Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hịch Tướng Sĩ

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ (Ngắn Gọn)
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Con Hổ Có Nghĩa
  • Hịch tướng sĩ

    Câu 1 (Câu 1 tr.61 – SGK Ngữ văn 8 tập 2):

    Trả lời:

    Bài hịch này có thể chia thành 4 đoạn:

    a. Phần 1 (từ đầu … đến nay còn lưu tiếng tốt) Tác giả dẫn ra những gương trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước lưu truyền trong sử sách.

    b. Phần 2( tiếp … ta cũng vui lòng) Bộc lộ sự căm phẫn trước sự hống hách của giặc.

    c. Phần 3 ( tiếp … không muốn vui vẻ cùng ta có được không) Phân tích phải trái, đúng sai định hướng hàng ngũ quân sĩ.

    d. Phần 4 (còn lại) Lời khích lệ, hiệu dụ tướng lĩnh

    Câu 2 (Câu 2 và 3 Tr.61 – SGK Ngữ văn 8 tập 2):

    Trả lời:

    a. Hình ảnh sự ngang ngược và tội ác của giặc được miêu tả qua:

    – Những chi tiết tả thực:

    + Đi lại nghênh ngang, sỉ mắng triều đình.

    + Bắt nạt tể phụ, đòi lụa ngọc, thu vàng bạc, vét của kho.

    – Việc sử dụng các biện pháp tu từ:

    + So sánh quân giặc với thân dê chó, lưỡi cú diều.

    + Hình ảnh được đặt trong thế đối sánh để tỏ rõ sự căm thù, khinh bỉ cực độ: uốn lưỡi cũ diều- sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó- bắt nạt tể phụ.

    b. Lòng yêu nước, căm thù giặc của ta được thể hiện qua

    – Những chi tiết tả thực:

    + Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như dao cắt, nước mắt đầm đìa.

    + Căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù

    + Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, … ta cũng vui lòng.

    – Việc sử dụng các biện pháp tu từ: Liệt kê, các động từ mạnh, các tính từ chỉ cảm xúc

    c. Cả hai phần đều nhằm mục đích khởi gợi, khích lệ tinh thần yêu nước của tướng sĩ

    Nếu phần trên khơi gợi bằng cách nêu lên thực trạng thì phần dưới nêu lên bằng cách nói lên tâm sự nỗi lòng của vị chủ tướng, thuyết phục tướng sĩ bằng tình cảm.

    Câu 3:

    Trả lời:

    a. Vị trí của bài hịch:

    – Xét về độ dài và vị trí trong hệ thống lập luận: Đây là đoạn dài nhất trong bài hịch phê phán những hành động sai của tướng sĩ đồng thời khẳng định những hành động đúng, nên làm.

    – Xét về hiệu quả thuyết phục tướng sĩ: thức tỉnh ý thức tự tôn dân tộc, qua đó vạch ra hướng đi đúng đắn, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù.

    b. Đoạn 3 có thể chia thành 3 phần nhỏ:

    – Phần thứ nhất: từ các ngươi ở cùng ta đến cũng chẳng kém gì: Ân tình chủ tướng giữa Trần Quốc Tuấn và tướng sĩ nhà Trần

    – Phần thứ hai: Tiếp đến phỏng có vui vẻ không: Trần Quốc Tuấn nghiêm khắc phê phán thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm, những hành động sai trái của tướng sĩ khi đất nước bị làm nhục.

    – Phần thứ ba: Nay ta bảo đến phỏng có được không: Thức tỉnh sự tự ý thức, trách nhiệm của tướng sĩ, chấn chỉnh suy nghĩ, hành động của tướng sĩ cho đúng đắn:

    c. Các biện pháp tu từ được sử dụng:

    – Điệp ngữ:

    + Dẫn chứng: Hoặc…hoặc, chẳng những….chẳng những,

    + Tác dụng: Nhấn mạnh suy nghĩ, hành động việc làm sai trái của người nghĩ sĩ dẫn đến những hậu xấu

    – Phép đối:

    + Dẫn chứng: Giữa các câu trong đoạn 2, các vế trong các câu

    + Tác dụng: Khẳng định những điều sai trái không nên làm và những điều đúng đắn cần phải làm của người nghĩa sĩ

    – So sánh, ẩn dụ: cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước cũng chẳng kém gì

    + Dẫn chứng: Nhấn mạnh tình chủ tướng ân nghĩa của Trần Quốc Tuấn với tướng sĩ

    + Tác dụng: Làm nổi bật hình ảnh đau thương người dân mất nước hình ảnh ngang ngược, tàn bạo của giặc Nguyên- Mông

    d. Mối quan hệ giữa ta và tướng sĩ:

    – Khác nhau cơ bản về thân phận: Chủ – tướng

    – Song có nhiều điểm giống:

    + Giống nhau về trách nhiệm: Đánh đuổi quân Mông – Nguyên cứu nước

    + Giống nhau về tinh thần, thái độ với đất nước: Yêu nước, có ý thức dân tộc.

    Câu 4 (Bài luyện tập 2∗ tr.61 – SGK Ngữ văn 8 tập 1):

    Trả lời:

    – Hịch tướng sĩ có lập luận chặt chẽ, sắc bén thể hiện ở những phương diện:

    + Các đoạn có sự liên kết chặt chẽ về nội dung: Để khích lệ tinh thần yêu nước, quyết chiến thắng kẻ thù xâm lược, tác giả đã khích lệ lòng căm thù ngoại xâm, nỗi nhục của kẻ mất nước, khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, ý thức ân nghĩa thủy chung, khích lệ ý chí lập công danh, vì đất nước cũng là vì chính mình, khích lệ ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng trước điều hơn lẽ thiệt

    + Mối quan hệ giữa các phần trong đoạn: Để khích lệ tinh thần trung quân ái quốc tác giả đã chỉ ra những điều đúng sai, nên làm, không nên làm của người nghĩa sĩ

    + Mối quan hệ giữa các câu trong đoạn: Nội dung các câu trong đoạn đều hướng đến một nội dung chung

    + Mối quan hệ giữa các vế trong câu: Các vế trong câu có sự đối xứng nhau, bổ sung ý nghĩa cho nhau

    + Các quan hệ từ (huống, huống chi, chẳng những…mà…mà” có vai trò quan trọng trong việc liên kết câu

    – Các biện pháp tạo hình ảnh, những biểu hiện của cảm xúc trong bài:

    + Hình ảnh có tác dụng gợi cảm cao: Chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù

    + Giọng điệu và hình thức cú pháp: Khi thì nghiêm khắc, khi nhẹ nhàng bảo ban khuyên giải

    + Những biện pháp tu từ, những thủ pháp nghệ thuật làm nổi bật cảm xúc (phép đối, điệp ngữ,…)

    + Những chỗ thể hiện cảm xúc trực tiếp: Căm tức, buồn, lo

    Câu 5∗:

    Trả lời:

    Hịch tướng sĩ và lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đều là những văn bản được viết theo phong cách chính luận thuyết phục tướng sĩ, nhân dân về lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu chống quân thù bằng những lí lẽ vô cùng thuyết phục. Cả hai tác phẩm đểu được viết trong những thời khắc trọng đại của dân tộc, những thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc” cần sự chung tay, đoàn kết chiến đấu của toàn dân tộc. Tuy nhiên, hai văn bản được viết trong hai thời kì khác nhau với văn phong và quan niệm thẩm mĩ khác nhau nên có thể thấy Lời kếu gọi toàn quốc kháng chiến là cách viết trực tiếp, cụ thể còn hịch tướng sĩ được thể hiện qua những hình ảnh, từ ngữ giàu sức gợi hình. Tuy nhiên, sức thuyết phục của cả hai tác phẩm đều có giá trị như nhau.

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 8 (VBT Ngữ Văn 8) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Các Phương Châm Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Soạn Văn Lớp 6 Trang 100 & 101 Bài Ếch Ngồi Đáy Giếng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • ✅ Ếch Ngồi Đáy Giếng
  • Soạn Văn 6 Vnen Bài 10: Ếch Ngồi Đáy Giếng
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Con Hổ Có Nghĩa
  • ✅ Con Hổ Có Nghĩa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Con Rồng Cháu Tiên
  • Soạn bài Hịch tướng sĩ

    Câu 1: Bài hịch bố cục thành 4 đoạn:

    – Đoạn 1 (từ đầu đến ” còn lưu tiếng tốt“): Nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước.

    – Đoạn 2 (từ ” Huống chi” đến ” cũng vui lòng“): Tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc.

    – Đoạn 3 (từ ” Các ngươi” đến ” không muốn vui vẻ phỏng có được không?“): Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai trong lối sống, trong hành động của các tướng sĩ.

    – Đoạn 4 (đoạn còn lại): Nêu nhiệm vụ cụ thể, cấp bách, khích lệ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ.

    Câu 2: Tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù:

    – Kẻ thù tham lam tàn bạo: đòi ngọc lụa, hạch sách bạc vàng, vét kiệt của kho có hạn, hung hãn như hổ đói. Kẻ thì ngang ngược đi lại nghênh ngang ngoài đường, bắt nạt tể phụ.

    – Những hình tượng ẩn dụ ” lưỡi cú diều“, ” thân dê chó” để chỉ sứ Nguyên cho thấy nỗi căm giận và lòng khinh bỉ giặc của Hưng Đạo Vương. Đồng thời, đặt những hình tượng đó trong thế tương quan ” lưỡi cú diều“, ” xỉ mắng triều đình“, ” thân dê chó“, ” bắt nạt tể phụ“. Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra nỗi nhục lớn của mọi người khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm.

    Đoạn văn tố cáo tội ác giặc đã khơi gợi được lòng căm thù giặc, khích lệ tinh thần yêu nước bất khuất, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của tướng sĩ.

    Câu 3: Lòng yêu nước căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn thể hiện qua:

    + Hành động: quên ăn, mất ngủ, đau đớn đến thắt tim, thắt ruột.

    + Thái độ: uất ức, căm tức khi chưa trả thù, sẵn sàng hy sinh để rửa mối nhục cho đất nước.

    Câu văn giàu tâm huyết của người viết khi nói về tinh thần sẵn sàng hi sinh để rửa mối nhục cho đất nước: ” Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng“.

    Câu 4:

    Sau khi nêu mới ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn phê phán những hành động sai của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động nên làm nhằm thức tỉnh sự tự ý thức, trách nhiệm, tự nhìn nhận lại mình để điều chỉnh suy nghĩ cũng như hành động của tướng sĩ.

    Khi phê phán hay khẳng định, tác giả đều tập trung vào vấn đề đề cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Bởi vì, bài hịch này dù trực tiếp là nhằm khích lệ tiến sĩ học tập cuốn Binh thư yếu lược do chính Trần Quốc Tuấn biên soạn, nhưng mục đích cao nhất chính là kêu gọi tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng với ngoại xâm.

    Câu 5:

    Giọng văn rất linh hoạt, có khi là lời vị chủ soái nói với tướng sĩ dưới quyền, có khi là lời người cùng ảnh, lúc là lời khuyên răn bày tỏ thiệt hơn, khi lại là lời nghiêm khắc cảnh cáo.

    Sự thay đổi giọng điệu như vậy phù hợp với nội dung cảm xúc và thái độ của tác giả, tác động cả về trí lẫn tình cảm, khơi dậy trách nhiệm của mọi người đối với chủ tướng cũng như với bản thân họ.

    Câu 6: Đặc sắc nghệ thuật:

    – Giọng văn khi bi thiết ngẹn ngào, lúc sục sôi hùng hồn, khi mỉa mai chế giễu, khi nghiêm khắc, lại có lúc ra lệnh dứt khoát.

    – Kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén.

    – Sử dụng kiểu câu nguyên nhân – kết quả.

    – Biện pháp tu từ: so sánh, điệp từ ngữ, điệp ý tăng tiến, phóng đại …

    – Sử dụng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm, dễ hiểu.

    Câu 7:

    II. Luyện tập

    Câu 1:

    Đọc bài hịch, ta có cảm tưởng như mỗi chữ, mỗi câu văn đều là những lời gan ruột của người anh hùng Trần Quốc Tuấn. Sau những câu văn hùng hồn, thấm đượm là hình ảnh người anh hùng yêu nước xót đau đến quặn lòng vì nước non bị quân thù giày xéo, là ngọn lửa căm thù hừng hực cháy trong tim, là sự nóng lòng rửa nhục đến quên ăn mất ngủ. Khi bày tỏ những đớn đau dằn vặt tự đáy lòng mình, chính Trần Quốc Tuấn đã nêu ra một tấm gương bất khuất về lòng yêu nước để cho tướng sĩ noi theo. Và như thế cũng có nghĩa là nó có sức động viên rất lớn đối với tinh thần tướng sĩ.

    Câu 2: “Hịch tướng sĩ” vừa có lập luận chặt chẽ, sắc bén vừa giàu hình tượng, cảm xúc:

    – Lập luận chặt chẽ sắc bén (kết cấu gồm 3 phần – xem câu 1, lý lẽ sắc bén có xưa – nay, gồm hơn – thiệt, trách nhiệm – quyền lợi,…, dẫn chứng sử sách chính xác, dễ hiểu).

    – Giàu hình tượng, cảm xúc khi thống thiết, khi sục sôi, khi nghiêm khắc, lúc lại ân tình …

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ (Ngắn Gọn)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hịch Tướng Sĩ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Các Phương Châm Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Soạn Văn Lớp 6 Trang 100 & 101 Bài Ếch Ngồi Đáy Giếng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hai Cây Phong
  • Cảm Nhận Về Bài Hai Cây Phong
  • Bài Tập Làm Văn Số 1 Lớp 8: Kể Lại Những Kỉ Niệm Ngày Đầu Tiên Đi Học
  • Giải Bài Tập Chương Iii: Dòng Điện Xoay Chiều
  • Phương Pháp Giải Bài Tập Dòng Điện Xoay Chiều ( Dễ Học)
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 49 SBT Ngữ Văn 8 tập 2. Nêu những đặc điểm cơ bản của thể hịch. Lấy dẫn chứng từ Hịch tướng sĩ để làm sáng tỏ những đặc điểm cơ bản đó.

    1. Nêu những đặc điểm cơ bản của thể hịch. Lấy dẫn chứng từ Hịch tướng sĩ để làm sáng tỏ những đặc điểm cơ bản đó.

    Trả lời:

    HS đọc phần Chú thích (*) về thể hịch trong SGK để ôn lại những đặc điểm cơ bản của thể hịch về chức năng, kết cấu, lời văn, lập luận sau đó lấy dẫn chứng từ Hịch tướng sĩ để làm sáng tỏ. Có thể lập bảng khi làm bài tập này.

    – Chức năng chủ yếu của hịch là cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đâu tranh chống kẻ thù.

    – Khích lệ lòng yêu nước, quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược.

    – Về kết cấu, thông thường bài hịch gồm bốn phần chính. Tất cả các phần đều hướng tới tư tưởng chủ đạo của tác phẩm.

    – Kết cấu bốn phần, các phần đều hướng tới tư tưởng chủ đạo : nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng.

    – Hịch thời xưa thường được viết theo lối văn biền ngẫu. Cũng có khi hịch được viết bằng văn xuôi, có khi sử dụng phối hợp các thể văn khác nhau. Dù sử dụng thể văn nào thì lời hịch cũng trang trọng, hùng hồn.

    – Hịch tướng sĩ có sự đan xen tản văn (văn xuôi) với biền văn : “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa ; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”,..

    – Lập luận đanh thép, hùng hồn, thường kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn, giữa tư duy lô-gíc và tư duy hình tượng, sử dụng linh hoạt cách lập luận tương đồng và lập luận tương phản, khẳng định hoặc phủ định.

    – Kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn, giữa tư duy lô-gíc và tư duy hình tượng (đoạn tố cáo tội ác kẻ thù), những hình tượng ữong sự đối lập, tương phản (đoạn phê phán thái độ bàng quan, hưởng lạc của tướng sĩ,…)

    2. Xác định tư tưởng chủ đạo của bài Hịch tướng sĩ, phân tích sự liên kết giữa các phần của bài hịch có tác dụng làm nổi bật tư tưởng chủ đạo.

    Trả lời:

    Trước hết, cần phải thấy được hoàn cảnh ra đời của xác định được tư tưởng chủ đạo của bài hịch.

    Về hoàn cảnh ra đời: viết vào khoảng trước cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ hai (1285). Theo Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam (xuất bản năm 1987) thì bài hịch được công bố vào tháng 9 năm 1284 tại cuộc duyệt binh ở Đông Thăng Long. Quân xâm lược kéo đến biên thuỳ, vận mệnh dân tộc nghìn cân treo sợi tóc. Tình thế hết sức căng thẳng. Giặc cậy thế mạnh ngang ngược, hống hách. Ta sôi sục căm thù quyết tâm chiến đấu. Nhưng trong hàng ngũ tướng sĩ cũng có người dao động, có tư tưởng cầu hoà.

    Để cuộc chiến đâu giành thắng lợi, điều quan trọng là phải đánh bạt những tư tưởng dao động, bàng quan, phải giành thế áp đảo cho tư tưởng quyết chiến quyết thắng.

    Ra đời trong hoàn cảnh ấy, tư tưởng chủ đạo Hịch tướng sĩ nêu cao tinh thần quyết chiến,, quyết thắng. Đây chính là thước đo cao nhất, tập trung nhất của tinh thần yêu nước.

    Mở đầu bài hịch, tác giả nêu những tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách với mục đích khích lệ ở tướng sĩ lòng hi sinh dũng cảm, ý chí lập công danh, tinh thần xả thân vì nước để “cùng trời đất muôn đời bất hủ”.

    Tiếp đó tác giả quay về với thực tế trước mắt, lột tả tội ác và sự ngang ngược của giặc để gây lòng căm thù, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc.

    Tác giả còn nêu lên mối ân tình giữa chủ và tướng để khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mồi người đối với lẽ vua tôi cũng như đối với tình cốt nhục.

    Xuất phát từ trái tim nhân hậu, Trần Quốc Tuân đã phê phán những biểu hiện sai, đồng thời chỉ ra cho tướng sĩ những thái độ, hành động đúng nên theo, nên làm. Những hành động này đều xuất phát từ mục đích quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược.

    Để giành thế áp đảo cho tinh thần quyết chiến quyết thắng, phần cuối bài hịch, một lần nữa Trần Quốc Tuấn vạch rõ ranh giới giữa hai con đường chính – tà, cũng có nghĩa là hai con đường sống – chết, để thuyết phục tướng sĩ. Tác giả biểu lộ một thái độ dứt khoát.: hoặc là địch hoặc là ta, không có vị trí chông chênh cho những kẻ bàng quan trước thời cuộc. Đoạn cuối bài hịch có giá trị động viên tới mức cao nhât ý chí và quyết tâm chiến đấu của mọi người.

    3. Phân tích lòng yêu nước, căm thù giặc của tác giả được thể hiện trong bài Hịch tướng sĩ.

    Trả lời:

    Một trong những biểu hiện của tinh thần yêu nước trong Hịch tướng sĩ là lòng căm thù giặc sâu sắc. Tác giả đã lột tả tội ác và sự ngang ngược của giặc để gây lòng căm thù, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc ở các tướng sĩ. Những hình tượng ẩn dụ “lưỡi cú diều”, “thân dê chó” để chỉ sứ Nguyên cho thấy nỗi căm giận và lòng khinh bỉ giặc của Hưng Đạo Vương. Đồng thời, đặt những hình tượng đó trong thế tương quan “lưỡi cú diều” – “sỉ mắng triều đình”, “thân dê chó” – “bắt nạt tể phụ”, Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra nỗi nhục lớn của mọi người khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm.

    Nêu cao lòng căm thù giặc, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, mục đích là khích lệ tính thần yêu nước bất khuất. Không phải ngẫu nhiên mà bao nhiêu tâm huyết, bút lực của Trần Quốc Tuân lại dồn vào đoạn : “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa ; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Hãy so sánh đoạn hịch trên với đoạn thư của Giáo hoàng La Mã Gơ-rê-goa IX – đoạn thư có ý nghĩa như lời hịch hiệu triệu tổ chức Thập tự quân chống giặc Mông – Nguyên : “Nhiều việc khiến ta lo lắng […]. Nhưng ta nguyện quên hết những lo âu đó mà chú tâm đến cái tai hoạ Tác-ta, sợ rằng hiện nay uy danh của đạo Cơ đốc sẽ bị bọn Tác-ta tiêu diệt mất. Nghĩ đến đó là ta xương nát tuỷ khô, thân gầy sức kiệt, đau xót vô cùng, khiến ta không biết làm gì đây”. Những hình tượng “tới bữa quên ăn”, “nửa đêm vỗ gối”, “ruột đau như cắt”, “nước mắt đầm đìa” trong bài hịch cũng như những hình tượng “xương nát tuỷ khô”, “thân gầy sức kiệt” trong đoạn thư đều có giá trị khắc hoạ lòng căm thù cao độ, quyết không đội trời chung cùng lũ giặc. Thế nhưng với Giáo hoàng Gơ-rê-goa IX, “nỗi đau xót vô cùng” càng “khiến ta không biết làm gì đây”, còn với Trần Quốc Tuấn thì “chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dầu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Cùng căm giận trào sôi mà một bên thì xót xa, bất lực còn một bên thì mài sắc thêm ý chí quyết tâm giết giặc. Chính vì vậy lời văn trong bức thư thống thiết mà bi thương còn lời văn trong bài hịch thì kiên cường và bi tráng. Căm thù phải diệt giặc, yêu nước phải chiến đấu, đó mới là mục đích cao cả mà tác giả bài hịch hướng tới.

    4. Câu 4, trang 61, SGK. Trả lời:

    Tác giả vừa chân tình chỉ bảo vừa phê phán nghiêm khắc hành động hưởng lạc, thái độ bàng quan trước vận mệnh của đất nước. Thái độ bàng quan là vong ân bội nghĩa trước mối ân tình của chủ tướng, là sự vô trách nhiệm đến táng tận lương tâm khi vận mệnh đất nước đang nghìn cân treo sợi tóc. Những việc làm sai tưởng như nhỏ nhặt mà hậu quả thì tai hại khôn lường : nước mất, nhà tan “đau xót biết chừng nào”.

    Cùng với việc phê phán thái độ, hành động sai, Trần Quốc Tuấn còn chỉ ra những việc đúng nên lầm. Đó là nêu cao tinh thần cảnh giác “nên nhớ câu “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” là nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm răn sợ”. Tướng sĩ phải chăm lo ập dượt cung tên ; khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”.

    5. Nêu những thành công nghệ thuật chủ yếu của Hịch tướng sĩ.

    Trả lời:

    Hịch tướng sĩ thể hiện một tài nghệ viết văn chính luận bậc thầy, nổi bật là những thành công nghệ thuật chủ yếu :

    – Trong cách lập luận của tác giả, có sự kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn. Để tăng sức thuyết phục, người viết thường lấy dẫn chứng từ thực tế. Tố cáo tội ác quân Nguyên – Mông để khích lệ lòng căm thù giặc cũng như nỗi nhục mất nước ở tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã lột tả hành động ngang ngược của kẻ thù bằng những hành động thực tế: đòi ngọc lụa, hạch sách bạc vàng, vét kiệt của kho có hạn, đi lại nghênh ngang ngoài đường, sỉ mắng triều đình,…

    – Để thuyết phục mọi người thấy rõ đúng sai bằng lí lẽ, nhận thức, Trần Quốc Tuấn nêu lên mối quan hệ tất yếu giữa nguyên nhân và kết quả. Tác giả sử dụng tài tình các quan hệ từ. Đầu câu nguyên nhân là các quan hệ từ nêu giả thiết “nếu”, “hoặc”, trong câu chỉ kết quả là các từ ngữ khẳng địhh “thì”, “chẳng những”, “mà”. Sự hô ứng giữa các từ chỉ quan hệ có tác dụng làm nổi bật nguyên nhân của việc lầm sai trái nhât định sẽ dẫn đến hậu quả tai hại.

    – Cũng để thuyết phục mọi người nhận rõ phải trải, đúng sai, tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh đôi lập. Đối lập ý trong câu “Nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức ; nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm”. Những hình tượng cũng được đặt trong thế tương phản : cựa gà trông áo giáp; mẹo cờ bạc mưu lược nhà binh.

    – Phương pháp tương phản được sử dụng với phương pháp so sánh. So sánh giữa ta và địch, ta thì nghĩa tình sâu nặng, địch thì ngang ngược, tàn bạo. So sánh giữa hai viễn cảnh, đầu hàng thất bại thì mất tất cả, chiến đấu thắng lợi thì được cả chung và riêng. Từ lời văn dịch khá sát có thể thấy khi nêu viễn cảnh đầu hàng thất bại, Trần Quốc Tuân sử dụng những từ ngữ mang tính chất phủ định : “không còn”, “cũng mất”, “bị tan”, “cũng khốn”. Khi nêu viễn cảnh chiến đâu thắng lợi, tác giả dùng những từ ngữ mang tính chất khẳng định : “mãi mãi vừng bền”, “đời đời hưởng thụ”, “không bị mai một”, “sử sách lưu thơm”.

    – Điều đáng lưu ý là trong khi sử dụng phương pháp so sánh tương phản, người viết rất hiểu quy luật nhận thức. Các điệp từ, điệp ý tăng tiến có tác dụng nêu bật vấn đề từ nhạt đến đậm, từ nông đến sâu. Cứ từng bước, từng bước, tác giả đưa người đọc thấy rõ đúng sai, nhận ra đường phải trái.

    Hịch tướng sĩ có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương. Nội dung tư tưởng được diễn đạt bằng những hình tượng thật gợi cảm, dễ hiểu. Những hình tượng ẩn dụ “lưỡi cú diều”, “thân dê chó” để chỉ sứ Nguyên đã nói lên lòng căm thù và sự khinh bỉ giặc của tác giả. Những hình tượng “người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”, “bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở cảo Nhai” đã truyền tới tướng sĩ tinh thần hào hứng giết giặc. Chính nhờ sự kết hợp sâu sắc, hài hoà giữa lí luận sắc bén và nhiệt tâm yêu ghét thiết tha, giữa tư duy lô-gíc và tư duy hình tượng mà bài hịch đã tác động mạnh mẽ cả lí trí và tình cảm người đọc, đưa họ từ nhận thức đến hành động một cách tự nhiên, hợp lí.

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Nói Giảm Nói Tránh Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Nói Giảm Nói Tránh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Nói Giảm Nói Tránh
  • Hành Động Nói (Tiếp Theo) Trang 70 Sgk
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ (Siêu Ngắn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ Sbt Ngữ Văn 8 Tập 2
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hai Cây Phong
  • Cảm Nhận Về Bài Hai Cây Phong
  • Bài Tập Làm Văn Số 1 Lớp 8: Kể Lại Những Kỉ Niệm Ngày Đầu Tiên Đi Học
  • Giải Bài Tập Chương Iii: Dòng Điện Xoay Chiều
  • Soạn bài Hịch tướng sĩ

    Bố cục

    Chia làm 4 phần:

    – Phần 1 ( từ đầu … lưu tiếng tốt): Nêu gương các trung thần nghĩa sĩ, tạo động lực cho toàn quân.

    – Phần 2 ( tiếp…ta cũng vui lòng): Tố cáo tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc.

    – Phần 3 (Các người ở cùng ta…có được không?): Phân tích phải trái trong tình hình hiện tại của quân sĩ .

    – Phần 4 (còn lại): Nhiệm vụ, lời kêu gọi, khích lệ tinh thần tướng sĩ.

    Tóm tắt

    Trước tình hình địch mạnh, ta yếu, Trần Quốc Tuấn đã có bài hịch động viên tướng sĩ. Ông đưa ra những tấm gương lịch sử về lòng yêu nước, trung nghĩa từ xa xưa, hay đời Tống Nguyên mới đây. Vị chủ soái vạch rõ tội ác của giặc và bày tỏ nỗi căm phẫn khi chưa tiêu diệt được kẻ thù. Ngài còn nêu mối ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ, đồng thời phê phán những hành động sai của tướng sĩ, khẳng định những hành động đúng nên làm.

    Đọc hiểu văn bản

    Câu 2 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    – Sự ngang ngược và tội ác của giặc:

    + Đi lại nghênh ngang ngoài đường

    + Sỉ mắng triều đình, bắt nạt tể phụ

    + Đòi ngọc lụa, thu bạc vàng

    ⇒ Chúng chà đạp lên lòng tự tôn dân tộc, tham lam, hống hách.

    – Tác giả đã sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh để lột tả bộ mặt của chúng:

    + Hình ảnh ẩn dụ chỉ quân giặc: lưỡi cú diều, thân dê chó, hổ đói,…

    + Hình ảnh được đặt trong thế đối sánh để tỏ rõ sự căm thù, khinh bỉ cực độ: uốn lưỡi cũ diều- sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó- bắt nạt tể phụ.

    – Đoạn văn tố cáo tội ác của giặc đã khơi gợi lòng tự tôn dân tộc, lòng căm hận kẻ thù và ý chí quyết tâm đánh giặc cứu nước.

    Câu 3 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    Phân tích lòng yêu nước, căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn qua đoạn văn tác giả tự nói lên nỗi lòng mình:

    – Nỗi đau thống thiết khi chứng kiến cảnh đất nước bị giặc giày xéo: “tới bữa quên ăn”, “nửa đêm vỗ gối”, “ruột đau như cắt”, “nước mắt đầm đìa”.

    – Lòng căm thù giặc tột độ, quyết tâm đánh bại kẻ thù: xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù.

    – Sẵn sàng hi sinh nơi chiến trường để giữ yên bờ cõi: Dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

    ⇒Tác giả sử dụng biệp pháp nói quá, so sánh để thể hiện một cách sâu sắc lòng yêu nước và căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn.

    Câu 4 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    – Trần Quốc Tuấn phê phán hành động sai trái của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động đúng nên làm là có dụng ý:

    + Thức tỉnh quân sĩ trước tình hình ba quân có thái độ thờ ơ, chìm đắm trong những thú vui tầm thường mà không lo nghĩ việc nước.

    + Xốc lại tinh thần cho tướng sĩ, chấn chỉnh tác phong, suy nghĩ để chuẩn bị tốt nhất cho cuộc chiến.

    + Khẳng định những hành động đúng, vạch ra đường hướng để quân sĩ có động lực, mục đích phấn đấu.

    – ¬Khi phê phán hay khẳng định, tác giả tập trung vào vấn đề nêu cao tinh thần cảnh giác, chăm lo rèn luyện để chiến thắng kẻ thù xâm lược. Vì: Tình hình đất nước đang nguy nan, mục đích cao nhất bây giờ là đồng lòng giết giặc, cứu nước.

    Câu 5 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    – Giọng văn linh hoạt:

    + Lúc của chủ tướng nói với tướng sĩ, binh lính.

    + Lúc là người cùng cảnh ngộ (suy cho cùng khi nước bị giặc xâm lược.

    – Bài hịch vừa là lời khuyên răn bày tỏ thiệt hơn vừa là lời nghiêm khắc cảnh cáo. Khi khuyên răn, dùng lời lẽ chân tình, thiết tha. Khi nghiêm khắc, không ngại đưa ra những lời lẽ gay gắt.

    – Cách viết của tác giả tác động tới tướng sĩ: Thức tỉnh sai lầm của tướng sĩ, khơi dậy lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm đồng lòng giết giặc cứu nước.

    Câu 6 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    – Một số đặc sắc nghệ thuật thuyết phục người đọc bằng cả nhận thức và tình cảm:

    + Thủ pháp so sánh tương phản.

    + Thủ pháp trùng điệp- tăng tiến.

    + Lập luận chặt chẽ, sắc bén với lời văn đanh thép.

    + Sử dụng các biện pháp tu từ: so sánh, điệp từ, điệp ngữ, điệp ý…

    + Giọng điệu đa dạng, có sức thuyết phục cao.

    Câu 7 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    Lược đồ thể hiện cách triển khai lập luận: khích lệ nhiều mặt để tập trung vào một hướng

    Luyện tập

    Câu 1 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    Trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, tác giả đã thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của mình. Một vị chủ soái đã “ruột đau như cắt”, “nước mắt đầm đìa” trước cảnh đất nước bị giày xéo. Ngài sẵn sàng hy sinh để bảo vệ đất nước dẫu cho thân phơi nội cỏ, xác gói da ngựa cũng cam lòng. Trần Quốc Tuấn còn gánh trên mình trách nhiệm chỉ huy quân sĩ. Ông chỉ ra đúng sai, chỉ ra con đường cần đi cho quân sĩ, khơi dậy lòng quyết tâm đánh giặc cứu nước của họ. Ngài không chỉ có tấm lòng yêu nước sâu sắc sắc mà còn là vị chủ tướng có trách nhiệm, nghĩa tình.

    Câu 2 (trang 61 Ngữ Văn lớp 8 Tập 2):

    “Hịch tướng sĩ” vừa có lập luận chặt chẽ, sắc bén vừa giàu hình tượng, cảm xúc:

    – Lập luận chặt chẽ sắc bén

    + Khích lệ lòng căm thù ngoại xâm, nỗi nhục của kẻ mất nước.

    + Khích lệ tinh thần trung quân ái quốc, ý thức ân nghĩa thủy chung.

    +Khích lệ ý chí lập công danh, vì đất nước cũng là vì chính mình.

    + Khích lệ ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng trước điều hơn lẽ thiệt.

    – Dẫn chứng giàu sức thuyết phục: Viện dẫn sử sách Trung Hoa từ xa xưa, đời Tống- Nguyên

    – Giọng điệu khi thống thiết, khi sục sôi, khi nghiêm khắc, lúc lại ân tình …

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Các bài Soạn văn lớp 8 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 8 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 8 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Nói Giảm Nói Tránh Sách Bài Tập Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Nói Giảm Nói Tránh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Nói Giảm Nói Tránh
  • Hành Động Nói (Tiếp Theo) Trang 70 Sgk
  • Soạn Bài Hành Động Nói
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ Ngắn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Con Hổ Có Nghĩa
  • ✅ Con Hổ Có Nghĩa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Con Rồng Cháu Tiên
  • Phân Tích Hình Ảnh Con Hổ Trong Truyện Con Hổ Có Nghĩa
  • Soạn bài: Hịch tướng sĩ (ngắn nhất)

    Hịch tướng sĩ là tác phẩm của Trần Quốc Tuần viết lên nhằm khích lệ, kêu gọi tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm của các tướng sĩ. Trong tác phẩm,Trần Quốc Tuấn nêu ra những tấm gương sáng của dân tộc đã được ghi vào sử sách. Ngoài ra ông còn nhấn mạnh tội ác và sự hống hách của giặc, khơi gợi lòng căm thù kẻ địch từ sâu bên trong mỗi người rồi sau đó ông đưa ra phương hướng hành động nên làm.

    2. Sự ngang ngược và tội ác của giặc được lột tả bằng những việc được nêu ra trong thực tế:

    + Đi nghênh ngang,sỉ mắng triều đình.

    + Bắt nạt mệnh quan triều đình, vơ vét tài sản quý

    + Tác giả so sánh quân giặc với thân dê chó,lưỡi cú diều

    – Đoạn văn tố cáo tội ác của giặc đã khơi gợi được lòng tự tôn,tự trọng của dân tộc, dấy lên lòng căm thù của chúng tướng sĩ.

    3. Phân tích: sau khi tố cáo tội ác của giặc ngoại xâm,Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp bày tỏ lòng yêu nước,căm thù giặc của mình.

    – Khi bị mất nước, ông “quên ăn,mất ngủ,lòng đau như cắt,nước mắt đầm đìa”.

    – Sự căm phẫn ấy lên tới đỉnh điểm khi ông muốn “xả thịt lột da,nuốt gan uống máu quân thù”.

    – Đánh đổi dù cả mạng sống vì bảo vệ độc lập, tự do dân tộc “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ,…ta cũng vui lòng”.

    4. Trần Quốc Tuấn phê phán hành động sai trái của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động đúng nên làm là có dụng ý:

    + Phê phán sự thờ ơ,vô trách nhiệm của tướng sĩ trước cảnh nước mất nhà tan và phê phán những thú vui tầm thường,hành động sai trái của họ (thích rượu ngon,mê gái đẹp,ưa săn bắt )

    + Khơi gợi ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với đẩt nước

    + Đưa ra cho tướng sĩ những suy nghĩ,hành động đúng đắn

    – Khi phê phán hay khẳng định ,tác giả tập trung vào vấn đề rèn luyện không ngừng để chiến thắng kẻ thù xâm lược.Vì tác giả sợ rằng họ không ý thức được, ý chí họ bị hoàn cảnh nhàn nhã mài mòn mà không nhìn thấy nguy cơ phía trước.

    5. Giọng văn vừa là lời của chủ tướng nói với tướng sĩ vừa là lời nói của người cùng cảnh ngộ.

    – Phân tích, khuyên răn thiệt hơn, không có sự bắt buộc, nặng nề.

    – Cách viết của tác giả có tác động tới tướng sĩ: gợi lên ý thức,trách nhiệm của các tướng sĩ đối với non sông,đất nước,…kêu gọi sự đoàn kết dân tộc.

    + Dùng biện pháp tăng tiến: kích thích sự sục sôi báo thù nước đền nợ nhà.

    + Sử dụng nhiều biện pháp làm tăng tính thuyết phục

    IV. LUYỆN TẬP:

    1. Cảm nhận về lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn qua bài hịch:

    Hịch tướng sĩ là thiên cổ hùng văn của vị tướng tài Trần Quốc Tuần trước cảnh nước mất,nhà tan.Ông có một lòng căm thù giặc sâu sắc đến nỗi “quên ăn,quên ngủ,ruột đau như cắt,nước mắt đầm đìa”.Ông đã tự xác định tinh thần đấu tranh hi sinh,xả thân vì nước của mình và mong muốn mỗi tướng sĩ đều tự có trách nhiệm giống vậy, luôn đặt an nguy của đất nước lên hàng đầu. Ông là vị tướng tài có lòng yêu nước nồng nàn,sẵn sàng hi sinh cho đất nước.

    2. Bài Hịch tướng sĩ vừa có kết cấu chặt chẽ, sắc bén vừa giàu hình tượng, cảm xúc do đó có sức thuyết phục cao thông qua các lập luận:

    – Khích lệ lòng căm thù giặc ngoại xâm,nỗi nhục của kẻ mất bước và khích lệ tinh thần yêu nước của các quân sĩ.

    – Khích lệ tinh thần trách nhiệm,lòng tự trọng trước điều hơn lẽ thiệt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ (Ngắn Gọn)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hịch Tướng Sĩ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Các Phương Châm Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ (Ngắn Gọn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Con Hổ Có Nghĩa
  • ✅ Con Hổ Có Nghĩa
  • Câu 1: Bài hịch bố cục thành 4 đoạn:

    – Đoạn 1 (từ đầu đến “còn lưu tiếng tốt”): Nêu những gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách để khích lệ ý chí lập công danh, xả thân vì nước.

    – Đoạn 2 (từ “Huống chi” đến “cũng vui lòng”): Tố cáo sự hống hách và tội ác của kẻ thù, đồng thời nói lên lòng căm thù giặc.

    – Đoạn 3 (từ “Các ngươi” đến “không muốn vui vẻ phỏng có được không?”): Phân tích phải trái, làm rõ đúng sai trong lối sống, trong hành động của các tướng sĩ.

    – Đoạn 4 (đoạn còn lại): Nêu nhiệm vụ cụ thể, cấp bách, khích lộ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ.

    Câu 2: Tội ác và sự ngang ngược của kẻ thù:

    – Kẻ thù tham lam tàn bạo

    – Những hình tượng ẩn dụ “lưỡi cú diều”, “thân dê chó” để chỉ sứ Nguyên cho thấy nỗi căm giận và lòng khinh bỉ giặc của Hưng Đạo Vương.Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra nỗi nhục lớn của mọi người khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm.

    Câu 3: Lòng yêu nước căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn thể hiện qua:

    + Hành động: quên ăn, mất ngủ, đau đớn đến thắt tim, thắt ruột.

    + Thái độ: uất ức, căm tức khi chưa trả thù, sẵn sàng hy sinh để rửa mối nhục cho đất nước.

    Câu 4:

    Sau khi nêu mới ân tình giữa chủ soái và tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn phê phán những hành động sai của tướng sĩ, đồng thời khẳng định những hành động nên làm nhằm thức tỉnh sự tự ý thức, trách nhiệm, tự nhìn nhận lại mình để điều chỉnh suy nghĩ cũng như hành động của tướng sĩ.

    Câu 5:

    Giọng văn rất linh hoạt, có khi là lời vị chủ soái nói với tướng sĩ dưới quyền, có khi là lời người cùng ảnh, lúc là lời khuyên răn bày tỏ thiệt hơn, khi lại là lời nghiêm khắc cảnh cáo.

    Câu 6: Đặc sắc nghệ thuật:

    – Giọng văn khi bi thiết nghẹ ngào, lúc sục sôi hùng hồn, khi mỉa mai chế giễu, khi nghiêm khắc như xỉ mắng, lại có lúc ra lệnh dứt khoát.

    – Kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc bén.

    – Sử dụng kiểu câu nguyên nhân – kết quả.

    – Biện pháp tu từ: so sánh, điệp từ ngữ, điệp ý tăng tiến, phóng đại …

    – Sử dụng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm, dễ hiểu.

    II. Luyện tập Câu 1:

    Đọc bài hịch, ta có cảm tưởng như mỗi chữ, mỗi câu văn đều là những lời gan ruột của người anh hùng Trần Quốc Tuấn. Sau những câu văn hùng hồn, thấm đượm là hình ảnh người anh hùng yêu nước xót đau đến quặn lòng vì nước non bị quân thù giày xéo, là ngọn lửa căm thù hừng hực cháy trong tim, là sự nóng lòng rửa nhục đến quên ăn mất ngủ. Khi bày tỏ những đớn đau dằn vặt tự đáy lòng mình, chính Trần Quốc Tuấn đã nêu ra một tấm gương bất khuất về lòng yêu nước để cho tướng sĩ noi theo. Và như thế cũng có nghĩa là nó có sức động viên rất lớn đối với tinh thần tướng sĩ.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hịch Tướng Sĩ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Các Phương Châm Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Soạn Văn Lớp 6 Trang 100 & 101 Bài Ếch Ngồi Đáy Giếng Ngắn Gọn Hay Nhất
  • ✅ Ếch Ngồi Đáy Giếng
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Đố Mẹo Có Đáp Án, Hay Và Khó Nhất 2022
  • 7 Bài Tập Excel Cơ Bản Có Lời Giải Hay Nhất
  • Soạn Bài Lớp 6: Phương Pháp Tả Người
  • Soạn Bài Phương Pháp Tả Cảnh Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2
  • Soạn Bài Phương Pháp Tả Cảnh Siêu Ngắn
  • Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Giải bài tập Ngữ văn lớp 11

    Để học tốt Ngữ văn lớp 11, chúng tôi mời các bạn học sinh tham khảo tài liệu: Giải bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, với nội dung đã được chúng tôi cập nhật một cách chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh có kết quả cao hơn trong học tập. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.

    Lời giải hay bài tập Ngữ văn lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    I. PHẦN MỘT: TÁC GIẢ

    1. Nêu những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu. Anh (chị) cảm nhận sâu sắc điều gì qua cuộc đời nhà thơ?

    Gợi ý trả lời

    Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, tục gọi là Đồ Chiểu, sinh tại quê mẹ – làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), xuất thân trong gia đình nhà nho, cha là Nguyễn Đình Huy quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông là lá cờ đầu của văn thơ yêu nước chống thực dân Pháp khi chúng mới bắt đầu xâm lược nước ta. Văn thơ ông hừng hực tinh thần yêu nước và khí thế chiến đấu chống Pháp và bè lũ tay sai, có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân.

    Tác phẩm chính: Dương Từ Hà Mậu, Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều vấn đáp y thuật, … Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là một trấm gương trong sáng, cao đẹp về nhân cách, nghị lực và ý chí, về lòng yêu nước, thương dân và thái độ kiên trung, bất khuất trước kẻ thù. Thơ văn ông là một bài ca đạo đức, nhân nghĩa, là tiếng nói yêu nước cất lên từ cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, là thành tựu nghệ thuật xuất sắc mang đậm sắc thái Nam Bộ.

    2. Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:

    – Dựa vào những đoạn trích đã học về Truyện Lục Vân Tiên (ở lớp 9 và lớp 11), hãy cho biết lí tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng chủ yếu trên cơ sở tình cảm nào.

    – Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu? Tác động tích cực của những sáng tác thơ văn ấy đối với cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đương thời ?

    – Theo anh (chị), sắc thái Nam Bộ độc đáo của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu biểu hiện ở những điểm nào? Gợi ý trả lời

    – Lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa: Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho, cho nên lí tưởng đạo đức, nhân nghĩa của ông không thể không mang tinh thần Nho giáo. Nhưng ông cũng là một trí thức nhân dân, suốt đời sống ở nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác. Họ cũng có cách hiểu dân dã của mình về nhân nghĩa: nhân là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn, nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa vợ chồng, tình bạn bè, tinh thần hiệp nghĩa sẵng sàng cứu khốn phò nguy. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần sâu sắc điều đó. Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Vân Tiên hầu hết là những người sinh trưởng nơi thôn ấp nghèo khó (những chàng nho sinh hàn vi như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh, những ông Ngư, ong Tiều, ông Quán, chú Tiểu đồng, lão bà dệt vải.”), tâm hồn ngay thẳng, không màng danh, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người bị nạn.

    – Lòng yêu nước thương dân: Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Đây là thời kì lịch sử mà cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gọi là ” khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc ta. Đất nước mất dần vào tay giặc, các phong trào chống Pháp lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống nơi chiến trường. Nhưng “súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”: thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sáng rõ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc gặp buổi thương đau: “Khóc là khóc nước nhà cơn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi, than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại” (Văn tế Trương Định). Ông căm uất chửi thẳng vào mắt kẻ thù: “Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta, bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ông hết lòng ca ngợi những sĩ phu như Trương Định, Phan Tòng đã một lòng vì nước, vì dân: “Viên đạn nghịch thần treo trước mặt – Lưỡi gươm định khái nắm trong tay” (Thơ điếu Phan Tòng). Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã chia đất khác, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thị – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” (Ngư Tiều y thuật vấn đáp). Với nội dung đó có thể nói thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời, có tác dụng động viên, khích lệ không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân.

    – Sắc thái độc đáo của Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Các nhân vật như Vân Tiên, ông Ngư, Hớn Minh… họ đều mộc mạc, chất phác nhưng nặng nghĩa, nặng tình. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵng sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét riêng trong vẻ đẹp của người Viêt Nam.

    3*. Với những kiến thức đã học về Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, anh (chị) cảm nhận được điều gì gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa hai nhà thơ này ? Hãy trình bày ý kiến của mình.

    Gợi ý trả lời

    Nguyễn Trãi nhân nghĩa đã hướng tới người dân. Ông kêu gọi người cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân giặc bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, xây dựng nền chính trị nhân chính, khoan thư sức dân. Đến Nguyễn Đình Chiểu, ông đặc biệt đề cao chữ nghĩa, biểu dương những truyền thống đạo đức tốt đẹp giữa con người với con người, quan tâm sâu sắc đến quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng đất mới Nam Kì, vốn rất xem trọng mối liên hệ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa truyền thống.

    LUYỆN TẬP

    Căn cứ vào những kiến thức đã học về Nguyễn Đình Chiểu và các tác phẩm của ông, anh (chị) suy nghĩ như thế nào về nhận định của nhà thơ Xuân Diệu: “Cái ưu ái đối với người lao động, sự kính mến họ là một đặc điểm của tâm hồn Đồ Chiểu”?

    Gợi ý trả lời

    Có thể giải bài tập theo những gợi ý sau:

    a) Giải thích câu nói của nhà thơ Xuân Diệu. (Chú ý làm rõ “cái ưu ái”, “sự kính mến” đối với người lao động).

    b) Chứng minh nhận định đó qua cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu và những tác phẩm đã học (Truyện Lục Vân Tiên, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc):

    – Những yếu tố nào trong cuộc đời đã góp phần hình thành nét đẹp tâm hồn đó ở Nguyễn Đình Chiểu?

    – Nhân vật người lao động đã chiếm lĩnh tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? (Họ là những ai trong Truyện Lục Vân Tiên và thơ văn yêu nước? Nguyễn Đình Chiểu đã đề cao những phẩm chất nhân cách gì của họ? Họ đã có những đóng góp tích cực cho cuộc đời như thế nào?)

    – Lập trường nhân dân, tấm lòng yêu thương, cảm thông, chăm lo đến quyền lợi nhân dân đã chi phối nguồn cảm xúc của Nguyễn Đình Chiểu như thế nào? (Chú ý phân tích Lẽ ghét thương, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).

    – Cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Đình Chiểu về người nông dân – nghĩa sĩ biểu hiện qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc?

    c) Kết luận: Đánh giá chung về sức sống lâu bền của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    2. PHẦN HAI: TÁC PHẨM

    1. Đọc Tiểu dẫn, nắm những nét cơ bản về thể văn tế. Tìm bố cục của bài văn tế này.

    Gợi ý trả lời

    Vận dụng những hiểu biết về thể văn tế đã nói ở trên để tìm bố cục của bài này và ý nghĩa từng đoạn.

    Đoạn 1 – Lung khởi (câu l, 2): khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân – nghĩa sĩ.

    Đoạn 2 – Thích thực (từ câu 3 đến câu 15): tái hiện chân thực hình ảnh người nông dân – nghĩa sĩ, từ cuộc đời lao động vất vả, tủi cực đến giây phút vươn mình trở thành dũng sĩ, đánh giặc và lập chiến công.

    Đoạn 3 – Ai vãn (từ câu 16 đến câu 28): bày tỏ lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác giả và của nhân dân đối với người nghĩa sĩ.

    Đoạn 4 – Kết (hai câu cuối): ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.

    2. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện trong bài văn tế như thế nào ? (Chú ý phân tích qua cả quá trình: hình ảnh họ trong cuộc sống bình thường, những biến chuyển khi quân giặc xâm phạm tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong trận nghĩa đánh Tây).

    Theo anh (chị), đoạn văn miêu tả này đạt giá trị nghệ thuật cao ở những điểm nào (về nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật ngôn ngữ, bút pháp trữ tình,…)?

    Gợi ý trả lời

    Đoạn 1

    Có hai ý lớn: khung cảnh bão táp của thời đại, phản ánh biến cố chính trị lớn lao chi phối toàn bộ thời cuộc là sự đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thực dân Pháp và ý chí kiên cường bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta (chú ý những từ chỉ các yếu tố không gian to lớn như đất, tròn và những động từ gợi sự khuếch tán âm thanh và ánh sáng như rền, tỏ); ý nghĩa bất tử của cái chết vì nghĩa lớn. Tất cả hợp thành một bệ đỡ hoành tráng cho bức tượng đài sẽ được dựng ở đoạn sau thành một chỉnh thể có tầm vóc to lớn, bài văn tế trở nên đậm chất sử thi.

    Đoạn 2

    + Tái hiện hình ảnh người nông dân trước “trận nghĩa đánh Tây”. Các em đọc để tìm hiểu và phân tích các chi tiết diễn tả cái nhìn chân thực và chan chứa niềm cảm thông đối với cuộc đời lam lũ, tủi cực của người nông dân (câu 3, chú ý từ ngữ gợi cảm cui cút) và dụng ý nghệ thuật của tác giả khi nhấn mạnh vào đặc điểm họ hoàn toàn xa lạ với công việc binh đao (câu 4, 5), nhằm tạo sự đối lập để tôn cao tầm vóc người anh hùng ở đoạn sau.

    + Bước chuyển biến khi quân giặc xâm phạm đất đai, bờ cõi của cha ông: Các em đọc tiếp từ câu 6 đến câu 9, tìm những chi tiết miêu tả lần lượt những bước chuyển biến về tình cảm – lòng căm thù giặc (câu 6, 7), về nhận thức – ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp cứu nước (câu 8, chú ý giải thích nghĩa câu, cuối cùng là hành động tự nguyện “mến nghĩa làm quân chiêu mộ” và ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc của người nông dân – nghĩa sĩ (câu 9, lưu ý những cụm từ có sắc thái biểu cảm mạnh: nào đợi, chẳng thèm, ra sức đoạn kình, ra tay bộ hổ). Những bước chuyển biến được miêu tả chân thực, sinh động, hợp lí, gần gũi với cách suy nghĩ và lời ăn tiếng nói của người nông dân. (Ví dụ: “Trông tin quan như trời hạn trông mưa,… ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”).

    + Vẻ đẹp hào hùng của đội quân áo vải trong “trận nghĩa đánh Tây” (từ câu 10 đến câu 15). Có hai ý các em cần khai thác:

    * Hình ảnh của đội quân áo vải được khắc hoạ hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo tính ước lệ của văn thơ trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lí tưởng hoá (các em dẫn chứng từ các câu 10, 11, 12). Đáng chú ý là những chi tiết chân thực đều được chọn lọc tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính khái quát, đặc trưng cao (ví dụ: manh áo vải, ngọn tầm bông, rơm con cúi, lưỡi dao phay gắn bó đến không thể tách rời trong cuộc sống những người nông dân thuở ấy). Do thế, bức tượng đài ánh lên một vẻ đẹp mộc mạc, giản dị mà không kém “chất” anh hùng bởi tấm lòng mến nghĩa, bởi tư thế hiên ngang, coi thường mọi khó khăn, thiếu thốn: nào đợi tập rèn, không chờ bày bố, nào đợi mang…, chi nài sắm… (Có thể so sánh với vẻ phi thường của người anh hùng Từ Hải trong Truyện Kiều: “Râu hùm, hàm én, mày ngài – Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” và hình ảnh rạng ngời oai phong của Lục Vân Tiên khi cầm quân đánh giặc ngoại xâm: “Vân Tiên đầu đội kim khôi – Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô”).

    * Hình tượng những người anh hùng được khắc nổi trên nền một trận công đồn đầy khí thế tiến công. Các em đọc lại những câu 13, 14, 15, tìm những chi tiết miêu tả trận đánh, nhận xét về những biện pháp nghệ thuật: Hệ thống từ ngữ: dùng rất nhiều từ chỉ hành động mạnh (đánh, đốt, chém, đạp, xô, hè, ó,…), dứt khoát (đốt xong, chém đặng, trối kệ), nhiều khẩu ngữ nông thôn và từ ngữ mang tính địa phương Nam Bộ (nhà dạy đạo, như chẳng có, thằng Tây, hè, ó, trối kệ,…). Phép đối: đối từ ngữ (trống kì / trống giục, lướt tới / xông Uào; đạn nhỏ / đạn to; đâm ngang / chém ngược; hè trước / ó sau,…); đối ý (ta: manh áo vải, ngọn tầm Uông/địch: đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng; vũ khí thô sơ; rơm con cúi, lưởi dao phay / chiến thắng lớn: đốt xong nhà dạy đạo, chém rớt đầu quan hai; đối thanh bằng – trắc (kia/ nọ, kì/giục, tới/Uào, nhỏ / to, ngang / ngược, trutóc / sau,…).

    Hiệu quả nghệ thuật: tạo nhịp điệu đoạn văn nhanh, mạnh, dứt khoát, sôi nổi góp phần tái hiện một trận công đồn của nghĩa quân Cần Giuộc rất khẩn trương, quyết liệt, sôi động và đầy hào hứng.

    Trên cái nền trận đánh đó là hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ coi giặc cũng như không, liều mình như chẳng có, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ, nào sợ… đạn nhỏ đạn to… Khí thế của họ là khí thế đạp lên đầu thù xốc tới, không quản ngại bất kì sự gian khổ, hi sinh nào, rất tự tin và đầy ý chí quyết thắng. Hình ảnh đó oai phong, lẫm liệt như hình tượng các dũng sĩ trong những thiên anh hùng ca thuở xưa, nhưng lại gần gũi, sống động, tưởng như họ vừa “Rũ bùn đứng dậy sáng loà” (Nguyễn Đình Thi).

    Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động.

    3. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ nhiều nguồn cảm xúc. Theo anh (chị), đó là những cảm xúc gì? Vì sao tiếng khóc đau thương này lại không hề bi luỵ?

    Gợi ý trả lời

    Đoạn Ai vãn của bài văn tế. Ở đoạn này, các tình cảm đan cài vào nhau, nên chọn phương pháp khai thác theo hình tượng. Đây là đoạn văn bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của tác giả và của nhân dân đương thời đối với người nghĩa sĩ, cho nên tính trữ tình bao trùm, nhưng xen kẽ vào đó vẫn có những yếu tố hiện thực, có giá trị làm tăng độ sâu nặng của cảm xúc.

    Trước hết, các em cần đọc và tìm hiểu những nguồn cảm xúc cộng hưởng trong tiếng khóc thương của tác giả, các em cần tìm và phân tích qua những chi tiết nghệ thuật của đoạn văn:

    – Nỗi xót thương đối với người nghĩa sĩ: Ở đây có nỗi tiếc hận của người phải hi sinh khi sự nghiệp còn đang dang dở, chí nguyện chưa thành (câu 16, 24), nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với những người mẹ già, vợ trẻ (câu 25), nỗi căm hờn những kẻ đã gây nên nghịch cảnh éo le (câu 21) hoà chung với tiếng khóc uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước, của dân tộc (câu 27). Nhiều niềm cảm thương cộng lại thành nỗi đau sâu nặng (“Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo”), không chỉ ở trong lòng người mà dường như còn bao trùm khắp cỏ cây, sông núi, sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình, chùa Tông Thạnh, Bến Nghé, Đồng Nai, tất cả đều nhuốm màu tang tóc, bi thương.

    – Niềm cảm phục và tự hào đối với những người dân thường đã dám đứng lên bảo vệ từng “tấc đất ngọn rau”, “bát cơm manh áo” của mình chống lại kẻ thù hung hãn (câu 19, 20), đã lấy cái chết để làm rạng ngời một chân lí cao đẹp của thời đại: thà chết vinh còn hơn sống nhục (câu 22, 23).

    – Biểu dương công trạng của người nông dân – nghĩa sĩ, đời đời được nhân dân ngưỡng mộ, Tổ quốc ghi công (câu 26, 28). Sau khi đã phân tích qua cả đoạn văn, các em nên chốt lại:

    Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng người nghĩa sĩ.

    Tiếng khóc không chỉ hướng về cái chết mà còn hướng về cuộc sống đau thương, khổ nhục của cả dân tộc trước làn sóng xâm lăng của thực dân. Nó không chỉ gợi nỗi đau thương mà cao hơn nữa, còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp dang dở của những người nghĩa sĩ.

    Các em có thể tìm hiểu thêm đoạn Ai vãn trong Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (của Nguyễn Đình Chiểu, ra đời khi cả Nam Kì đã mất vào tay giặc) để thấy tiếng khóc trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc tuy rất bi thiết, nhưng không đượm màu tang tóc, thê lương kéo dài như bài kia chính là nhờ nó còn bao hàm nhiều nguồn cảm xúc khác (đặc biệt là niềm cảm phục tự hào) và sự khẳng định của tác giả về ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước, vì dân mà muôn đời con cháu tôn thờ (câu 26, 28,30).

    Chi tiết không thể bỏ sót là khi viết Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu còn đang được tiếp sức bởi khí thế ngút trời của phong trào chống xâm lược những ngày đầu, khi nhân dân đang nhất tề nổi dậy khắp nơi.

    4. Sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế chủ yếu là do những yếu tố nào ? Hãy phân tích một số câu tiêu biểu.

    Gợi ý trả lời

    Câu hỏi có tính chất tổng kết về mặt nghệ thuật:

    – Những yếu tố làm nên sức gợi cảm mạnh mẽ của bài văn tế: cảm xúc chân thành, sâu nặng, mãnh liệt (câu 3, 25), giọng văn bi tráng, thống thiết (câu 22, 23, 24), hình ảnh sống động (câu 13, 14, 15).

    – Nghệ thuật ngôn ngữ: giản dị, dân dã nhưng được chọn lọc tinh tế, có sức biểu cảm lớn và giá trị thẩm mĩ cao (cui cút; tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo; chia rượu lạt, gặm bánh mì, mẹ già ngồi khóc trẻ, vợ yếu chạy tìm chồng,…), nhiều biện pháp tu từ được sử dụng thành công (câu 14, 15).

    – Giọng điệu thay đổi theo dòng cảm xúc: đoạn 2 sôi nổi, hào hứng như reo vui cùng chiến thắng của nghĩa quân, đoạn 3 chuyển sang trầm lắng, thống thiết, có lúc như nức nở, xót xa (câu 24, 25), có lúc như tiếng kêu thương ai oán (câu 27); đoạn 4 trang nghiêm như một lời khấn nguyện thiêng liêng.

    LUYỆN TẬP

    1. Đọc diễn cảm bài văn tế.

    2. Nói về quan niệm sống của ông cha ta thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Cái sống được cha ông ta quan niệm là không thể tách rời với hai chữ nhục, vinh. Mà nhục hay vinh là sự đánh giá theo thái độ chính trị đối với cuộc xâm lược của Tây: đánh Tây là vinh, theo Tây là nhục. Anh (chị) hãy viết một đoạn văn phân tích những câu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thể hiện đầy đủ, sâu sắc triết lí nhân sinh đó.

    Gợi ý trả lời

    Bài tập này yêu cầu: Hiểu nhận định của Giáo sư Trần Văn Giàu, biết vận dụng để tìm và phân tích những câu văn hay, thể hiện đầy đủ triết lí nhân sinh đó trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

    a) Giải thích nhận định của Giáo sư Trần Văn Giàu. (Lưu ý: bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp những năm cuối thế kỉ XIX; mối tương quan giữa sự sống – chết của cá nhân với lẽ nhục – vinh; quan niệm về lẽ nhục – vinh ở thời đại đó).

    b) Tìm và phân tích những câu mà anh (chị) cho là hay và thể hiện đầy đủ, sâu sắc quan niệm sống đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Giải Hay Bài Tập Ngữ Văn Lớp 11: Gợi Ý Trả Lời Câu Hỏi
  • 4 Đề Thi Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 9 Có Đáp Án
  • Đề Thi Chọn Đội Tuyển Hsg Môn Ngữ Văn Lớp 9 Tỉnh Nam Định
  • 50 Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9
  • 14 Đề Thi Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Lớp 9 Có Đáp Án
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Giải Toán Nâng Cao 12 Chuyên Đề Phương Trình Mặt Phẳng.
  • Giáo Dục Quốc Phòng
  • Giải Vbt Sinh Học 9
  • Giải Bài Tập Sgk Tiếng Anh Unit 2 Lớp 12
  • Giải Bài Tập Vật Lý Lớp 12
  • Giới thiệu về Giải VBT Ngữ văn 8

    VBT Ngữ Văn 8 Tập 1 gồm từ bài 1 đến bài 17 với tất cả 54 bài viết

    VBT Ngữ Văn 8 Tập 2 gồm từ bài 18 đến bài 34 với tất cả 60 bài viết.

    Giải VBT Ngữ văn 8 giúp các em học sinh lớp 8 hoàn thành tốt các bài tập trong vở bài tập Ngữ văn 8, từ đó các em sẽ hiểu bài hơn, nắm chắc kiến thức hơn và đạt được kết quả cao trong học tập

    Giải VBT Ngữ văn 8 gồm 2 tập. Nội dung cụ thể như sau:

    Bài 1

    Tôi đi học

    Cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ

    Trong lòng mẹ

    Trường từ vựng

    Bố cục của văn bản

    Bài 3

    Tức nước vỡ bờ

    Xây dựng đoạn văn trong văn bản

    Viết bài tập làm văn số 1

    Bài 4

    Lão Hạc

    Từ tượng hình, từ tượng thanh

    Liên kết các đoạn văn trong văn bản

    Bài 5

    Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội

    Tóm tắt văn bản tự sự. Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự

    Trả bài tập làm văn số 1

    Bài 6

    Cô bé bán diêm

    Trợ từ, thán từ

    Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sự

    Bài 7

    Đánh nhau với cối xay gió

    Tình thái từ

    Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

    Bài 8

    Chiếc lá cuối cùng

    Chương trình địa phương (phần tiếng việt)

    Lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

    Bài 9

    Hai cây phong

    Nói quá

    Viết bài tập làm văn số 2

    Bài 10

    Ôn tập truyện kí Việt Nam

    Thông tin về ngày trái đất năm 2000

    Nói giảm nói tránh

    Luyện nói: kể chuyện theo ngôi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm

    Bài 11

    Câu ghép

    Trả bài tập làm văn số 2

    Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh

    Bài 12

    Ôn dịch thuốc lá

    Câu ghép (tiếp theo)

    Phương pháp thuyết minh

    Bài 13

    Bài toán dân số

    Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm

    Đề văn thuyết minh và cách làm bài văn thuyết minh

    Bài 14

    Chương trình địa phương (phần Văn – Kì 1)

    Dấu ngoặc kép

    Luyện nói: thuyết minh về một thứ đồ dùng

    Viết bài tập làm văn số 3

    Bài 15

    Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

    Đập đá ở Côn Lôn

    Ôn luyện về dấu câu

    Thuyết minh về một thể loại văn học

    Bài 16

    Muốn làm thằng cuội

    Ôn tập và kiểm tra phần tiếng việt

    Trả bài tập làm văn số 3

    Bài 17

    Hai chữ nước nhà

    Làm thơ bảy chữ

    Kiểm tra tổng hợp cuối học kì 1

    VBT Ngữ Văn 8 Tập 2

    Bài 18

    Nhớ rừng

    Ông đồ

    Câu nghi vấn

    Viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh

    Bài 19

    Quê hương

    Khi con tu hú

    Câu nghi vấn (tiếp theo)

    Thuyết minh về một phương pháp cách làm

    Bài 20

    Tức cảnh Pắc Bó

    Câu cầu khiến

    Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

    Ôn tập về văn bản thuyết minh

    Bài 21

    Ngắm trăng

    Đi đường (Tẩu lộ)

    Câu cảm thán

    Câu trần thuật

    Viết bài tập làm văn số 5

    Bài 22

    Thiên đô chiếu

    Câu phủ định

    Chương trình địa phương (phần văn)

    Bài 23

    Hịch tướng sĩ

    Hành động nói

    Trả bài tập làm văn số 5

    Bài 24

    Nước Đại Việt ta

    Hành động nói tiếp theo

    Ôn tập về luận điểm

    Bài 25

    Bàn về phép học

    Viết đoạn văn trình bày luận điểm

    Luyện tập xây dựng và trình bày luận điểm

    Viết bài tập làm văn số 6

    Bài 26

    Thuế máu

    Hội thoại

    Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

    Bài 27

    Đi bộ ngao du

    Hội thoại (tiếp theo)

    Luyện tập: đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận

    Bài 28

    Kiểm tra Văn

    Lựa chọn trật tự từ trong câu

    Trả bài tập làm văn số 6

    Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận

    Bài 29

    Ông Giuốc – Đanh mặc lễ phục

    Luyện tập: lựa chọn trật tự từ trong câu

    Luyện tập đưa các yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận

    Bài 30

    Chương trình địa phương (phần văn)

    Chữa lỗi diễn đạt

    Viết bài tập làm văn số 7

    Bài 31

    Tổng kết phần văn

    Ôn tập và kiểm tra phần tiếng việt

    Văn bản tường trình

    Luyện tập về văn bản tường trình

    Bài 32

    Trả bài kiểm tra Văn

    Ôn tập và kiểm tra phần tiếng việt (tiếp theo)

    Trả bài tập làm văn số 7

    Văn bản thông báo

    Bài 33

    Tổng kết phần văn (tiếp theo)

    Chương trình địa phương (phần tiếng việt)

    Kiểm tra tổng hợp cuối năm

    Bài 34

    Tổng kết phần văn (tiếp theo)

    Luyện tập làm văn bản thông báo

    Ôn tập phần làm văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Đáp Án, Giải Bài Tập Mai Lan Hương Lớp 7 Tập 2, Bài Tập Tiếng Anh Lớp 7 Tập 2
  • Bài Tập Vật Lý 12 Chuyên Đề Dòng Điện Xoay Chiều Một Phần Tử Chọn Lọc.
  • Phương Pháp Học Tốt Công Thức Vật Lý 11
  • Bài Tập Kinh Tế Lượng Chương 2 Co Loi Giai, Các Dạng Bài Tập Kinh Tế Lượng Và Cách Giải
  • Giải Vbt Công Nghệ 6
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Nói Quá

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hành Động Nói (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Quê Hương (Tế Hanh)
  • Hãy Thuyết Minh (Kết Hợp Chứng Minh) Về Bài Thơ Quê Hương Của Tế Hanh
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Quê Hương
  • Bài 75,76,77,78,79, 80,81,82,83 Trang 33 Toán Lớp 8 Tập 1: Ôn Tập Chương 1
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Câu 1 (trang 79 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Tìm biện pháp nói quá và giải thích ý nghĩa của chúng trong các ví dụ sau:

    a) Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

    (Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất)

    b) Anh cứ yên tâm, vết thương chỉ sượt da thôi. Từ giờ đến sáng em có thể đi lên đến tận trời được.

    (Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

    c) […] Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn mời hắn vào nhà xơi nước.

    (Nam Cao, Chí Phèo)

    Phương pháp giải:

    Muốn tìm được biện pháp nói quá, em đọc kĩ từng ví dụ cho sẵn trong SGK, chú ý các từ ngữ thể hiện cách nói quá sự thật. Em gạch dưới các từ ngữ ấy. Sau đó giải thích nghĩa của biện pháp nói quá trong từng ví dụ.

    Lời giải chi tiết:

    a) Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

    Nói quá nhấn mạnh vai trò của sức lao động con người có thể cải tạo tự nhiên mang lại nguồn sống.

    b) Em có thể đi lên đến tận trời.

    Nói quá nhằm khẳng định không ngại khó, không ngại khổ

    c) Thét ra lửa.

    Nói quá thể hiện nhân vật có quyền lực.

    Câu 2 Câu 2 (trang 79 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Điền các thành ngữ sau đây vào chỗ trống để tạo biện pháp tu từ nói quá: bầm gan tím ruột, chó ăn đá gà ăn sỏi, nở từng khúc ruột, ruột để ngoài da, vắt chân lên cổ.

    a) Ở nơi /…/ thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

    b) Nhìn thấy tội ác của giặc, ai ai cũng /…/

    c) Cô Nam tính tình xởi lởi, /…/

    d) Lời khen của cô giáo làm cho nó /…/

    e) Bọn giặc hoảng hốt /…/ mà chạy.

    Phương pháp giải:

    Ở từng chỗ trống trong câu, em lần lượt thử điền từng thành ngữ cho sẵn. Nếu tạo ra câu văn có nội dung hợp lí thì điền được.

    Lời giải chi tiết:

    Điền thành ngữ vào chỗ trống:

    Câu 3 Câu 3 (trang 79 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Đặt câu với các thành ngữ dùng biện pháp nói quá sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp biển, lấp biển vá trời, mình đồng da sắt, nghĩ nát óc.

    Phương pháp giải:

    Trước khi đặt câu, em tìm hiểu về từng thành ngữ. Trên cơ sở đó, em suy nghĩ về nội dung của câu sẽ đặt. Tham khảo câu sau: Nàng Kiều trong tác phẩm của Nguyễn Du có vẻ đpẹ nghiêng nước nghiêng thành.

    Lời giải chi tiết:

    Đặt câu với thành ngữ:

    Kiều có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

    – Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp biển.

    – Đoàn kết là sức mạnh lấp biển vá trời để kiến tạo một cuộc sống tự do.

    – Bộ đội ta mình đồng da sắt.

    – Bài toán này tớ nghĩ nát óc mà chưa giải được.

    Câu 4 Câu 4 (trang 80 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Tìm năm thành ngữ so sánh dùng biện pháp nói quá:

    Lời giải chi tiết:

    Năm thành ngữ so sánh có sử dụng biện pháp nói quá:

    Kêu như trời đánh.

    Khỏe như voi.

    Nhanh như chớp.

    Câu 5 Câu 5 (trang 80 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Viết một đoạn văn, hoặc làm một bài thơ có dùng biện pháp nói quá.

    Phương pháp giải:

    Em có thể viết đoạn văn hoặc bài thơ nói về sức mạnh của tuổi trẻ, về ý chí và nghị lực của con người,… như Bác Hồ đã từng nói với các thanh niên:

    Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên.

    Biện pháp nói quá được sử dụng ở đây nhằm nhấn mạnh, khẳng định những điều được nói tới trong đoạn văn, bài thơ.

    Lời giải chi tiết:

    Một số bài văn, bài thơ sử dụng biện pháp nói quá:

    Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận, tan tác chim muông. Câu 6 Câu 6 (trang 81 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác.

    Phương pháp giải:

    Để phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác, em tham khảo mấy gợi ý sau:

    – Nói quá và nói khoác giống nhau ở chỗ nào.

    – Mục đích của nói quá và nói khoác khác nhau thế nào?

    – Kết quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nói quá và của việc nói khóac khác nhau thế nào?

    Lời giải chi tiết:

    – Phân biệt biện pháp tu từ nói quá và nói khoác:

    + Nói quá và nói khoác cùng là nói phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật hiện tượng được nói đến.

    + Nói quá mục đích nhấn mạnh, khẳng định, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. Còn mục đích của nói khoác là làm cho người nghe tin vào những điều không có thực, hoặc để phô trương, khoe khoang.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Nói Quá
  • Soạn Bài Hai Cây Phong
  • Lý Thuyết & Giải Bài Tập Sgk Bài 4: Phương Trình Tích
  • Giải Bài Tập Sgk Hóa Học Lớp 8. Bài 16. Phương Trình Hóa Học
  • Bài 16. Phương Trình Hóa Học
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Soạn Bài Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Soạn Bài Dấu Ngoặc Kép
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Dấu Ngoặc Kép Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Viết Đoạn Văn Từ 5 Đến 7 Câu Giới Thiệu Về …. Dấu Ngoặc Kép
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Câu 1 (trang 26 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Văn bản sau đây có thể chia thành mấy ý? Mỗi ý được diễn đạt bằng mấy đoạn văn?

    AI NHẦM

    Xưa có một ông thầy đồ dạy học ở một gia đình nọ. Chẳng may bà chủ nhà ốm chết, ông chồng bèn nhờ thầy làm cho bài văn tế. Vốn lười, thầy liền lấy bài văn tế ông thân sinh ra chép lại đưa cho chủ nhà.

    Lúc vào lễ, bài văn tế được đọc lên, khách khứa ai cũng bụm miệng cười. Bực mình, ông chủ nhà gọi thầy đồ đến trách: “Sao thầy lại có thể nhầm đến thế?”. Thầy đồ trợn mắt lên cãi: ” Văn tế của tôi chẳng bao giờ nhầm, họa chăng người nhà ông chết nhầm thì có”.

    (Truyện dân gian Việt Nam)

    Phương pháp giải:

    Em xem lại Ghi nhớ về khái niệm đoạn văn. Căn cứ trên biểu hiện hình thức và nội dung, có thể dễ dàng thấy được số đoạn văn thường trùng với số lượng ý trong một văn bản.

    Lời giải chi tiết:

    Văn bản Ai nhầm có thể chia thành hai ý. Mỗi ý được diễn đạt bằng một đoạn văn:

    – Đoạn 1: Nói về ông thầy lười: Sao chép nhầm văn tế.

    – Đoạn 2: Khi người ta trách thì cãi liều là “chết nhầm”.

    Câu 2 Câu 2 (trang 26 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Hãy phân tích cách trình bày nội dung trong các đoạn văn sau.

    a) Trần Đăng Khoa rất biết yêu thương. Em thương bác đẩy xe bò “mồ hôi ướt lưng, căng sợi dây thừng” chở vôi cát về xây trường học, và mời bác về nhà mình… Em thương thầy giáo một hôm trời mưa đường trơn bị ngã, cho nên dân làng bèn đắp lại đường.

    (Theo Xuân Diệu)

    b) Mưa đã ngớt. Trời rạng dần. Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran. Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt. Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lâó lánh.

    (Tô Hoài, O chuột)

    c) Nguyên Hồng (1918 – 1982) tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng, quê ở thành phố Nam Định. Trước Cách mạng, ông sống chủ yếu ở thành phố cảng Hải Phòng, trong một xóm lao động nghèo. Ngay từ tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người cùng khổ gần gũi mà ông yêu thương thắm thiết. Sau Cách mạng, Nguyên Hồng tiếp tục bền bỉ sáng tác, ông viết cả tiểu thuyết, kí, thơ, nổi bật hơn cả là các bộ tiểu thuyết sử thi nhiều tập. Nguyên Hồng được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 1996).

    (Ngữ văn 8, tập một)

    Lời giải chi tiết:

    Cách trình bày nội dung các đoạn văn:

    Lời giải chi tiết:

    Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Đất nước ta vốn là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý giá, bởi vậy luôn bị kẻ thù nhòm ngó rắp tâm xâm lược. Nhưng chưa khi nào dân ta cam chịu cảnh nô lệ lầm than, chưa khi nào bó tay nhìn giặc tràn sang xâm lấn. Từ những năm 40, Hai Bà Trưng với nỗi hận nợ nước thù nhà đã phất cờ nổi dậy đánh tuổi tên Thái thú Tô Định nhà Hán. Sau Hai Bà Trưng còn có Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Thúc Loan,… liên tục nổi dậy chông ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc. Và đến năm 938, với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, Ngô Quyền đã khẳng định quyền tự chủ của đất nước, đưa giang san vào kỉ nguyên mới. Sau Ngô Quyền, tinh thần yêu nước của cha ông tiếp tục thể hiện đậm nét trong nhiểu chiến thắng lớn. Đó là ba lần đánh đuổi giặc Nguyên – Mông của vua tôi nhà Trần. Đó là đại chiến mùa xuân 1789 đánh quân xâm lược nhà Thanh của Nguyễn Huệ… Và gần thời đại chúng ta nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, là đại thắng mùa xuân 1975 đầy hào sảng…

    Đất nước ta vốn là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên quý giá, bởi vậy luôn bị kẻ thù nhòm ngó rắp tâm xâm lược. Nhưng chưa khi nào dân ta cam chịu cảnh nô lệ lầm than, chưa khi nào bó tay nhìn giặc tràn sang xâm lấn. Từ những năm 40, Hai Bà Trưng với nỗi hận nợ nước thù nhà đã phất cờ nổi dậy đánh tuổi tên Thái thú Tô Định nhà Hán. Sau Hai Bà Trưng còn có Bà Triệu, Phùng Hưng, Mai Thúc Loan,… liên tục nổi dậy chông ách đô hộ của phong kiến Trung Quốc. Và đến năm 938, với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử, Ngô Quyền đã khẳng định quyền tự chủ của đất nước, đưa giang san vào kỉ nguyên mới. Sau Ngô Quyền, tinh thần yêu nước của cha ông tiếp tục thể hiện đậm nét trong nhiểu chiến thắng lớn. Đó là ba lần đánh đuổi giặc Nguyên – Mông của vua tôi nhà Trần. Đó là đại chiến mùa xuân 1789 đánh quân xâm lược nhà Thanh của Nguyễn Huệ… Và gần thời đại chúng ta nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, là đại thắng mùa xuân 1975 đầy hào sảng. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

    Câu 4 Câu 4 (trang 28 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Để giải thích câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công”, một bạn đã đưa ra các ý sau:

    a. Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ.

    b. Giải thích vì sao người xưa lại nói “Thất bại là mẹ thành công”.

    c. Nêu bài học vận dụng câu tục ngữ ấy trong cuộc sống.

    Hãy chọn một trong ba ý trên để viết thành một đoạn văn, sau đó phân tích cách trình bày nội dung của đoạn văn đó.

    Phương pháp giải:

    Em hãy định trước cách trình bày nội dung đoạn văn mình sẽ viết. Sau đó, chọn một trong các ý trên để viết thành đoạn. Như vậy sau khi viết xong em sẽ dễ dàng nói về cách trình bày của mình.

    Lời giải chi tiết:

    Theo em nên vận dụng câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công” vào cuộc sống.

    – Đoạn văn: Có một nhà thơ đã viết: “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Trong cuộc đời mỗi một con người, khi phấn đấu không mệt mỏi để đạt những thành tích về học tập, lao động, chúng ta thường vấp phải những thất bại, đắng cay: “Thi không ăn ớt, thế mà cay”. Thất bại ấy do nhiều nguyên nhân gây ra. Nếu ta tìm đúng được nguyên nhân, ta bước tiếp thì ta sẽ thành công. Nhiều khi để thành công phải có lòng kiên trì, nhẫn nại, khắc phục nhược điểm nhiều lần và nhiều khi thất bại không phải chỉ xảy ra một lần, vì như người ta nói “không cái dại nào giống cái dại nào”. Vận dụng câu tục ngữ này trong cuộc sống ta thấy ý nghĩa của câu tục ngữ là lời khuyên nhủ đầy tính thuyết phục và thực tiễn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Trợ Từ, Thán Từ (Ngắn Gọn)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Trợ Từ, Thán Từ
  • Soạn Bài Từ Láy (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Từ Láy Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Giải Soạn Bài Từ Láy Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100