật.

    Tám câu thơ tiếp gợi lên khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh Minh.

    Một loạt từ ghép là danh từ, động từ, tính từ xuất hiện gợi lên không khí lễ hội thật rộn ràng, đông vui, náo nhiệt: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân (danh từ) sắm sửa, dập dìu (động từ), gần xa, nô nức (tính từ). Cách nói ẩn dụ “nô nức yến anh” gợi hình ảnh từng đoàn người trẩy hội, du xuân nhộn nhịp, tấp nập.

    Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả khắc họa hình ảnh một truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa. Đó là lễ tảo mộ tưởng nhớ người thân đã khuất và hội đạp thanh đi chơi xuân ở chốn đồng quê tươi đẹp. Những lễ hội đó là nét đẹp văn hóa truyền thống phương Đông.

    Sáu câu cuối gợi tả cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.

    Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu như bắc ngang. Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng. Mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. Tuy nhiên, cái không khí nhộn nhịp, rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lắng dần. Cảnh thay đổi bởi không gian, thời gian thay đổi, và cảnh lúc này được cảm nhận qua tâm trạng. Những từ láy: “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ gợi tả sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Từ “nao nao” như nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Đó là cảm giác bâng khuâng xao xuyến, thấm đượm một nỗi buồn man mác dịu nhẹ…

    Đoạn trích thể hiện nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đặc sắc của Nguyễn Du. Đó là kết cấu hợp lí theo trình tự thời gian của cuộc du xuân kết cấu ấy giúp tác giả có thể phác họa được toàn cảnh bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân.

    Tác giả đã sử dụng nhiều từ ngữ giàu chất tạo hình những từ láy gợi hình, tính từ tả màu sắc, từ ghép… Tác giả kết hợp tài tình bút pháp tả cụ thể, chi tiết và bút pháp gợi có tính chất chấm phá, điểm xuyết .

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Trích Cảnh Ngày Xuân, 3 Bài Văn Mẫu Hay, Mở Bài, Thân B
  • Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân (Chi Tiết)
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Mùa Xuân Của Tôi
  • Soạn Bài Mùa Xuân Của Tôi
  • Trắc Nghiệm Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 10 Bài 4: Tích Của Một Vectơ Với Một Số (Nâng Cao)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Xứng Trục Toán Lớp 8 Bài 6 Giải Bài Tập
  • Giải Bài Luyện Tập Đối Xứng Trục.
  • Giải Bài Tập Toán Lớp 8: Bài 6. Đối Xứng Trục
  • Giải Bài Tập Sgk Toán Lớp 7 Bài 6: Cộng, Trừ Đa Thức
  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 10 Bài 3: Dấu Của Nhị Thức Bậc Nhất
  • Sách giải toán 10 Bài 4: Tích của một vectơ với một số (Nâng Cao) giúp bạn giải các bài tập trong sách giáo khoa toán, học tốt toán 10 sẽ giúp bạn rèn luyện khả năng suy luận hợp lý và hợp logic, hình thành khả năng vận dụng kết thức toán học vào đời sống và vào các môn học khác:

    Bài 21 (trang 23 sgk Hình học 10 nâng cao): cho tam giác vuông cân OAB với OA=OB=a. Hãy dựng các vectơ sau đây và tính độ dài của chúng.

    Bài 22 (trang 23 sgk Hình học 10 nâng cao): Cho tam giác OAB. Gọi M, N lần lượt là trung điểm hai cạnh OA và OB. Hãy tìm những số m và n thích hợp trong các đẳng thức sau đây :

    Bài 23 (trang 24 sgk Hình học 10 nâng cao): Gọi M và N lần lượt là trung điểm các đoạn thẳng AB và CD. Chứng minh rằng :

    Bài 24 (trang 24 sgk Hình học 10 nâng cao): Cho tam giác ABC và điểm G. Chứng minh rằng:

    Bài 25 (trang 24 sgk Hình học 10 nâng cao):

    Bài 26 (trang 24 sgk Hình học 10 nâng cao):

    Bài 27 (trang 24 sgk Hình học 10 nâng cao): Cho lục giác ABCDEF. GỌI P, Q, R, S, T, U lần lượt là trung điểm các cạnh AB, BC, CD, DE, EF,FA. Chứng minh rằng hai tam giác PRT và QSU có trọng tâm trùngnhau.

    Bài 28 (trang 24 sgk Hình học 10 nâng cao): Cho tứ giác ABCD. Chứng minh rằng

    a) Có một điểm G duy nhất sao cho :

    Điểm G như thế gọi là trọng tâm của 1 điểm A, B, c, D. Tuv nhiên, người ta quen ngọi G là trọng tâm của tứ giác ABCD.

    b) Trọng tâm G là trung điểm cua các đoạn thẳng nối trung điểm các cạnh đối của tứ giác, nó cũng là trung điểm của đoạn thẳng nối trung điểm hai đường chéo của tứ giác.

    c) Trọng tâm G nằm trên các đoạn thẳng nối một đỉnh của tứ giác và trọng tâm của tam giác tạo thành bới ba đỉnh còn lại.

    Hoàn toàn tương tự ta có được G là trung điểm đoạn thẳng nối trung điểm của hai cạnh BC và AD và G cũng là trung điểm đoạn thẳng nối trung điểm hai đường chéo AC và BD.

    c) Ta chọn một đình nào đó của tứ giác ABCD. Chẳng hạn đỉnh A và gọi GA là trọng tâm của tam giác BCD tạo thành bởi ba đỉnh còn lại của tử giác ABCD. Ta phải chứng minh rằng trọng tâm G của tứ giác phải nằm trên đoạn thẳng AG A .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài 1,2,3,4,5, 6,7,8,9 Trang 17 Sgk Hình Học 10: Tích Của Véctơ Với Một Số
  • Giải Sách Bài Tập Toán 7 Bài 1: Tổng Ba Góc Của Một Tam Giác
  • Giải Bài Tập Sgk Toán Lớp 7 Bài 1: Tổng Ba Góc Của Một Tam Giác
  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 7 Bài 1: Tổng Ba Góc Của Một Tam Giác
  • Giải Bài Luyện Tập Từ Vuông Góc Đến Song Song.
  • Phân Tích Bài Thơ Chí Khí Anh Hùng Của Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Lập Dàn Ý Và Phân Tích Chí Khí Anh Hùng Trích Truyện Kiều
  • Soạn Bài Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều)
  • Soạn Tiếng Việt Lớp 5 Tập 2 Chuẩn Chương Trình Sách Giáo Khoa
  • ✅ Sách Giáo Khoa Âm Nhạc Lớp 5
  • Những Bài Toán Hay Lớp 3 Có Lời Giải Cập Nhật Thường Xuyên
  • Đề bài: Phân tích bài thơ Chí Khí Anh Hùng của Nguyễn Du.

    Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc ta, nhắc tới thành công của ông thì không ai có thể không nhắc tới tuyệt tác Truyện Kiều. Đây là một tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc và trở thành đề tài bàn luận, nghiên cứu chưa bao giờ ngừng nghỉ. Trong tuyệt tác ấy ngoài nói về nhân vật Thúy Vân, Thúy Kiều thì nhân vật để lại nhiều dấu ấn cho người đọc mặc dù xuất hiện trong đoạn ngắn đó chính là nhân vật Từ Hải nằm ở đoạn trích Chí Khí Anh Hùng.

    Như chúng ta đã biết, Thúy Kiều sau khi bị mắc bẫy rơi vào chốn lầu xanh chịu nhiều đau khổ, tủi nhục. Khi ấy Từ Hải đã cứu nàng ra khỏi chốn đó vì nhận ra phẩm chất cao quý của Kiều. Tình yêu giữa Từ Hải với Thúy Kiều không ngăn được chí hướng xây dựng sự nghiệp. Chính vì thế nửa năm sau đó Từ Hải đã tiếp tục lên đường gầy dựng cơ đồ:

    “Nửa năm hương lửa đương nồng

    Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

    Trông vời trời bể mênh mang

    Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”

    Được nửa năm, khi mà tình yêu và cuộc sống vợ chồng đương còn nồng nàn, cháy bỏng nhưng lại không sao che khuất được bốn phương. Từ Hải sớm đã “động lòng bốn phương” điều đó thể hiện cho chí lập công danh, sự nghiệp của Từ Hải. Bằng hình ảnh ước lệ “trời bể mênh mang” đã cho ta liên tưởng tới tầm vóc lớn lao và phi thường, một người mà tình yêu, gia đình hay bất cứ thứ gì cũng không ngăn cản được bước chân của chàng. Thêm vào đó hình ảnh gươm, ngựa “lên đường thẳng rong” cho ta thấy được phong thái ung dung của Từ Hải.

    Cảnh tiễn biệt của Thúy Kiều với Từ Hải được tác giả miêu tả khắc hẳn với các cảnh tiễn biệt khác đã có trong truyện như với Kim Trọng hay Thúy Kiều với Thúc Sinh. Lúc này Từ Hải đã ở thế khác hẳn, trên yên ngựa, gươm đã sẵn sàng. Có thể một mình ra đi, bốn bể là nhà, có thể là phiêu bạt nay đây mai đó nhưng vẫn không hề nao núng. Thúy Kiều biết vậy nhưng vẫn xin theo để chăm sóc, nâng khăn sửa túi cho chồng:

    “Nàng rằng: Phận gái chữ tòng

    Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi”

    Tam tòng tứ đức, Thúy kiều không xin gì hơn chỉ muốn được theo chồng, cùng chồng gánh vác. Hơn nữa đây cũng không chỉ xuất phát từ chữ tòng trong “xuất giá tòng phu” mà còn đối với Kiều thì Từ Hải không chỉ là một người chồng mà còn là một vị ân nhân đã cứu nàng. Tuy nhiên xin là một chuyện mà thực tế Từ Hải đã quyết:

    “Từ rằng: Tâm phúc tương tri

    Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình

    Bao giờ mười vạn tinh binh

    Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường

    Làm cho rõ mặt phi thường

    Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.”

    Từ Hải trước lời cầu xin của Kiều thì bày tỏ lời trách móc khi Thúy Kiều mặc dù phẩm cách hơn người nhưng “chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”, đồng thời cũng khuyên nàng không phải quá đặt nặng việc “tòng phu”. Lời trách ngắn ngủi và sau đó là lời hứa hẹn với Kiều rằng khi nào xây dựng được cơ đồ, có trong tay mười vạn tinh binh thì chàng sẽ đón nàng về dinh, đem lại cho nàng không chỉ danh phận mà còn cả địa vị. Có thể thấy đây là khoảnh khắc thể hiện sâu sắc nhất chí khí của người anh hùng Từ Hải. Chàng không phải là người lụy tình, không vướng mắc mấy chuyện nữ nhi thường tình mà rất quyết đoán cho hành động của mình. Thay vì quyến luyến, bị rịn lúc tiễn biệt, thay vì nói lời yêu thương, nhung nhớ thì Từ Hải đã khẳng định sự thành công của mình trên con đường công danh. Tuy nhiên mặc dù cứng rắn như vậy nhưng chàng vẫn kín đáo thể hiện sự quan tâm, lo lắng của mình dành cho Thúy Kiều:

    “Bằng ngay bốn bể không nhà

    Theo càng thêm bận, biết là đi đâu

    Đành lòng chờ đó ít lâu

    Chầy chăng là một năm sau vội gì”

    Biết trước rằng con đường mình đi “bốn bể không nhà”, có khi màn trời chiếu đất nhưng chàng vẫn quyết tâm đi và dùng nó làm lý do để khuyên Kiều ở nhà. Bởi chàng cho rằng nàng theo thì “càng thêm bận”. Qua đó cũng cho thấy sự lo lắng nếu Thúy Kiều theo sẽ phải chịu khổ cực. Sau lời lẽ quan tâm ấy là lời khẳng định về thời gian, một lời hứa quyết tâm thực hiện cơ đồ trong vòng một năm của Từ Hải để Thúy Kiều yên lòng ở lại vì sẽ không phải chờ đợi quá lâu. Cuối cùng đoạn trích cũng là là sự lựa chọn dứt khoái của Từ Hải:

    “Quyết lời dứt áo ra đi

    Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”

    Sự quyết tâm của Từ Hải đã được đẩy lên cao nhất và không có gì có thể ngăn cản được. Qua đó ta thấy được anh hùng Từ Hải được Nguyễn Du miêu tả rất sâu sắc và sáng tạo. Từ Hải là nhân vật để Nguyễn Du gửi gắm tâm tư, tình cảm, ước mơ công lí trong hoàn cảnh xã hội đương còn tù túng. Đoạn trích góp phần tô đậm hình ảnh, tính cách của nhân vật, một nhân vật lí tưởng, mẫu người cao đẹp trong kiệt tác Truyện Kiều.

    Mai Du

    Từ khóa từ Google:

    • phân tích chí khí anh hùng
    • phân tích bài chí khí anh hùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng Lớp 10 Hay Nhất
  • Phân Tích Đoạn Trích “chí Khí Anh Hùng” Trong “truyện Kiều” Của Nguyễn Du
  • Soạn Bài Chí Khí Anh Hùng (Chi Tiết)
  • Skills 2 Unit 8 Trang 27 Sgk Tiếng Anh 9 Mới, Tổng Hợp Bài Tập Skills 2 Unit 8 Có Đáp Án Và Lời Giải Chi Tiết…
  • Giải Toán Lớp 10 Ôn Tập Cuối Năm Hình Học 10
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Về 6 Câu Thơ Cuối Cảnh Ngày Xuân Của Nguyễn Du

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 6
  • Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Soạn Bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam
  • Giải Sách Bài Tập Lịch Sử 7 Bài 23: Kinh Tế, Văn Hóa Thế Kỉ Xvi
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 7 Bài 4: Những Câu Hát Than Thân
  • Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ mang những giá trị xã hội sâu sắc mà còn làm say lòng người đọc ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút. Một trong số đó là đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (trích Truyện Kiều, sách Ngữ văn 9, tập một – NXB Giáo dục, 2008).

    Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm. Vào ngày Tết Thanh minh, chị em Thúy Kiều đi tảo mộ. Thiên nhiên và con người ngày xuân hiện lên tươi tắn, xinh đẹp đông vui nhộn nhịp dưới đôi mắt “xanh non biếc rờn” của những chàng trai, cô gái tuổi đôi tám.

    Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng:

    ” Ngày xuân con én đưa thoi,

    Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi.

    Cỏ non xanh tận chân trời,

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”…

    Không gian mùa xuân được gợi nên bởi những hình ảnh những cánh én đang bay lượn rập rờn như thoi đưa. Sự mạnh mẽ, khỏe khắn của những nhịp cánh bay cho thấy rằng mùa xuân đang độ viên mãn tròn đầy nhất. Quả có vậy: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” có nghĩa là những ngày xuân tươi đẹp đã qua đi được sáu chục ngày rồi, như vậy bây giờ đang là thời điểm tháng ba.

    Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non, tươi mát của thảm cỏ trải ra bao la: “Cỏ non xanh tận chân trời”, sắc cỏ tháng ba là sắc xanh non, tơ nõn mềm mượt êm ái. Huống chi cái sắc ấy trải ra “tận chân trời” khiến ta như thấy cả một biển cỏ đang trải ra rập rờn, đẹp mắt. Có lẽ chính hình ảnh gợi cảm ấy đã gợi ý cho Hàn Mặc Tử hơn một thế kỉ sau viết nên câu thơ tuyệt bút này: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê. Chỉ là “vài bông” bởi những bông hoa lê đang thì chúm chím chưa muốn nở hết. Hoa như xuân thì người thiếu nữ còn đang e ấp trong ngày xuân. Chữ điểm có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà. ở đây, tác giả sử dụng bút pháp hội hoạ phương Đông, đó là bút pháp chấm phá.

    Hai câu thơ tả thiên nhiên ngày xuân của Nguyễn Du có thể khiến ai đó liên tưởng đến hai câu thơ cổ của Trung Quốc: hương thơm của cỏ non, màu xanh mướt của cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cành lê có điểm một vài bông hoa. Nhưng cảnh trong hai câu thơ này đẹp mà tĩnh tại. Trong khi đó gam màu nền cho bức tranh mùa xuân trong hai câu thơ của Nguyễn Du là thảm cỏ non trải rộng tới tận chân trời. Trên cái màu xanh của cỏ non ấy điểm xuyết một vài bông lê trắng (câu thơ cổ Trung Quốc không nói tới màu sắc của hoa lê). Sắc trắng của hoa lê hoà hợp cùng màu xanh non mỡ màng của cỏ chính là nét riêng trong hai câu thơ của Nguyễn Du. Nói gợi được nhiều hơn về xuân: vừa mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống lại vừa khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết.

    Thiên nhiên trong sáng, tươi tắn và đầy sức sống, con người cũng rộn ràng, nhộn nhịp để góp phần vào những chuyển biến kì diệu của đất trời.

    Sáu câu thơ tiếp của bài thơ tái hiện phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh) trong tiết Thanh minh. Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép tính từ, danh từ, động từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, sắm sửa, dập dìu, gần xa, nô nức. Chúng được đặt cạnh nhau dồn dập gợi nên không khí đông đúc, vui tươi sôi nổi. Đó không chỉ là không khí lễ hội mà còn mang đậm màu sắc tươi tắn, trẻ trung của tuổi trẻ:

    “Gần xa nô nức yến anh

    Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

    Dập dìu tài tử giai nhân

    Ngựa xe như nước áo quần như nêm”.

    Nhưng hội họp rồi hội phải tan. Sau những giây phút sôi nổi, chị em Thúy Kiều phải rời buổi du xuân trở về:

    “Tà tà bóng ngả về tây,

    Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

    Bước lần theo ngọn tiểu khê,

    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

    Nao nao dòng nước uốn quanh,

    Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” …

    Bên cạnh vẻ thanh thoát, dịu nhẹ của mùa xuân như ở những câu thơ trước, khung cảnh mùa xuân đến đây đã mang một sắc thái khác với bức tranh lễ hội rộn ràng, nhộn nhịp. Cảnh vật toát lên vẻ vương vấn khi cuộc du xuân đã hết. Các từ láy tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ vừa gợi tả sắc thái cảnh vật vừa gợi ra tâm trạng con người. Dường như có cái gì đó đang mơ hồ xâm lấn, cảnh vật đã nhuốm sắc thái vương vấn, man mác của tâm trạng con người, ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để mượn cảnh vật mà diễn tả những rung động tinh tế trong tâm hồn những người , thiếu nữ. Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ đểu là những từ láy có tính giảm nhẹ. “Tà tà” diễn tả bóng chiều đang từ từ nghiêng xuống; “thơ thẩn” lại diễn tả tâm trạng bâng khuâng dịu nhẹ không rõ nguyên nhân (nó gần với nỗi buồn “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” của Xuân Diệu sau này) “thanh thanh” vừa có ý nghĩa là sắc xanh nhẹ nhàng vừa có ý nghĩa là thanh thoát, thanh mảnh; từ “nao nao” trong câu thơ diễn tả thế chảy của dòng nước nhưng đồng thời diễn tả tâm trạng nao nao buồn và từ “nho nhỏ” gợi dáng nhỏ xinh xắn, vừa vặn với cảnh với tình. Khung cảnh thiên nhiên cũng theo đó mà nhỏ đi để phù hợp với tâm trạng con người: “ngọn tiểu khê” – dòng suối nhỏ, phong-cảnh thanh thoát, dịp cầu “nho nhỏ” lại nằm ở “cuối ghềnh” ở phía xa xa,… Cảnh và người như có sự tương liên để giao hòa trong bầu không khí bâng khuâng, lưu luyến, khe khẽ sầu lay. Có thể mớ hồ cảm nhận được cảnh vật đang tạo ra dự cảm về những sự việc sắp xảy ra.

    Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí. Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc. Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo. Trong đoạn trích, mặc dù chủ yếu là miêu tả cảnh ngày xuân nhưng vẫn thấy sự kết hợp với biểu cảm và tự sự (diễn biến cuộc tảo mộ, du xuân của chị em Thúy Kiều, dự báo sự việc sắp xảy ra).

    “Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn thơ tả cảnh hay nhất trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đọc đoạn trích, người đọc không chỉ trầm trồ về bức tranh thiên nhiên trong sáng vô ngần mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong một lễ hội truyền thống đầy ý nghĩa của cha ông: tiết Thanh minh. Và qua đây, Nguyễn Du cũng thể hiện nét tài hoa trong việc dựng lên một bức tranh tả cảnh ngụ tình tinh tế,… Với những điều đó, “Cảnh ngày xuân” sẽ luôn sống lại trong lòng người yêu thơ vào mỗi dịp đầu năm khi chúa xuân về với đất trời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)
  • Qua Văn Bản “bàn Về Đọc Sách” (Chu Quang Tiềm), Em Hãy Viết Đoạn Văn Khoảng 3/4 Trang Giấy Thi Bàn Về Đọc Sách
  • Soạn Bài Bàn Về Đọc Sách Trang 3 Sgk Văn 9
  • Giải Bài Tập Lịch Sử 9 Bài 22: Cao Trào Cách Mạng Tiến Tới Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám Năm 1945
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Thơ
  • Phân Tích Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương.

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Lớp 7 Hồ Xuân Hương
  • Bộ Đề Thi Học Kì 2 Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 7 Trường Thcs Đông Bình
  • Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Lời Giải Cho Bài Toán Chứng Minh Bằng Phương Pháp Phân Tích Ngược Trong Môn Hình Học Lớp 7
  • Đáp Án Sách Lưu Hoằng Trí Lớp 7
  • Sách Lưu Hoằng Trí Lớp 7 Có Đáp Án Cũ
  • Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài vịnh độc đáo: vịnh một món ăn dân tộc, dân gian. Thiếu một bàn tay, một tâm hồn phụ nữ dân dã như bà thì có lẽ cái bánh trôi nước chưa đi vào được văn học.

    Trước hết, bài thơ vịnh của Hồ Xuân Hương rất tài tình:

    Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Đây là lời tự giới thiệu của bánh: từ hình dáng, cấu tạo và cách chế tạo. Bánh trôi làm bằng bột nếp, nhào nước cho nhuyễn, rồi nặn thành hình tròn như quả táo, bọc lấy nhân bằng đường đen, nước sôi thì bỏ vào luộc, khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột làm bánh phải khéo tay thì bánh mới đẹp, nếu vụng thì bánh có thể bị rắn hay bị nhão. Nhưng dù thế nào thì bánh vẫn phải có nhân. Thiếu nhân, bánh sẽ rất nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên đúng là bánh trôi nước, không sai một li.

    Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

    Thân trắng vừa tả cái bánh bằng bột trắng, vừa tả tấm thân trắng đẹp, phẩm hạnh trong trắng. Tròn vừa có nghĩa là em được phú cho cái hình dáng tròn, lại vừa có nghĩa là em làm tròn mọi bổn phận của em.

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Bảy nổi ba chìm là thành ngữ chỉ sự trôi nổi, lênh đênh của số phận giữa cuộc đời. Nước non là sông, biển, núi, non, chỉ hoàn cảnh sống, suy rộng ra là đời, cuộc đời con người.

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Đây là hình ảnh may rủi mà đời người phụ nữ rơi vào. Trong xã hội cũ trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đều do người đàn ông định đoạt. Cho nên người con gái trong ca dao cảm nhận:

    Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

    Thân em như thể cánh bèo

    Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi

    Những câu ca dao thể hiện một ý thức an phận, cam chịu. Cái duy nhất họ làm chủ được là tấm lòng mình:

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son

    Người phụ nữ vẫn giữ niềm thuỷ chung, son sắt, bất biến với mối tình. Một lời nói thể hiện niềm tự hào kín đáo về phẩm chất thuỷ chung của người phụ nữ. Tuy nhiên, cả bài thơ vẫn thấm đượm nỗi cảm thương cho thân phận. Thân trắng, phận tròn mà phải chịu cảnh ba chìm bảy nổi, không làm chủ được mình.

    Trích: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương.
  • Soạn Bài Bánh Trôi Nước (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Bánh Trôi Nước
  • Soạn Bài Lớp 7: Bánh Trôi Nước
  • Bài Tập Viết Lại Câu Tiếng Anh Lớp 7 Unit 8 Có Đáp Án
  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 10 Bài 3: Tích Của Vectơ Với Một Số

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Toán Lớp 5 Vnen Bài 45: Chia Một Số Thập Phân Cho Một Số Thập Phân
  • Giải Bài Tập Trang 74, 75 Sgk Giải Tích 11: Xác Suất Và Biến Cố
  • Giải Sách Bài Tập Toán 11 Bài 5: Xác Suất Của Biến Cố
  • Giải Bài 1,2,3, 4,5,6,7 Trang 74, 75 Đại Số Và Giải Tích 11: Xác Xuất Và Biến Cố
  • Giải Toán 11 Bài 5. Xác Suất Của Biến Cố
  • Sách giải toán 10 Bài 3: Tích của vectơ với một số giúp bạn giải các bài tập trong sách giáo khoa toán, học tốt toán 10 sẽ giúp bạn rèn luyện khả năng suy luận hợp lý và hợp logic, hình thành khả năng vận dụng kết thức toán học vào đời sống và vào các môn học khác:

    Lời giải Lời giải

    0 →

    Lời giải Lời giải

    0 →

    Lời giải Lời giải

    0 →

    Trả lời câu hỏi Toán 10 Hình học Bài 3 trang 15: Hãy sử dụng mục 5 của bài 2 để chứng minh các khẳng định trên.

    Lời giải

    a) Với điểm M bất kì, ta có:

    ABCD là hình bình hành

    + K là trung điểm của BC nên ta có:

    + M là trung điểm AC nên ta có:

    Theo quy tắc ba điểm ta có:

    Lấy (1) trừ 3 lần (2) ta được:

    Bài 4 (trang 17 SGK Hình học 10): Gọi AM là trung tuyến của tam giác ABC và D là trung điểm của đoạn AM.

    Chứng minh rằng:

    Bài 5 (trang 17 SGK Hình học 10): Gọi M và N lần lượt là trung điểm các cạnh AB và CD của tứ giác ABCD.

    Chứng minh rằng:

    Bài 6 (trang 17 SGK Hình học 10): Cho hai điểm phân biệt A và B. Tìm điểm K sao cho

    Bài 7 (trang 17 SGK Hình học 10): Cho tam giác ABC. Tìm điểm M sao cho

    Gọi D là trung điểm AB.

    Khi đó với mọi điểm M ta có :

    ⇔ M là trung điểm của trung tuyến từ đỉnh C.

    Bài 8 (trang 17 SGK Hình học 10): Cho lục giác ABCDEF. Gọi M, N, P, Q, R, S lần lượt là trung điểm các cạnh AB, BC, CD, DE, EF, FA. Chứng minh rằng hai tam giác MPR và NQS có cùng trọng tâm.

    Thật vậy ta có:

    (Vì N, Q, S lần lượt là trung điểm của BC, DE, FA)

    (Vì M, P, R là trung điểm AB, CD, EF)

    Vậy trọng tâm ΔMPR và ΔNQS trùng nhau.

    Bài 9 (trang 17 SGK Hình học 10): Cho tam giác đều ABC có O là trọng tâm và M là một điểm tùy ý trong tam giác. Gọi D, E, F lần lượt là chân đường vuông góc hạ từ M đến BC, AC, AB.

    Ta có:

    ⇒ ΔMHS đều.

    MD ⊥ SH nên MD là đường cao đồng thời là trung tuyến của ΔMHS.

    ⇒ D là trung điểm của HS

    Chứng minh tương tự ta có:

    (Vì các tứ giác BSMP, HMQC, MRAG là hình bình hành)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 10 Bài 2: Tổng Và Hiệu Của Hai Vectơ
  • Giải Vở Bài Tập Toán Lớp 4 Bài 65: Luyện Tập Chung
  • Bài Tập Kế Toán Tài Chính Ueh Đh Kinh Tế
  • Tài Liệu Ôn Thi Môn Nguyên Lý Kế Toán Đh Kinh Tế Ueh
  • Bài Tập Mệnh Đề Logic Có Lời Giải
  • Giải Bài Tập Gdcd 8 Bài 2. Liêm Khiết

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Bài 16 Trang 46 Sgk Gdcd Lớp 8
  • Giải Bài Tập Bài 15 Trang 43 Sgk Gdcd Lớp 8
  • Giải Bài Tập Bài 18 Trang 52 Sgk Gdcd Lớp 8
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 8 Bài 1: Tôn Trọng Lẽ Phải
  • Giải Bài Tập Sbt Gdcd Lớp 8 Bài 12: Quyền Và Nghĩ Vụ Của Công Dân Trong Gia Đình
  • Bài 2 LIÊM KHIẾT Đặt vân đề Câu hỏi: Nêu những việc làm của Ma-ri Quy-ri? Hướng dẫn trả lờiỉ Ma-ri Quy-ri cùng chồng là Pi-e Quy-ri đã đóng góp cho thế giới những sản phẩm có giá trị khoa học và kinh tế. Không giữ bản quyền phát minh của mình mà sẵn sàng giữ quy trình chiết tách Ra-đi cho ai cần tới. Chấp nhận sông túng thiếu, gửi biếu tài sản rất lớn của mình là một gam ra-đi cho Viện Nghiên cứu ứng dụng ra-đi để chữa bệnh ung thư. Từ chô'i đề nghị của Chính phủ Pháp, không nhận món quà của Tổng thông Mĩ. Câu hỏi Những việc làm đó của bà thể hiện đức tính gì? Hướng dẫn trả lời: Bà là người không vụ lợi, tham lam, sông có trách nhiệm với gia đình, với xã hội. Không đòi hỏi điều kiện vật chất nào. Câu hỏi: Hãy nêu những hành động của Dương Chấn? Hướng dẫn trả lời: Dương Chấn tiến cử Vương Mật làm quan huyện vì Vương Mật là người làm việc tõt. Dương Chấn từ chổi việc Vương Mật đem vàng đến lễ. Câu hỏi: Việc làm của Dương Chân thể hiện điều gì? Hướng dẫn trả lời: Ông tiến cử người làm việc tốt không cần sự trả ơn của người đó. Đức tính của ông thanh cao, vô tư và không hám lợi. Câu hỏi: Khi nhận xét về Hồ Chủ tịch, nhà báo Mĩ đã viết như thế nào? Hướng dẫn trả lời: Cụ vẫn sông như những người Việt Nam bình thường. Cụ đã khước từ những ngôi nhà đồ sộ, những bộ quân phục của các thông chế, những ngôi sao của các đại tướng. Cụ là một người Việt Nam sôìig trong sạch, liêm khiết. Câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về cách xử sự của Ma-ri Quy-ri, Dương Chân và của Bác Hồ trong những câu chuyện trên? Hướng dẫn trả lời: Cách xử sự của Ma-ri Quy-ri, Dương Chấn và của Bác Hồ là những tấm gương đáng để cho chúng ta học tập, noi theo và kính phục. Câu hỏi: Theo em, những cách xử sự có điểm gì chung? Vì sao? Hướng dẫn trả lời: Cách xử sự của ba người có điểm chung đó là: họ sông thanh cao không vụ lợi, không hám danh, làm việc một cách vô tư có trách nhiệm mà không đòi hỏi bất cứ một điều kiện vật chất nào... Vì thế, người sông liêm khiết sẽ nhận được sự quý trọng tin cậy của mọi người, làm cho xã hội trong ssạch, tốt đẹp hơn. Câu hỏi: Việc học tập gương sáng về liêm khiết có phù hợp, cần thiết và ý nghĩa không? Hướng dẫn trả lời: Việc học tập gương sáng về đức tính liêm khiết giúp cho cuộc sông tốt đẹp nên rất cần thiết và có ý nghĩa. Câu hỏi: Trong điều kiện hiện nay, theo em, việc học tập những tấm gương như Bác Hồ, Dương Chấn, Ma-ri Quy-ri có còn phù hợp nữa không? Vì sao? Hướng dẫn trả lời: Trong điều kiện hiện nay, lốì sông thực dụng, chạy theo đồng tiền có xu hướng ngày càng gia tăng thì việc học tập những tấm gương đó càng trở nên cần thiết và có ý nghĩa thiết thực. Bởi lẽ, điều đó: + Giúp mọi người phân biệt được hành vi thể hiện sự liêm khiết hoặc không liêm khiết trong cuộc sông hằng ngày. + Giúp mọi người có thói quen và biết tự kiểm tra hành vi của mình để rèn luyện bản thân có lối sống liêm khiết. Câu hỏi: Em hãy nêu những biểu hiện của hành vi liêm khiết trong đời sống hằng ngày? Hướng dẫn trả lời: Làm giàu bằng tài năng và sức lực lao động của mình (làm giàu chính đáng). Không móc ngoặc, hối lộ. Kiên trì, phấn đâh để dạt kết quả cao trong công việc. Câu hỏi: Theo em, trong học sinh biểu hiện của hành vi liêm khiết được thể hiện như thế nào? Hướng dẫn trả lời: Trung thực trong kiểm tra, không quay cóp, không sử dụng tài liệu... tự mình độc lập làm bài. Không tìm cách chạy điểm để có kết quả cao. . Phấn đấu hết sức mình để đạt kết quả cao trong học tập. Có ý thức xây dựng tập thể lớp tốt để có môi trường học tập tốt. Đoàn kết, thương yêu giúp đỡ bạn bè... Câu hỏi: Những hành vi như thế nào biểu hiện trái với lối sống liêm khiêt? Hướng dẫn trả lời: Dùng tiền bạc, quà cáp biếu xén nhằm đạt được mục đích của mình. Chỉ làm việc gì khi thấy có lợi cho mình. Lâm tặc móc nối với cán bộ kiểm lâm ăn cắp gỗ quý, săn bắt động vật quý hiếm. Cán bộ, công nhân xây dựng rút bớt sắt thép, xi măng trong quá trình xây dựng làm ảnh hưởng đến công trình. Tìm cách chạy điểm trong học tập. Tổ chức đường dây thi hộ, thi thế để vào đại học. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để trù dập những người không ăn cánh với mình. Lợi dụng chức vụ quyền hạn nhận tiền đút lót... Nội dung bài học Câu hỏi: Em hiểu thế nào liêm khiết? Hướng dẫn trả lời: Liêm khiết là một phẩm chất đạo đức của con người thể hiện lô'i sông trong sạch, không hám danh, hám lợi, không bận tâm về những toan tính nhỏ nhen, ích kỉ. Câu hỏi: Ý nghĩa của phẩm chất liêm khiết trong cuộc sông? Hướng dẫn trả lời: Sống liêm khiết sẽ làm cho con người thanh thản, nhận được sự quý trọng, tin cậy của mọi người, góp phần làm cho xã hội trong sạch và tốt đẹp hơn. Câu hỏi Nêu tác dụng của đức tính liêm khiết với em và mọi người? Hướng dẫn trả lời: Biết phân biệt hành vi liêm khiết và không liêm khiết. Thường xuyên rèn luyện để có thói quen sống liêm khiết. Bài tập Bài tập 1 Theo em, những hành vi nào sau đây thể hiện tính không liêm khiết? Luôn mong muốn làm giàu bằng tài năng và sức lực của mình. Làm bất cứ việc gì để đạt được mục đích. Luôn kiên trì phấn đấu vươn lên để có kết quả cao trong công việc. Sẵn sàng dùng tiền bạc, quà cáp biếu xén nhằm đạt đươc mục đích của mình. Sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Chỉ làm việc gì khi thấy có lợi. Tính toán cân nhắc kĩ lưỡng trước khi quyết định việc gì. Hướng dẫn trả lời: Những hành vi (b), (d), (f) thể hiện tính không liêm khiết. Hành vi (b): Làm bất cứ việc gì để đạt được mục đích: có thể việc làm đó gây thiệt hại cho tập thể hoặc cá nhân một người khác, hoặc việc làm đó gây hậu quá xấu. Hành vi (d) Sẵn sàng dùng tiền bạc, quà cáp biếu xén nhằm đạt được mục đích của mình: đây là hành vi hô'i lộ, mua chuộc, làm tổn hại đến danh dự bản thân và của cả người nhận quà cáp. Hành vi (í) Chỉ làm việc gì khi thấy có lợi: là một hành vi nhỏ nhen, ích kỉ, chỉ vì cái tôi của mình. Bài tập 2 Em tán thành hay không tán thành với những việc làm sau đây: Bạn Bình đến xin cô giáo nâng điểm môn Toán cho mình. Sắp có đợt tuyển người vào làm việc ở cơ quan do ông Lâm làm giám đốc. Ai mang quà đến biếu ông Lâm đều không nhận. Cán bộ kiểm lâm vì nghèo đã chặt một sô' cây gỗ để bán. Nhân viên phục vụ phòng ở khách sạn nhặt được ví tiền của khách để quên đã mang trả lại khách. Hướng dan trả lời: Em không tán thành với tất .cả cách xử sự ở tình huông (a), (c) vì chúng đều biểu hiện những khía cạnh khác nhau của sự không liêm khiết. Bài tập 3 Theo em, muôn trở thành người liêm khiết, cần rèn luyện những đức tính gì? * Hướng dẫn trả lời: Theo em, muôn trở thành người liêm khiết cần rèn luyện những đức tính: trung thực, siêng năng kiên trì, tôn trọng kỉ luật, tự trọng, sông giản dị, yêu thương con người, khoan dung, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lẽ phải... Bài tập 4 Hãy sưu tầm một số câu tục ngữ, ca dao, danh ngôn nói về tính liêm khiết? Hướng dẫn trả lời: Cây ngay không sợ chết đứng. Đói cho sạch, rách cho thơm. Danh ngôn: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. (Bác Hồ)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài Tập Bài 17 Trang 49 Sgk Gdcd Lớp 8
  • Giải Vbt Gdcd 8 Bài 20: Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Giải Bài Tập Bài 4 Trang 12 Gdcd Lớp 8: Bài 4: Giữ Chữ Tín…
  • Giải Sách Bài Tập Giáo Dục Công Dân 8
  • Giải Bài Tập Tình Huống Giáo Dục Công Dân 8