Giải Vbt Ngữ Văn 8 Lão Hạc

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lão Hạc (Ngắn Gọn)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Từ Tượng Hình, Từ Tượng Thanh
  • Bài 20. Hơi Nước Trong Không Khí. Mưa
  • Giải Vở Bài Tập Địa Lý 5 Bài 1: Việt Nam
  • Giải Vbt Địa Lí 6 Bài 5: Kí Hiệu Bản Đồ. Cách Biểu Hiện Địa Hình Trên Bản Đồ
  • Lão Hạc

    Câu 1 (Câu 1 trang 48 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Trả lời:

    a. Diễn biến tâm trạng của lão Hạc:

    – Lão Hạc rất yêu quý và trân trọng cậu Vàng (coi nó như người bạn, người con của mình).

    – Trong tình thế khốn cùng (ốm đau, bão đi qua) Lão Hạc vô cùng nghèo túng. Vì không muốn bán mảnh vườn của con trai nên đã quyết định bán cậu Vàng.

    – Đến tâm sự cùng ông giáo, cố tỏ ra vui vẻ nhưng vô cùng đau khổ, dằn vặt.

    – Cảm thấy hối hận, sống bạc bẽo lão với một con chó Hạc đã tìm đến một cái chết vô cùng đau đớn.

    b. Vẻ đẹp tâm hồn của lão Hạc: Là một người hiền lành, sống tình nghĩa.

    Câu 2: Lão Hạc đã tự thu xếp cuộc đời mình ra sao sau khi bán con chó Vàng? Tại sao lão chọn cho mình cái chết, lại là một cái chết “thật dữ dội” như thế?

    Trả lời:

    – Sau khi bán chó, lão Hạc đã âm thầm tự thu xếp cuộc đời mình một cách cẩn thận, chu đáo và rất tội nghiệp:

    + Gửi nhờ ông giáo ba sào vườn cho thằng con

    + Gửi ông giáo ba mươi đồng bạc để nhờ lo ma chay khi lão mất

    + Đi xin bả chó của Binh Tư.

    – Cuối cùng lão chọn cho mình cái chết, một cái chết “thật là dữ dội” là vì: lão chết vì đã lâm vào cảnh khốn cùng, đói nghèo. Lão chọn cái chết thật dữ dội để chuộc lỗi cùng cậu vàng, ông dằn vặt, áy náy khi đã bán cậu vàng đi nên đã chọn cái chết giống như cậu vàng.

    – Ngòi bút Nam Cao là ngòi bút thật xuất sắc về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật: Qua từng cử chỉ, nét mặt, từng lời đối thoại, độc thoại nội tâm đã toát lên suy nghĩ nội tâm của nhân vật.

    Câu 3 (Câu 3 trang 48 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Trả lời:

    Diễn biến truyện Thái độ, tình cảm của nhân vật “tôi”

    Lão Hạc tâm sự về việc bán chó

    Động viên, an ủi, đồng cảm với lão Hạc

    Chứng kiến cuộc sống của lão những ngày sau đó

    Thương cảm cho cuộc sống của Lão hạc, giấu vợ ngấm ngầm giúp lão Hạc

    Sau buổi nói chuyện với Binh Tư

    Ngạc nhiên, cảm thấy đáng buồn

    Chứng kiến cái chết của lão Hạc

    Nhận ra được phẩn chất cao đẹp của lão Hạc, xót thương, đồng cảm trước cái chết đầy đau đớn của lão

    – Nhận xét về ngòi bút nhân đạo của nhà văn: Ngòi bút Nam Cao đã thể hiện niềm đồng cảm, xót thương đối với số phận của Lão Hạc, đồng thời thể hiện niềm tin tưởng về những phẩm chất cao đẹp đáng quý của người nông dân.

    Câu 4 (Câu 4 trang 48 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Trả lời:

    – Khi nghe Binh Tư kể chuyện lão Hạc xin bả chó để bắt một con chó hàng xóm, ông giáo cảm thấy “cuộc đời quả thật đáng buồn”: Ở đây ông buồn vì nghĩ rằng vì miếng ăn, vì cái nghèo túng đường cùng đã khiến lão Hạc tha hóa về nhân cách.

    – Thế nhưng, chứng kiến cái chết của lão Hạc, ông giáo lại nghĩ: “Không! Cuộc đời chưa hẳn là đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng buồn theo một cách khác”:

    + “Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn” vì ông giáo nhận ra lão Hạc vẫn giữ cho mình trọn vẹn nhân cách cao đẹp.

    + Thế nhưng “buồn theo một cách khác” kia đó là cái chết đầy đau đớn, thương tâm mà lão Hạc tự chọn lấy cho mình.

    Câu 5: Em có nhận xét gì về tài năng xuất sắc trong nghệ thuật khắc họa nhân vật và trong cách kể chuyện của Nam Cao.

    Trả lời:

    – Nghệ thuật khắc họa nhân vật xuất sắc:

    + Nam Cao chú ý khắc họa nhân vật qua ngoại hình, từng điệu bộ, cử chỉ cũng thể hiện nội tâm bên trong của nhân vật

    + Ngôn ngữ nhân vật phong phú: Có đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm

    + Nắm bắt sâu diễn biến tâm lí nhân vật, len lỏi vào từng trạng thái cảm xúc, khắc họa rất chân thực dòng chảy cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật

    – Nghệ thuật kể chuyện sinh động, hấp dẫn:

    + Kể chuyện theo ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng tôi trực tiếp tham gia câu chuyện, làm tăng tính chân thực cho chuyện kể

    + Kết cấu truyện đầy bất ngờ khiến người đọc cảm thấy tò mò, thú vị đến tận kết truyện.

    + Tình huống truyện độc đáo

    + Ngôn ngữ kể chuyện biến đổi linh hoạt.

    Câu 6 (Câu 7* trang 48 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Trả lời:

    a. Cuộc đời người nông dân trong xã hội cũ.

    – Bị áp bức bóc lột sức lao động (Anh con trai Lão Hạc phải đi đồn điền)

    – Họ sống khổ cực ở làng quê, làm quanh năm cũng không đủ ăn.

    – Thường xuyên phải chịu những thiên tai, dịch bệnh, bệnh tật.

    – Cuộc sống nghèo khổ bần cùng đến khốn cùng

    b. Vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của người nông dân:

    – Họ sống giàu tình cảm, trọng tình trọng nghĩa

    – Sống lương thiện, trong sạch

    – Sống thủy chung, ân tình

    – Dám phản kháng để bảo vệ phẩm chất đáng quý của mình

    Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 8 (VBT Ngữ Văn 8) khác:

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 3: Chuyển Động Đều
  • Bài 6. Hợp Tác Cùng Phát Triển
  • Giải Vbt Địa Lí 9 Bài 6: Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Minh Anh
  • Giải Vở Bài Tập Địa Lí 7
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài 1,2,3, 4,5 Trang 91 Sgk Hóa 8: Oxit
  • Bài 1,2,3, 4,5 Trang 87 Sgk Hóa Học 9: Các Oxit Của Cacbon
  • Skkn: Phương Pháp Giải Bt Oxit + Dd Kiềm
  • Bài 1,2,3,4 Trang 9 Sgk Hóa Học Lớp 9: Một Số Oxit Quan Trọng
  • Bài Tập Phép Tịnh Tiến Và Phép Quay Soạn Tự Luận Hay
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 5 Câu 5 (trang 35 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Đặc sắc nghệ thuật của truyện Lão Hạc.

    Phương pháp giải:

    Có 3 ý:

    – Cái hay của truyện;

    – Đặc sắc của việc xây dựng nhân vật;

    – Hiệu quả nghệ thuật của ngôi kể.

    Hãy chú ý đến tình huống truyện, ngôn ngữ nhân vật, kết thúc truyện để trả lời ý thứ nhất. Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, cần xem xét các khía cạnh: miêu tả hình dáng, tâm lí, ngôn ngữ và mối quan hệ giữa các nhân vật. Về hiệu quả nghệ thuật của ngôi kể thứ nhất, nên xem lại phần Tập làm văn đã học ở các lớp trước.

    Lời giải chi tiết:

    – Cái hay, hấp dẫn của truyện nằm ở việc xây dựng tình huống truyện, miêu tả tâm lý nhân vật và cách lựa chọn ngôi kể.

    + Tình huống truyện: Lão Hạc bán chó làm nổi bật diễn biến tâm lí lão Hạc.

    + Xây dựng nhân vật:

    • Lão Hạc: giàu tình thương, lòng tự trọng, trung thực.
    • Ông giáo: tử tế, biết chia sẻ, đồng cảm.

    + Ngôi kể: ngôi thứ nhất (nhân vật “tôi” kể, dẫn dắt câu chuyện nhưng lại nhập vai vào các nhân vật khác nên tác phẩm có nhiều giọng điệu chứ không đơn điệu).

    Câu 6 Câu 6 (trang 36 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Em hiểu thế nào về ý nghĩ của nhân vật “tôi” qua đoạn văn sau: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố gắng mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bí Ổi… toàn những cái cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương: không bao giờ ta thương…”.

    Phương pháp giải:

    Em hãy xét xem nhân vật tôi suy nghĩ về vấn đề gì. Những ý nghĩ ấy có đúng với nhân vật trong truyện Lão Hạc hay không? Suy rộng ra, ý nghĩ ấy có đúng không?

    Lời giải chi tiết:

    – Ý nghĩ của nhân vật “tôi” mang tính triết lí nêu lên bài học về cách nhìn người, nhìn đời và cách ứng xử trong cuộc sống.

    – Còn thể hiện tấm lòng, tình thương của tác giả với con người.

    Câu 7 Câu 7 (trang 37 VBT Ngữ văn 8, tập 1):

    Cảm nhận về cuộc đời và tính cách người nông dân xã hội cũ qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ và truyện ngắn Lão Hạc.

    Phương pháp giải:

    Em hãy xem xét cuộc đời của vợ chồng chị Dậu (nghèo túng, bị thúc bách sưu thuế, bị ức hiếp, đánh đập), cuộc đời của Lão Hạc (cô đơn, thui thủi, nghèo khổ, bế tắc), và những phẩm chất tốt đẹp của họ. Từ đó trả lời câu hỏi.

    Lời giải chi tiết:

    – Cuộc sống khổ cực:

    + Bị bóc lột, bần cùng hóa, đói nghèo, thiếu thốn.

    + Họ sống khổ cực trong làng quê.

    + Cuộc sống eo hẹp dần tới kiệt quệ, bế tắc.

    – Phẩm chất đáng quý:

    + Trong sạch, lương thiện, giàu tình yêu thương.

    + Họ sẵn sàng chết, phản kháng lại để giữ phẩm giá cao quý của mình.

    + Trong người nông dân luôn tiềm tàng sức mạnh của tình cảm, có thể phản kháng lại những bất công.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Trường Từ Vựng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Tôi Đi Học (Ngắn Nhất)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Thuật Ngữ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Từ Mượn
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Nghĩa Của Từ
  • Soạn Bài Lão Hạc (Ngắn Gọn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Từ Tượng Hình, Từ Tượng Thanh
  • Bài 20. Hơi Nước Trong Không Khí. Mưa
  • Giải Vở Bài Tập Địa Lý 5 Bài 1: Việt Nam
  • Giải Vbt Địa Lí 6 Bài 5: Kí Hiệu Bản Đồ. Cách Biểu Hiện Địa Hình Trên Bản Đồ
  • Giải Vbt Gdcd 9 Bài 13: Quyền Tự Do Kinh Doanh Và Nghĩa Vụ Đóng Thuế
  • Diễn biến tâm trạng lão Hạc quanh chuyện bán chó:

    – Mối quan hệ: cậu Vàng vừa là kỉ niệm, vừa là tín vật của người con, cũng là người bạn trung thành trong cuộc sống quạnh hiu của lão.

    – Lão đau khổ khi cùng đường đến mức bán cậu Vàng: ” Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậc nước…Lão hu hu khóc “, lão đau đớn cùng cực, nghẹn ngào giày xé vì “đã trót đánh lừa một con chó”.

    → Người nông dân nghèo khổ, lương thiện, trái tim vô cùng nhân hậu, trong sạch.

    Câu 2:

    – Nguyên nhân cái chết: túng quẫn, tuyệt vọng sau trận ốm, bán cậu Vàng cũng là mất đi người bạn thân thiết, cảm giác tội lỗi vì trót lừa một con chó, không đợi được con trai về. Lão chết vì lòng tự trọng, vì tình thương, vì quá đỗi lương thiện.

    – Lão Hạc trước khi tìm đến cái chết đã nhờ ông giáo giữ vườn đợi con trai lão về, giữ tiền để lo tiền ma chay cho lão.

    → Tình cảnh lão Hạc éo le, đáng thương nhưng không muốn liên lụy tới mọi người xung quanh. Một con người có lòng tự trọng rất cao, hiền hậu, khiêm cung trong cử chỉ, tinh tế, hiểu đời, hiểu người nhưng bất lực. Là người cha thương con vô bờ, là ông lão giàu tình cảm, lương thiện.

    Câu 3:

    Thái độ, tình cảm của nhân vật “tôi” với lão Hạc có sự thay đổi:

    Lúc đầu thờ ơ và dửng dưng nghe chuyện bán chó. Sau đó thấu hiểu và an ủi lão. Chứng kiến cái chết lão Hạc, nhân vật “tôi” vô cùng cảm động, kính trọng nhân cách, tấm lòng của lão. Ông giáo là người giàu lòng trắc ẩn, hiểu và đồng cảm người khó khăn.

    Câu 4:

    Ban đầu khi nghe Binh Tư nói, ông giáo buồn vì thấy sự tha hóa nhân cách con người, thất vọng vì lầm tưởng lão Hạc thật sự đánh mất lương thiện bấy lâu.

    Chứng kiến cái chết lão Hạc, ông giáo thấy ” cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn” vì niềm tin, hi vọng vào xã hội vẫn còn khi thật sự có những con người vẫn giữ được bản chất lương thiện. Nhưng ” lại đáng buồn theo một nghĩa khác “. Một dấu chấm lặng, cuộc đời vẫn đáng buồn vì số phận hẩm hiu, bất hạnh của những người lương thiện, buồn vì cái chết đau đớn dữ dội mà một con người như lão Hạc phải chịu.

    Câu 5:

    – Cái hay của truyện thể hiện rõ ở việc miêu tả tâm lí nhân vật và cách kể.

    – Tình huống truyện bất ngờ, sáng tỏ nhân cách lão Hạc trong người đọc, trong nhân vật.

    – Cách xây dựng nhân vật chân thực sinh động từ ngoại hình đến nội tâm sâu sắc.

    – Ngôi kể thứ nhất dẫn dắt linh hoạt tạo sự gần gũi chân thực. Nhân vật “tôi” kể mà như là nhập vào lão Hạc, mọi cảm xúc chân thật, sâu sắc.

    Câu 6:

    – Ý nghĩ của nhân vật “tôi” mang tính triết lí nêu lên bài học về cách nhìn người, nhìn đời và cách ứng xử trong cuộc sống.

    – Còn thể hiện tấm lòng, tình thương của tác giả với con người.

    Câu 7:

    – Cuộc sống người nông dân trong xã hội cũ: nghèo khổ, bất hạnh, bị xã hội đè nén, áp bức.

    – Phẩm chất cao đẹp: hiền lành, lương thiện, giàu tình thương, không bị hòa đục trong dòng nước xã hội.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Lão Hạc
  • Bài 3: Chuyển Động Đều
  • Bài 6. Hợp Tác Cùng Phát Triển
  • Giải Vbt Địa Lí 9 Bài 6: Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Câu Hỏi Của Nguyễn Minh Anh
  • Giải Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sbt Địa Lý 9 Bài 12: Sự Phát Triển Và Phân Bố Công Nghiệp
  • Giải Bài Tập Sbt Địa Lí 7 Bài 9: Hoạt Động Sản Xuất Nông Nghiệp Ở Đới Nóng
  • Giải Bài Tập Sbt Địa Lý 11 Bài 8: Liên Bang Nga (Phần 1)
  • Giải Bài Tập Sbt Địa Lí 8 Bài 17: Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (Asean)
  • Bài Chương Trình Địa Phương (Phần Tập Làm Văn) Sbt Văn Lớp 8 Tập 2: Giải Câu 1, 2, 3 Trang 46
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 32 SBT Ngữ văn 8 tập 1. Phân tích tình cảnh của lão Hạc. Tình cảnh ấy cho ta hiểu gì về số phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 ?

    1. Phân tích tình cảnh của lão Hạc. Tình cảnh ấy cho ta hiểu gì về số phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 ?

    Trả lời:

    Chú ý tình cảnh tội nghiệp, ngày càng túng quẫn của lão Hạc :

    – Nhà nghèo, vợ đã chết, chỉ còn đứa con trai. Tât cả tài sản của lão chỉ là mảnh vườn nhỏ.

    – Phẫn chí vì không có tiền cưới vợ, người con trai lại bỏ đi làm phu đồn điền cao su biền biệt, một năm nay chẳng có tin tức gì. Lão Hạc làm thuê để sống, còn tiền hoa lợi của mảnh vườn, lão dành dụm cho người con trai.

    – Sau một trận ốm lão không còn làm thuê được nữa, mà tiền dành dụm cũng hết. Rồi lại gặp trận bão hoa màu bị phá sạch, giá thóc gạo lên cao,… lão rất túng quẫn.

    – Dù không muốn, lão Hạc đành phải bán “cậu Vàng”, kỉ vật của anh con trai, người bạn tâm tình của lão vì lão không thể nào hằng ngày lo đủ gạo cho cả lão và con chó.

    – Từ đó, lão chỉ còn ăn khoai, củ chuối, sung luộc, rau má,… Tuy lão vẫn còn mảnh vườn và số tiền nhỏ dành dụm, nhưng lão quyết giữ cả lại cho đứa con sau này trở về (lão hi vọng thế)…

    – Cuối cùng, cảm thấy không còn có thể sống thêm được nữa, lão Hạc quyêt định tự tử bằng bả chó. Lão chết “cái chết thật là dữ dội”, đau đớn… Lão phải chết vì bị đẩy tới cùng, không còn đường sống. Ông lão nông dân suốt đời lao động cần cù, vất vả ấy đã không thể sống, kể cả sống trong nghèo khổ. Cuộc sống cùng khôn và cái chết bi thảm của lão Hạc cho thấy số phận thê thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

    2. Nhận xét của em về việc lão Hạc bán “cậu Vàng”. Qua đó em thấy lão Hạc là con người như thế nào ?

    Trả lời:

    Cần xuất phát từ tình cảnh cụ thể của lão Hạc lúc đó và nhât là từ bản chất con người của lão. Cụ thể là :

    – Vì sao đối với lão Hạc, việc bán đi con chó lại quan trọng đến thế ? Vì sao việc lão quyết định bán con chó lại khó khăn, lão phải tính toán, do dự nhiều đến thế ? Đối với lão, “cậu Vàng” có ý nghĩa như thế nào ?

    – Thái độ, tâm trạng của lão Hạc khi kể lại với “ông giáo” cảnh bán “cậu Vàng” như thế nào ?

    – Từ những phân tích trên, có thể nhận xét về con người lão Hạc. Đó là một ông già vô cùng nhân hậu – tình cảm đặc biệt của lão dành cho “cậu Vàng” cho thấy rõ bản chất nhân hậu cao quý đó. Lão kể lại việc bán “cậu Vàng” cho “ông giáo” với tâm trạng hết sức đau đớn : “lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Khi nhắc đến việc “cậu Vàng” bị lừa rồi bị bắt trói thì “lão hu hu khóc”. Lão không thể tha thứ cho mình việc đã đánh lừa một con chó trung thành : “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó !”. Phải là người có trái tim thật nhân hậu, thật trong sạch thì lương tâm mới bị giày vò đau đớn, mới cảm thấy có lỗi không thể tha thứ đối với một con chó như vậy.

    3. Em hiểu thế nào về nguyên nhân cái chết của lão Hạc ? Em có suy nghĩ gì về con người lão qua việc lão quyết định tự tử (sau khi thu xếp nhờ cậy “ông giáo” một số việc) ?

    – Lão Hạc rất nghèo, lại già yếu, ốm đau, không còn có thể làm thuê kiếm ăn được nửa. Tuý có mảnh vườn và dành dụm được món tiền nhỏ từ việc bòn vườn nhưng lão quyết dành lại cả cho đứa con trai đang ở xa, còn lão chỉ ăn khoai, củ chuối, sung,… cho qua bữa.

    – Trong tình thế ấy, lão quyết định tự tử, một quyết định âm thầm mà quyết liệt vì còn sống thì còn phải ăn, nhưng lão không còn có thể làm gì để kiếm ăn, trong khi lão kiên quyết không bán mảnh vườn, cũng quyết không đụng chạm tới số tiền nhỏ dành dụm được từ hoa lợi mảnh vườn đó, để dành trọn vẹn cho con khi nó trở về. Trước khi tự tử, lão đã cầu khẩn cậy nhờ “ông giáo” nhận đứng tên trông nom mảnh vườn để không còn ai tơ tưởng nhòm ngó, sau sẽ trao lại cho anh con trai… Vậy là lão Hạc quyết chết để bảo vệ mảnh vườn cho anh con trai mà lão tin sẽ trở về… Đó là sự hi sinh thật cảm động của một người cha.

    – Vì rất tự trọng, lão Hạc dù chết đói vẫn không chịu nhận bố thí dù của bất cứ ai. Khi đã quyết định tự tử, cũng với lòng tự trọng rất cao và nhân cách hết sức trong sạch, lão không muốn hàng xóm phải phiền lụy về cái xác già của mình, đã gửi ông giáo toàn bộ số tiền dành dụm bằng cách nhịn ăn để nhờ ông giáo đưa ra nói với hàng xóm lo giúp sau khi lão chết.

    Có thể nói, qua quyết định tự tử để rồi chết một cách đau đớn của lão Hạc, có thể thấy đó là một ông già nông dân nghèo có những phẩm chất cao đẹp : thương con tới mức hi sinh và lòng tự trọng hiếm có, thể hiện một ý thức nhân phẩm rất cao.

    4. Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Lão Hạc. (Chú ý nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật.)

    Trả lời:

    Cần thấy đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của nhà văn lớn Nam Cao. Tài nghệ bậc thầy của nhà văn thể hiện một cách toàn diện, ở đây chỉ nêu lên mây khía canh nổi bật nhất:

    – Đặc sắc của nghệ thuật kể chuyện (trần thuật) : Người kể chuyện là nhân vật “tôi” (ông giáo). Qua nhân vật “tôi”, tác giả có thể biểu lộ những cảm xúc, ý nghĩ của mình. Câu văn vì vậy thấm đậm chất trữ tình, giàu sức truyền cảm. Chú ý sự thể hiện chất trữ tình đó của tác phẩm trong giọng văn, qua những câu cảm thán, khi tác giả không nén được cảm xúc dâng trào, đã gọi nhân vật lên để nói chuyện “Lão Hạc ơi ! Hỡi ơi lão Hạc”. Chât trữ tình còn thể hiện ở những lời tâm sự của nhân vật “tôi” , ở những suy nghĩ có tính châ’t triết lí của tác giả : “Chao ôi ! Đôi với những người ở quanh ta…”. Những câu văn trữ tình triết lí đó làm cho tác phẩm có chiều sâu cảm xúc và chiều sâu tư tưởng đặc biệt.

    Cũng với cách dùng nhân vật “tôi” làm người kể chuyện, tác giả đã vào truyện, dẫn dắt câu chuyện một cách linh hoạt, thoải mái mà vẫn chặt chẽ, liền mạch. Chẳng hạn, mở đầu đi thẳng vào giữa truyện, rồi mới ngược thời gian kể về cảnh ngộ nhân vật, từ chuyện bán con chó sang chuyện anh con trai bổ đi phu… Cách dẫn dắt câu chuyện như thế là rất mới mẻ, tưởng như lỏng lẻo mà thật ra rất chặt chẽ, tập trung.

    – Đặc sắc trong xây dựng nhân vật : Nhân vật lão Hạc không hành động nhiều, nhưng đã gây ấn tượng thật sâu đậm trong lòng người đọc. Đáng chú ý là việc thể hiện tính cách nhân vật lão Hạc của tác giả không hề đơn giản, phiến diện. Bề ngoài, lão Hạc cồ chút gì như lẩm cẩm, gàn dở, thậm chí như trái tính, mà kì thực đó là một con người thánh thiện, hết sức cao quý, phải nhìn thấu mới thấy được. Chính tác giả (qua nhân vật “tôi”) đã nhận xét “cái bản tính tốt” của con người thường bị “che lấp mất”, phải cố tìm mà hiểu” những người nông dân nghèo khổ chung quanh để phát hiện ra “cái bản tính tốt” thường bị “che lấp” đó của họ. Cần chú ý phân tích những đoạn cho thấy những nét cao quý tiềm tàng trong tính cách lão Hạc. Chẳng hạn, đoạn lão kể cho ông giáo nghe về việc bắt con chó với giọng vô cùng đau đớn ; đoạn lão trình bày với ông giáo những việc lão sẽ nhờ cậy ông giáo trước khi tự tử…

    – Có thể nhận xét những điểm, những khía cạnh khác về nghệ thuật tác phẩm mà em thấy rất hay. cần chú ý : Lão Hạc thuộc loại truyện ngắn vừa giản dị, hấp dẫn, vừa rất sâu sắc, nhiều dư vị, đọc xong cứ vương vấn suy nghĩ không dứt. Đó chính là dấu hiệu của một tác phẩm có trình độ nghệ thuật cao.

    5. Sau khi lão Hạc mất một thời gian, người con trai trở về làng. Ông giáo đã giạo lại cho anh ta ngôi nhà, mảnh vườn mà người bố tội nghiệp bấy lâu nhờ trông nom, gìn giữ và kể lại quãng đời lão Hạc từ khi anh phẫn chí bỏ làng đi. Em hãy viết một đoạn văn diễn tả tâm trạng của anh con trai lão Hạc ở thời điểm ấy.

    Trả lời:

    Đây là bài tập rèn luyện trí tưởng tượng và năng lực cảm thụ văn học, nhằm phát huy tính chủ động của cá nhân. Có thể viết đoạn văn miêu tả tâm trạng anh con ữai lão Hạc lúc ấy từ hai góc độ :

    – Diễn tả tâm trạng ấy một cách khách quan (người viết ở vị trí người kể, miêu tả). Cách viết này có thể vừa diễn tả nội tâm, cảm xúc vừa miêu tả bộ dạng, hành động của nhân vật anh con trai lão Hạc.

    – Diễn tả bằng dòng độc thoại nội tâm của nhân vật (người viết nhập thân vào nhân vật anh con trai lão Hạc và đứng ra kể, tâm sự). Cách viết này dễ giàu cảm xúc, trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Bài 3 Trang 14 Tập Bản Đồ Địa Lí 11
  • Giải Tập Bản Đồ Địa Lí 11
  • Tập Bản Đồ Địa Lí 9 Bài 6: Sự Phát Triển Nền Kinh Tế Việt Nam
  • Sách Bài Tập Vật Lí 7 Bài 21: Sơ Đồ Mạch Điện
  • Giải Bài Tập Sbt Địa Lí 8 Bài 30: Thực Hành: Đọc Bản Đồ Địa Hình Việt Nam
  • Soạn Bài Lão Hạc Siêu Ngắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Lớp 8 Số 7 Đề 1: Tuổi Trẻ Là Tương Lai Của Đất Nước
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Chiếu Dời Dô Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Chiếu Dời Đô
  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ (Trích Tắt Đèn)
  • Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (từ đầu … “nó thế này ông giáo ạ”): Sự day dứt, dằn vặt của lão Hạc sau khi bán con Vàng.

    – Phần 2 (tiếp … “một thêm đáng buồn”): Lão Hạc gửi gắm tiền bạc, trông nom nhà cửa.

    – Phần 3 (còn lại): Cái chết của lão Hạc.

    Nội dung chính: Số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất tiềm tàng của họ.

    Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 48 SGK Ngữ văn 8, tập 1):

    – Tình cảm của lão Hạc dành cho cậu Vàng:

    + Trân trọng gọi con chó là cậu Vàng.

    + Làm bạn với cậu Vàng để khuây khỏa.

    + Đối xử với cậu Vàng như đối xử với con cháu: cho ăn trong bát, gắp thức ăn cho, chửi yêu, cưng nựng…

    + Lão Hạc đau đớn đến không thể tha thứ cho mình vì đã nỡ lừa con chó trung thành của lão.

    Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    – Nguyên nhân cái chết của lão Hạc:

    + Do tình cảnh túng quẫn: đói deo dắt, nghèo khổ, bần cùng.

    + Lão chọn cái chết để giải thoát số kiếp, và bảo toàn số tiền cho con.

    – Lão Hạc thu xếp nhờ “ông giáo”sau đó tìm đến cái chết chứng tỏ:

    + Lão là người có lòng tự trọng, biết lo xa.

    + Lão không chấp nhận việc làm bất lương, không nhận sự giúp đỡ.

    + Lão coi trọng nhân phẩm, danh dự hơn cả mạng sống.

    Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    Thái độ của nhân vật “tôi”:

    – Khi nghe chuyện lão Hạc muốn bán chó thì dửng dưng, thờ ơ.

    – Khi lão Hạc khóc vì bán chó thì cảm thông, chia sẻ “muốn ôm choàng lấy lão mà khóc”, muốn giúp đỡ.

    – Khi chứng kiến cái chết của lão Hạc thì kính trọng nhân cách, tấm lòng của con người bình dị.

    Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    – Khi nghe Binh Tư nói, nhân vật “tôi” bất ngờ, hoài nghi, cảm thấy thất vọng

    + Nhân vật “tôi” nhanh chóng cảm thấy chán ngán: người trung thực, nhân nghĩa như lão Hạc lại “nối gót” Binh Tư.

    + Buồn vì cái đói nghèo có thể làm tha hóa nhân cách con người (cái đói nghèo có thể biến lão Hạc trở nên tha hóa như Binh Tư)

    – Sau đó chứng kiến cái chết dữ dội của lão Hạc, ông giáo lại thấy buồn ở khía cạnh khác.

    + Hóa giải được hoài nghi trong lòng nhưng lại thấy buồn.

    + Xót xa vì người sống tử tế và nhân hậu, trung thực như lão Hạc phải chọn cái chết đau đớn, dữ dội.

    + Tình huống truyện: Lão Hạc bán chó làm nổi bật diễn biến tâm lí lão Hạc.

    + Xây dựng nhân vật:

    • Lão Hạc: giàu tình thương, lòng tự trọng, trung thực.
    • Ông giáo: tử tế, biết chia sẻ, đồng cảm.

    + Ngôi kể: ngôi thứ nhất (nhân vật “tôi” kể, dẫn dắt câu chuyện nhưng lại nhập vai vào các nhân vật khác nên tác phẩm có nhiều giọng điệu chứ không đơn điệu).

    Câu 6 Trả lời câu 6 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    – Đây là phát hiện sâu sắc mang tính triết lý:

    + Phải thực sự am hiểu, trân trọng con người, khám phá những nét tốt đẹp của con người.

    + Con người chỉ bị những đau khổ che lấp đi bản tính tốt đẹp, cần phải “cố tìm hiểu”.

    + Cần phải đặt mình vào hoàn cảnh và vị trí của người khác để hiểu, cảm thông và chấp nhận họ.

    Câu 7 (trang 48 sgk Ngữ Văn 8 tập 1):

    – Cuộc sống khổ cực:

    + Bị bóc lột, bần cùng hóa, đói nghèo, thiếu thốn.

    + Họ sống khổ cực trong làng quê.

    + Cuộc sống eo hẹp dần tới kiệt quệ, bế tắc.

    – Phẩm chất đáng quý:

    + Trong sạch, lương thiện, giàu tình yêu thương.

    + Họ sẵn sàng chết, phản kháng lại để giữ phẩm giá cao quý của mình.

    + Trong người nông dân luôn tiềm tàng sức mạnh của tình cảm, có thể phản kháng lại những bất công.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Lão Hạc (Chi Tiết)
  • Giải Sinh Lớp 11 Bài 41: Sinh Sản Vô Tính Ở Thực Vật
  • Giải Bài 5 Trang 96 Sgk Sinh Học Lớp 11
  • Bộ Đề Thi Và Đáp Án Môn Sinh Học 11 Nâng Cao
  • Giải Sinh Lớp 9 Bài 17: Mối Quan Hệ Giữa Gen Và Arn
  • Soạn Bài Lão Hạc Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Con Hổ Có Nghĩa
  • ✅ Con Hổ Có Nghĩa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Con Rồng Cháu Tiên
  • Phân Tích Hình Ảnh Con Hổ Trong Truyện Con Hổ Có Nghĩa
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Tôi Đi Học
  • Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 32 SBT Ngữ văn 8 tập 1. Phân tích tình cảnh của lão Hạc. Tình cảnh ấy cho ta hiểu gì về số phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 ?

    1. Phân tích tình cảnh của lão Hạc. Tình cảnh ấy cho ta hiểu gì về số phận của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 ?

    Trả lời:

    Chú ý tình cảnh tội nghiệp, ngày càng túng quẫn của lão Hạc :

    – Nhà nghèo, vợ đã chết, chỉ còn đứa con trai. Tât cả tài sản của lão chỉ là mảnh vườn nhỏ.

    – Phẫn chí vì không có tiền cưới vợ, người con trai lại bỏ đi làm phu đồn điền cao su biền biệt, một năm nay chẳng có tin tức gì. Lão Hạc làm thuê để sống, còn tiền hoa lợi của mảnh vườn, lão dành dụm cho người con trai.

    – Sau một trận ốm lão không còn làm thuê được nữa, mà tiền dành dụm cũng hết. Rồi lại gặp trận bão hoa màu bị phá sạch, giá thóc gạo lên cao,… lão rất túng quẫn.

    – Dù không muốn, lão Hạc đành phải bán “cậu Vàng”, kỉ vật của anh con trai, người bạn tâm tình của lão vì lão không thể nào hằng ngày lo đủ gạo cho cả lão và con chó.

    – Từ đó, lão chỉ còn ăn khoai, củ chuối, sung luộc, rau má,… Tuy lão vẫn còn mảnh vườn và số tiền nhỏ dành dụm, nhưng lão quyết giữ cả lại cho đứa con sau này trở về (lão hi vọng thế)…

    – Cuối cùng, cảm thấy không còn có thể sống thêm được nữa, lão Hạc quyêt định tự tử bằng bả chó. Lão chết “cái chết thật là dữ dội”, đau đớn… Lão phải chết vì bị đẩy tới cùng, không còn đường sống. Ông lão nông dân suốt đời lao động cần cù, vất vả ấy đã không thể sống, kể cả sống trong nghèo khổ. Cuộc sống cùng khôn và cái chết bi thảm của lão Hạc cho thấy số phận thê thảm của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

    2. Nhận xét của em về việc lão Hạc bán “cậu Vàng”. Qua đó em thấy lão Hạc là con người như thế nào ?

    Trả lời:

    Cần xuất phát từ tình cảnh cụ thể của lão Hạc lúc đó và nhât là từ bản chất con người của lão. Cụ thể là :

    – Vì sao đối với lão Hạc, việc bán đi con chó lại quan trọng đến thế ? Vì sao việc lão quyết định bán con chó lại khó khăn, lão phải tính toán, do dự nhiều đến thế ? Đối với lão, “cậu Vàng” có ý nghĩa như thế nào ?

    – Thái độ, tâm trạng của lão Hạc khi kể lại với “ông giáo” cảnh bán “cậu Vàng” như thế nào ?

    – Từ những phân tích trên, có thể nhận xét về con người lão Hạc. Đó là một ông già vô cùng nhân hậu – tình cảm đặc biệt của lão dành cho “cậu Vàng” cho thấy rõ bản chất nhân hậu cao quý đó. Lão kể lại việc bán “cậu Vàng” cho “ông giáo” với tâm trạng hết sức đau đớn : “lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Khi nhắc đến việc “cậu Vàng” bị lừa rồi bị bắt trói thì “lão hu hu khóc”. Lão không thể tha thứ cho mình việc đã đánh lừa một con chó trung thành : “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó !”. Phải là người có trái tim thật nhân hậu, thật trong sạch thì lương tâm mới bị giày vò đau đớn, mới cảm thấy có lỗi không thể tha thứ đối với một con chó như vậy.

    3. Em hiểu thế nào về nguyên nhân cái chết của lão Hạc ? Em có suy nghĩ gì về con người lão qua việc lão quyết định tự tử (sau khi thu xếp nhờ cậy “ông giáo” một số việc) ?

    – Lão Hạc rất nghèo, lại già yếu, ốm đau, không còn có thể làm thuê kiếm ăn được nửa. Tuý có mảnh vườn và dành dụm được món tiền nhỏ từ việc bòn vườn nhưng lão quyết dành lại cả cho đứa con trai đang ở xa, còn lão chỉ ăn khoai, củ chuối, sung,… cho qua bữa.

    – Trong tình thế ấy, lão quyết định tự tử, một quyết định âm thầm mà quyết liệt vì còn sống thì còn phải ăn, nhưng lão không còn có thể làm gì để kiếm ăn, trong khi lão kiên quyết không bán mảnh vườn, cũng quyết không đụng chạm tới số tiền nhỏ dành dụm được từ hoa lợi mảnh vườn đó, để dành trọn vẹn cho con khi nó trở về. Trước khi tự tử, lão đã cầu khẩn cậy nhờ “ông giáo” nhận đứng tên trông nom mảnh vườn để không còn ai tơ tưởng nhòm ngó, sau sẽ trao lại cho anh con trai… Vậy là lão Hạc quyết chết để bảo vệ mảnh vườn cho anh con trai mà lão tin sẽ trở về… Đó là sự hi sinh thật cảm động của một người cha.

    – Vì rất tự trọng, lão Hạc dù chết đói vẫn không chịu nhận bố thí dù của bất cứ ai. Khi đã quyết định tự tử, cũng với lòng tự trọng rất cao và nhân cách hết sức trong sạch, lão không muốn hàng xóm phải phiền lụy về cái xác già của mình, đã gửi ông giáo toàn bộ số tiền dành dụm bằng cách nhịn ăn để nhờ ông giáo đưa ra nói với hàng xóm lo giúp sau khi lão chết.

    Có thể nói, qua quyết định tự tử để rồi chết một cách đau đớn của lão Hạc, có thể thấy đó là một ông già nông dân nghèo có những phẩm chất cao đẹp : thương con tới mức hi sinh và lòng tự trọng hiếm có, thể hiện một ý thức nhân phẩm rất cao.

    4. Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Lão Hạc. (Chú ý nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật.)

    Trả lời:

    Cần thấy đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của nhà văn lớn Nam Cao. Tài nghệ bậc thầy của nhà văn thể hiện một cách toàn diện, ở đây chỉ nêu lên mây khía canh nổi bật nhất:

    – Đặc sắc của nghệ thuật kể chuyện (trần thuật) : Người kể chuyện là nhân vật “tôi” (ông giáo). Qua nhân vật “tôi”, tác giả có thể biểu lộ những cảm xúc, ý nghĩ của mình. Câu văn vì vậy thấm đậm chất trữ tình, giàu sức truyền cảm. Chú ý sự thể hiện chất trữ tình đó của tác phẩm trong giọng văn, qua những câu cảm thán, khi tác giả không nén được cảm xúc dâng trào, đã gọi nhân vật lên để nói chuyện “Lão Hạc ơi ! Hỡi ơi lão Hạc”. Chât trữ tình còn thể hiện ở những lời tâm sự của nhân vật “tôi” , ở những suy nghĩ có tính châ’t triết lí của tác giả : “Chao ôi ! Đôi với những người ở quanh ta…”. Những câu văn trữ tình triết lí đó làm cho tác phẩm có chiều sâu cảm xúc và chiều sâu tư tưởng đặc biệt.

    Cũng với cách dùng nhân vật “tôi” làm người kể chuyện, tác giả đã vào truyện, dẫn dắt câu chuyện một cách linh hoạt, thoải mái mà vẫn chặt chẽ, liền mạch. Chẳng hạn, mở đầu đi thẳng vào giữa truyện, rồi mới ngược thời gian kể về cảnh ngộ nhân vật, từ chuyện bán con chó sang chuyện anh con trai bổ đi phu… Cách dẫn dắt câu chuyện như thế là rất mới mẻ, tưởng như lỏng lẻo mà thật ra rất chặt chẽ, tập trung.

    – Đặc sắc trong xây dựng nhân vật : Nhân vật lão Hạc không hành động nhiều, nhưng đã gây ấn tượng thật sâu đậm trong lòng người đọc. Đáng chú ý là việc thể hiện tính cách nhân vật lão Hạc của tác giả không hề đơn giản, phiến diện. Bề ngoài, lão Hạc cồ chút gì như lẩm cẩm, gàn dở, thậm chí như trái tính, mà kì thực đó là một con người thánh thiện, hết sức cao quý, phải nhìn thấu mới thấy được. Chính tác giả (qua nhân vật “tôi”) đã nhận xét “cái bản tính tốt” của con người thường bị “che lấp mất”, phải cố tìm mà hiểu” những người nông dân nghèo khổ chung quanh để phát hiện ra “cái bản tính tốt” thường bị “che lấp” đó của họ. Cần chú ý phân tích những đoạn cho thấy những nét cao quý tiềm tàng trong tính cách lão Hạc. Chẳng hạn, đoạn lão kể cho ông giáo nghe về việc bắt con chó với giọng vô cùng đau đớn ; đoạn lão trình bày với ông giáo những việc lão sẽ nhờ cậy ông giáo trước khi tự tử…

    – Có thể nhận xét những điểm, những khía cạnh khác về nghệ thuật tác phẩm mà em thấy rất hay. cần chú ý : Lão Hạc thuộc loại truyện ngắn vừa giản dị, hấp dẫn, vừa rất sâu sắc, nhiều dư vị, đọc xong cứ vương vấn suy nghĩ không dứt. Đó chính là dấu hiệu của một tác phẩm có trình độ nghệ thuật cao.

    5. Sau khi lão Hạc mất một thời gian, người con trai trở về làng. Ông giáo đã giạo lại cho anh ta ngôi nhà, mảnh vườn mà người bố tội nghiệp bấy lâu nhờ trông nom, gìn giữ và kể lại quãng đời lão Hạc từ khi anh phẫn chí bỏ làng đi. Em hãy viết một đoạn văn diễn tả tâm trạng của anh con trai lão Hạc ở thời điểm ấy.

    Trả lời:

    Đây là bài tập rèn luyện trí tưởng tượng và năng lực cảm thụ văn học, nhằm phát huy tính chủ động của cá nhân. Có thể viết đoạn văn miêu tả tâm trạng anh con ữai lão Hạc lúc ấy từ hai góc độ :

    – Diễn tả tâm trạng ấy một cách khách quan (người viết ở vị trí người kể, miêu tả). Cách viết này có thể vừa diễn tả nội tâm, cảm xúc vừa miêu tả bộ dạng, hành động của nhân vật anh con trai lão Hạc.

    – Diễn tả bằng dòng độc thoại nội tâm của nhân vật (người viết nhập thân vào nhân vật anh con trai lão Hạc và đứng ra kể, tâm sự). Cách viết này dễ giàu cảm xúc, trữ tình.

    chúng tôi

    Bài tiếp theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ
  • Soạn Bài Hịch Tướng Sĩ (Ngắn Gọn)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Hịch Tướng Sĩ
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Các Phương Châm Hội Thoại (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài Lão Hạc (Chi Tiết)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lão Hạc Siêu Ngắn
  • Bài Văn Mẫu Lớp 8 Số 7 Đề 1: Tuổi Trẻ Là Tương Lai Của Đất Nước
  • Soạn Bài Chiếu Dời Đô (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Chiếu Dời Dô Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Chiếu Dời Đô
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 50 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Em hiểu thế nào về nguyên nhân cái chết của lão Hạc. Qua những điều lão Hạc thu xếp, nhờ cậy ông giáo rồi sau đó mới tìm đến cái chết, em suy nghĩ gì về tình cảnh và tính cách lão Hạc. Lời giải chi tiết:

    – Lão Hạc rất nghèo, lại già yếu, ốm đau, không thể làm thuê để kiếm ăn được nữa. Tuy có mảnh vườn và dành dụm được món tiền nhỏ từ việc bòn vườn nhưng lão quyết định dành cả cho đứa con trai, lão chỉ ăn củ khoai, chuối, … sống qua ngày.

    – Trong hoàn cảnh ấy lão quyết định tự tử, một quyết định âm thầm và quyết liệt. Trước khi tự tự lão đã nhờ cậy ông giáo đứng tên trông nom mảnh vườn để không ai tơ tưởng, nhòm ngó, sau sẽ trao lại cho con trai,… Vậy là lão Hạc chết để bảo vệ mảnh vườn cho anh con trai mà lão tin sớm sẽ trở về. Đó là sự hi sinh cảm động của người cha.

    – Vì rất tự trọng, lão dù có chết đói cũng không chịu nhận sự giúp đỡ của bất cứ ai. Khi quyết định tự tử, cũng với lòng tự trọng rất cao và nhân cách hết sức trong sạch, lão không muốn phải phiền lụy hàng xóm nên đã gửi ông giáo tiền làm ma chay sau khi ông chết.

    ⟹ Qua quyết định tự tử để rồi chết một cách đau đớn, có thể thấy những phẩm chất cao đẹp của lão: yêu thương con hết mực, lòng tự trọng hiếm có, thể hiện ý thức nhân phẩm cao.

    Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 50 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Em thấy thái độ, tình cảm của “ông giáo” đối với lão Hạc như thế nào? Lời giải chi tiết:

    – Khi nghe chuyện lão Hạc muốn bán chó thì dửng dưng, thờ ơ

    – Khi lão Hạc khóc vì bán chó thì cảm thông, chia sẻ “muốn ôm choàng lấy lão mà khóc”, muốn giúp đỡ

    – Khi nghe Binh Tư kể lão Hạc xin bả chó: nghi ngờ, thoáng buồn

    – Khi chứng kiến cái chết của lão Hạc thì kính trọng nhân cách, tấm lòng của con người bình dị

    ⟹ “Ông giáo” trở thành người bạn tâm giao của lão Hạc, ông hiểu sâu sắc và đồng cảm, kính trọng lão Hạc

    Câu 6 Trả lời câu 6 (trang 50 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1): Sau khi vợ nhận xét không hay về lão Hạc, ông giáo suy nghĩ: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố gắng mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bí Ổi… toàn những cái cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương: không bao giờ ta thương…”. Lời giải chi tiết:

    – Đây là phát hiện sâu sắc mang tính triết lý:

    + Phải thực sự am hiểu, trân trọng con người, khám phá những nét tốt đẹp của con người.

    + Con người chỉ bị những đau khổ che lấp đi bản tính tốt đẹp, cần phải “cố tìm hiểu”

    + Cần phải đặt mình vào hoàn cảnh và vị trí của người khác để hiểu, cảm thông và chấp nhận họ

    – Là cách ứng xử nhân hậu, tình nghĩa xuất phát từ tinh thần yêu thương con người.

    Tóm tắt

    Lão Hạc là một nông dân nghèo, vợ mất sớm, con trai không có tiền lấy vợ nên quẫn trí bỏ đi làm đồn điền cao su. Lão sống cô độc, nghèo khổ với một chú chó tên là cậu Vàng làm bạn. Sau một trận ốm, lão không đủ sức làm thuê như trước, quá cùng đường, lão ra quyết định đau đớn là bán cậu Vàng. Rồi lão đem tiền và mảnh vườn để lo trước tiền ma chay gửi ông giáo – người trí thức nghèo hay sang nhà lão. Lão nói dối Binh Tư làm nghề trộm chó rằng xin bả chó bắt con chó hay vào vườn nhưng thực ra là tự kết liễu đời mình. Và lão Hạc đã chết trong dữ dội, trong quằn quại, không ai hiểu nguyên nhân ngoại trừ Binh Tư và ông giáo.

    Bố cục Bố cục: 3 phần

    – Phần 1 (từ đầu … “nó thế này ông giáo ạ”): Sự day dứt, dằn vặt của lão Hạc sau khi bán con Vàng.

    – Phần 2 (tiếp … “một thêm đáng buồn”): Lão Hạc gửi gắm tiền bạc, trông nom nhà cửa.

    – Phần 3 (còn lại): Cái chết của lão Hạc.

    ND chính

    Tác phẩm tái hiện số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất tiềm tàng của họ.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sinh Lớp 11 Bài 41: Sinh Sản Vô Tính Ở Thực Vật
  • Giải Bài 5 Trang 96 Sgk Sinh Học Lớp 11
  • Bộ Đề Thi Và Đáp Án Môn Sinh Học 11 Nâng Cao
  • Giải Sinh Lớp 9 Bài 17: Mối Quan Hệ Giữa Gen Và Arn
  • Giải Sinh Lớp 9 Bài 47: Quần Thể Sinh Vật
  • Viết Đoạn Văn Ngắn Cảm Nhận Về Nhân Vật Trong Lòng Mẹ, Tức Nước Vỡ Bờ Và Lão Hạc

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản
  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Bài Bố Cục Của Văn Bản
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản Trang 24 Sgk Ngữ Văn 8, Tập 1
  • Soạn Bài Ôn Dịch Thuốc Lá
  • Cảm Nghĩ Về Bài “ôn Dịch, Thuốc Lá”
  • lão hạc

    Lão Hạc là một nông dân bình thường, phải sống trong áp bức bóc lột của xã hội phong kiến. Vợ mất, con trai vì không cưới được vợ mà phẫn chí đi làm đồn điền cao su. Lão thương con, mong muốn con được hạnh phúc… nhưng lão cũng không biết làm cách nào để chu toàn hạnh phúc cho con, chỉ biết khóc mà nhìn con đi. “Đồn điền cao su đi dễ khó về”. Lão biết chứ, nhưng cũng có thể nào cản được?! Hằng ngày, lão chỉ biết quanh quẩn với con chó Vàng – kỉ vật duy nhất của người con. Lão thương yêu, chăm sóc nó cẩn thận đến mức chia cho nó từng miếng ăn, cho nó ăn vào bát và trò chuyện với nó như người bạn. Lão cưng chiều nó không phải vì nó là một con chó đẹp, cho khôn. Lão thương nó vì nó như mối ràng buộc duy nhất còn sót lại của lão và con trai lão. Lão xem nó như con, và khi lão nhìn nó, lão lại nhớ con trai mình…

    Lão thương con, vâng, và thà rằng dù chết đói lão cũng không muốn bán đi một sào vườn. Lão sợ nếu lão bán, mai này con trai lão có trở về thì nó sẽ ở đâu mà sống? Ở đâu mà lập nghiệp sinh nhai?! Một sự thật hiển nhiên, rằng nếu lão bán đi mảnh vườn thì lão sẽ vượt qua được giai đoạn khốn khó. Nhưng lão không bán! Vì sao? Vì, lão-thương-con.

    …Tuổi già, cô đơn và nghèo đói!…

    Cuộc đời đau khổ dồn ép lão đến bên bờ vực thẳm, không còn cách nào khác, lão đánh phải đứt ruột mà bán đi con chó Vàng lão hằng yêu thương; để rồi khi bán xong, lão lại hu hu khóc như con nít vì đã trót lòng lừa gạt một con chó…

    Rồi lão sang nhà ông Giáo, gửi ông ba mươi đồng bạc và nhà trông coi hộ mảnh vườn. Kể từ sau hôm đó, lão Hạc chỉ ăn khoai. Khi khoai hết thì lão chế được món gì, ăn món ấy; rồi đến chuối, sung luộc, rau má,…

    Dù đói nghèo là vậy, nhưng lão cũng tuyệt không bị tội lỗi cám dỗ. Lão không theo Binh Tư ăn trộm hay cố nương nhờ vào ai để sống. Thử hỏi một người dù chết cũng không muốn làm phiền hàng xóm làm sao dám làm gánh nặng cho ai? Thời đó khổ lắm, lão khổ, láng giềng cũng đâu thua gì… Ông Giáo âm thầm giúp lão, lại bị lão từ chối một cách gần như là “hách dịch” đấy thôi…!

    Rồi … cái gì đến cũng phải đến. Cái chết đến bất ngờ và hơi đột ngột, lão chết trong đau đớn, tủi hờn. Chết vì ăn bả chó! Lão có thể lựa chọn cho mình cái chết nhẹ nhàng hơn, nhưng lão vấn lựa chọn cách chết như một con chó. Là … lão hận mình đã lừa chết “cậu” Vàng sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Sách Bài Tập Tiếng Anh 8 Unit 8: Country Life And City Life
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Hay Nhất
  • Lời Giải 60 Bài Tập Tiếng Việt Lớp 9
  • Giải Vật Lí 9 Bài 6: Bài Tập Vận Dụng Định Luật Ôm
  • Soạn Bài Những Đứa Trẻ (Trích Thời Thơ Ấu)
  • Hướng Soạn Bài Lão Hạc Ngắn Gọn Và Đầy Đủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Luyện Tập Tóm Tắt Tác Phẩm Tự Sự
  • Mùa Xuân Của Tôi
  • Sài Gòn Tôi Yêu
  • Tục Ngữ Về Con Người Và Xã Hội
  • 5 App Ứng Dụng Giải Bài Tập Vật Lý Tốt Nhất Hiện Nay
  • I. Tìm hiểu chung để soạn bài Lão Hạc

    1. Tác giả

    –  Nam Cao (1917 – 1951), ông sinh ra ở tỉnh Hà Nam.

    Nhà văn Nam Cao

    – Ông là cái tên xuất chúng trong nền văn học nước nhà giai đoạn 1930 – 1945 và còn đảm nhiệm vai trò là một nhà báo, một chiến sĩ anh

    2. Tác phẩm

    – Những tác phẩm ông từng sáng tác thường gắn liền với hình ảnh người nông dân Việt Nam trong thời kỳ trước và sau cách mạng tháng Tám.

    -  Truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong số những tác phẩm xuất sắc của nhà văn, để lại nhiều dấu ấn và được chuyển thể thành nhiều loại hình nghệ thuật như kịch, phim,… Tác phẩm viết lên nỗi cùng cực của người nông dân lam lũ và qua đó tố cáo tội ác tàn bạo của chế độ xã hội cũ.

    3. Tóm tắt sơ lược để soạn văn bài Lão Hạc

       Lão Hạc vốn là một người nông dân nghèo, vợ đã mất sớm, đứa con trai duy nhất của ông  không có tiền lấy vợ nên bỏ đi làm ở đồn điền cao su. Lão cứ sống thế một mình trong nghèo khổ, cô độc chỉ với một chú chó tên cậu Vàng để bầu bạn. Sau trận ốm nặng, lão đã không còn đủ sức đi làm thuê, làm mướn như trước được nữa. Cuối cùng, lão ra quyết định bán cậu Vàng. Sau đó lão đem tiền và mảnh vườn chay gửi ông giáo lo ma chay – một người trí thức nghèo hay sang nhà lão. Lão nói dối Binh Tư xin bả chó rồi tự kết liễu đời mình. Và cuối cùng lão Hạc đã chết trong cơn quằn quại, dữ dội, không ai hiểu nguyên nhân chuyện gì chỉ ngoại trừ Binh Tư và ông giáo.

    4.

    Bố cục

    – Phần 1 (từ đầu đến “một thêm đáng buồn’): câu chuyện bán chó của lão Hạc, sự day dứt, hụt hẫng và cuộc sống về sau của lão.

    – Phần 2 ( “Không! Cuộc đời” đến hết): cái chết tức tưởi của lão Hạc.

     II. Hướng dẫn soạn bài Lão Hạc

    chi tiết

    Câu 1 (trang 48 sgk Ngữ văn 8 Tập 1):

    Qua soạn bài Lão Hạc thấy được diễn biến về tâm trạng của lão Hạc quanh quyết định bán chó:

       - Mối quan hệ: cậu Vàng ấy không chỉ là kỉ niệm, mà còn là tín vật mà người con để lại cho lão, và là người bạn trung thành làm cuộc sống của lão bớt cô đơn, quạnh hiu.

       - Lão đau khổ, dày xé bản thân tột độ khi cùng đường phải bán cậu Vàng: “Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậc nước…Lão hu hu khóc”, lão đau đớn xé lòng, nghẹn ngào tội lỗi vì “đã trót đánh lừa một con chó”. Lão thương cho cậu Vàng và thương cả kiếp người khốn khó của mình.

       → Người nông dân dù nghèo khổ, cùng cực nhưng mang trái tim vô cùng nhân hậu, trong sạch, thiện lương

    Câu 2 (trang 48 sgk Ngữ văn 8 Tập 1):

       - Nguyên nhân cái chết: tuyệt vọng sau trận ốm, túng quẫn làm liều, bán đi cậu Vàng cũng là khi lão mất đi người bạn thân thiết bên cạnh, cảm giác tội lỗi bủa vây vì trót lừa một con chó vô tội. Lão chết vì lòng tự trọng của lão, vì tình thương và vì quá đỗi thiện lương.

       - Trước khi tìm đến cái chết, lão Hạc nhờ ông giáo giữ vườn cho tới khi con trai về, giữ tiền mà lão có để lo tiền ma chay.

    Nhân vật Lão Hạc trong truyện

    → Tình cảnh éo le, đáng thương nhưng lão không muốn liên lụy bất cứ ai. Một con người có lòng tự trọng cao, tinh tế, hiền hậu, hiểu đời, hiểu người nhưng lại bất lực vì hoàn cảnh. Là người cha vô cùng thương con, sống giàu tình cảm, tấm lòng lương thiện.

    Câu 3 (trang 48 sgk Ngữ văn 8 Tập 1):

    Soạn văn bài Lão Hạc để thấy thái độ, tình cảm nhân vật “tôi” với lão Hạc có sự thay đổi:

       Lúc đầu dửng dưng và thờ ơ khi nghe câu chuyện bán chó. Sau khi thấu hiểu sự tình đã an ủi, động viên lão. Chứng kiến cái chết đầy đau thương của lão Hạc, nhân vật “tôi” cảm động vô cùng, thấy kính trọng hơn nhân cách và tấm lòng của lão. Ông giáo là người biết thấu hiểu, đồng cảm và giàu lòng trắc ẩn.

    Câu 4 (trang 48 sgk Ngữ văn 8 Tập 1):

       Khi mới nghe Binh Tư kể, ông giáo thấy buồn và thất vọng vì sự tha hóa nhân cách con người, lầm tưởng lão Hạc đã thật sự đánh mất đi lòng lương thiện bấy lâu nay lão có.

    Lão Hạc thương cậu Vàng vô cùng

       Chứng kiến cái chết thương tâm trong âm thầm của lão Hạc, ông giáo thấy “cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn” vì hy vọng, vì niềm tin vào xã hội vẫn còn khi thật sự còn đó những con người vẫn giữ trong mình bản chất lương thiện. Nhưng “lại đáng buồn theo một nghĩa khác”. Nhưng cuộc đời vẫn đáng buồn vì còn đó rất nhiều số phận hẩm hiu, số kiếp bất hạnh của những con người sống lương thiện, buồn cho một sự lựa chọn kết liễu cuộc đời trong đau đớn dữ dội mà lão Hạc phải chịu.

    Câu 5 (trang 48 sgk Ngữ văn 8 Tập 1):

       - Cái hay và thú vị của truyện nằm ở việc mô tả tâm lí nhân vật tinh tế và cách kể cuốn hút.

       - Tình huống truyện đầy bất ngờ, gỡ rối và làm sáng tỏ nhân cách lão Hạc cho người đọc.

       - Xây dựng nhân vật sinh động, chân thực từ ngoại hình cho đến nội tâm.

       - Ngôi kể thứ nhất được dẫn dắt đầy linh hoạt, góp phần tạo sự gần gũi chân thực. Nhân vật “tôi” là người kể nhưng như nhập vào vai lão Hạc, nên diễn tả mọi cảm xúc đều rất chân thật, sâu sắc.

    Câu 6* (trang 48 sgk Ngữ văn 8 Tập 1):

    Ý nghĩa tác phẩm sau khi soạn văn bài Lão Hạc

       - Ý nghĩ được thể hiện qua nhân vật “tôi” đậm tính triết lí về con người và cuộc đời.

       - Ngoài ra còn thể hiện tình thương, tấm lòng của tác giả với con người.

    Câu 7* (trang 48 sgk Ngữ văn 8 Tập 1):

    Đoạn trích Tức nước vỡ bờ và truyện ngắn Lão Hạc cho thấy:

       - Cuộc sống, số phận người nông dân trong xã hội cũ: bất hạnh, nghèo khổ, bị đè nén, áp bức trong một xã hội không lối thoát.

       - Phẩm chất đáng quý, đáng trân trọng: lương thiện, hiền lành, giàu tình thương yêu, không bị cuộc sống làm biến chất.

    III.

    Tổng kết soạn bài Lão Hạc

    1. Gía trị nghệ thuật

    -              Ngôi kể thứ nhất mới mẻ, chân thật, gần gũi.

    -              Tình tiết truyện logic, cuốn hút.

    2. Giá trị nội dung

    Ca ngợi phẩm chất cao đẹp của người nông dân với tấm lòng thiện lương và nhân cách không bị biến chất dưới một xã hội phong kiến nhiều bất công, áp bức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Tổng Kết Phần Văn Học
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Viết Bài Tập Làm Văn Số 7
  • Tìm Giải Bài Tập Mai Lan Hương Lớp 8 Unit 6 Mai Lan Hương, Bài Tập Tiếng Anh 8
  • Giải Bài Tập Tiếng Anh Lớp 7 Mai Lan Hương
  • Giải Bài Tập Tiếng Anh 9 Mai Lan Hương
  • Dàn Ý Đóng Vai Người Chứng Kiến Kể Lại Chuyện Lão Hạc Kể Chuyện Bán Chó Với Ông Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Ánh Trăng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Bài Kiểm Tra Phần Tiếng Việt (Lớp 9
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Mưa (Trần Đăng Khoa)
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6: Lượm
  • Soạn Bài: Lượm (Ngắn Nhất)
  • Dàn ý đóng vai người chứng kiến kể lại chuyện Lão Hạc kể chuyện bán chó với ông Giáo – Bài mẫu 1

    I/ Mở bài:

    Ngôi kể thứ I (tôi) có mặt trong câu chuyện như người thứ 3 ngoài lão Hạc với ông giáo (phân biệt với người kể ở trong truyện của Nam Cao chính là ông giáo)

    Giới thiệu hoàn cảnh lão Hạc sang nhà ông giáo để kể chuyện bán chó. Ở đó có ông giáo và người kể.

    II/ Thân bài:

    – Kể: Lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo:

    Lão Hạc báo tin bán chó

    Lão Hạc kể lại chuyện bán chó

    Miêu tả: Nét mặt đau khổ của lão Hạc

    Biểu cảm: Nỗi ân hận của lão Hạc về việc bán chó và thái độ của ông giáo.

    Lão Hạc: Chua chát kết thúc việc bán chó.

    – Biểu cảm:

    Nêu những suy nghĩ của bản thân với câu chuyện

    Nêu những suy nghĩ về các nhân vật ở trong đó (về ông giáo và lão Hạc)

    III/ Kết bài:

    Nhắc lại sự việc bán chó. Đặc biệt là khi sự việc kết thúc. Nhận định, đánh giá chung về sự việc đó. Trở lại hoàn cảnh thực tại của mình.

    Dàn ý đóng vai người chứng kiến kể lại chuyện Lão Hạc kể chuyện bán chó với ông Giáo – Bài mẫu 2

    I. Mở bài: Giới thiệu hoàn cảnh của lão Hạc và câu chuyện bắt đầu kể.

    II. Thân bài: 1. Dẫn dắt câu chuyện.

    – Thời gian và không gian chứng kiến câu chuyện bán chó.

    – Giới thiệu tóm tắt về gia cảnh của lão: Nhà nghèo, vợ chết sớm, có một con trai, một con chó và một mảnh vườn. Vì lão Hạc không chấp nhận cho cậu con trai bán vườn để cưới vợ nên cậu con trai đã bỏ vào đồn điền cao su làm thuê. Cuộc sống cực khổ của lão và con chó Vàng bắt đầu từ đây.

    2. Kể lại việc lão Hạc bán chó.

    – Nét mặt của lão: Thể hiện rõ trong lúc kể: Lão cố làm ra vẻ vui vẻ, nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc.

    – Nỗi ray rứt: Lão Hạc rất ân hận khi cố lừa một con chó, thái độ này được biểu hiện qua thái độ trách móc.

    – Nhờ ông giáo giữ hộ tiền đề phòng bất trắc, tránh làm phiền hàng xóm.

    3. Thái độ của ông giáo.

    – Chia sẻ, an ủi lão Hạc: Việc nuôi chó và bán chó là việc bình thường, có khi lại là hóa kiếp cho nó.

    – Đồng cảm với tâm trạng ray rứt của lão Hạc, muốn xoa dịu nỗi đau về thân phận khốn khổ của một kiếp người bằng cách gợi sự liên tưởng đến thân phận của người trí thức nghèo trong xã hội cũ.

    – Tạo niềm lạc quan cho người bạn già và cả chính mình bằng cách pha trò tiếp đãi đạm bạc: Ăn khoai, uống chè, hút thuốc lào.

    – Hiểu nhân cách cao đẹp của lão bằng tấm lòng tri âm, tri kỉ, luôn tìm cách giúp lão vượt lên nỗi đau của thân phận để tồn tại.

    4. Suy nghĩ của bản thân: (Liên hệ bản thân)

    Kết bài: Khái quát lại cảm xúc khi được chứng kiến cuộc trò chuyện.

    Dàn ý đóng vai người chứng kiến kể lại chuyện Lão Hạc kể chuyện bán chó với ông Giáo – Bài mẫu 3

    I. Mở bài: Giới thiệu khái quát nội dung câu chuyện bán chó được nghe.

    II. Thân bài: 1/ Kể lại diễn biến câu chuyện được nghe:

    – Thời gian không gian được chứng kiến câu chuyện.

    – Giới thiệu tóm tắt hoàn cảnh của lão Hạc: Rất nghèo, sống cô độc, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo, không lấy được vợ đã phẫn chí bỏ làng đi xa. Lão ở nhà chờ con về, làm thuê để sống. Dù đói, lão quyết không bán đi mảnh vườn và ăn vào tiền dành dụm do “bòn vườn”, lão giữ cả lại cho con trai. Nhưng một trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê nữa. Thế là lão Hạc đi đến một quyết định quan trọng.

    2/ Nội dung câu chuyện: Kể việc lão Hạc kể việc bán chó:

    – Nét mặt của lão Hạc: Sự đau khổ dằn vặt trong lúc kể việc bán chó: Lão cố làm ra vẻ vui vẻ, nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc”.

    – Nỗi ray rứt ân hận của lão Hạc trước thái độ trách móc của con chó mà lão cảm nhận được.

    – Việc lão nhờ ông giáo giữ hộ tiền để lo liệu khi lão chết, tránh làm phiền hàng xóm.

    3/ Thái độ và ý kiến của ông giáo:

    – Ân cần hỏi han, sẻ chia, an ủi: Việc nuôi chó bán chó là điều bình thường, có khi lại là việc hóa kiếp cho nó.

    – Đồng cảm với tâm trạng ray rứt của lão Hạc, muốn xoa dịu nỗi đau về thân phận khốn khổ của một kiếp người bằng cách gợi sự liên tưởng đến thân phận của người trí thức nghèo trong xã hội cũ.

    – Tạo niềm lạc quan cho người bạn già và cả chính mình bằng cách pha trò tiếp đãi đạm bạc: Ăn khoai, uống chè, hút thuốc lào.

    – Hiểu nhân cách cao đẹp của lão bằng tấm lòng tri âm, tri kỉ, luôn tìm cách giúp lão vượt lên nỗi đau của thân phận để tồn tại.

    4/ Suy nghĩ của bản thân: (Liên hệ bản thân)

    III. Kết bài: Khái quát lại cảm xúc khi được chứng kiến cuộc trò chuyện.

    Đóng vai người chứng kiến kể lại chuyện Lão Hạc kể chuyện bán chó với ông Giáo – Bài mẫu

    Năm nay tôi đã ngoài bảy mươi tuổi, nhưng mỗi lần nghe đứa cháu nội hỏi về chuyện xưa khi minh còn nhỏ được chứng kiến ngày giặc Pháp đô hộ và câu chuyện Lão Hạc trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 cháu học là có thật không, thì lòng tôi lại trào lên bao cảm xúc với kỷ niệm về người hàng xóm già. Đó chính là nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn của Nam Cao. Ký ức sâu đậm về lần ông lão kể chuyện bán chó cho thầy Thứ của tôi cứ hiện lên mồn một.

    Ngày ấy tôi mới lên mười, xã hội hỗn loạn, nay thấy đánh nhau chỗ này, mai thấy Tây đi càn chỗ kia. Thầy giáo Thứ đang dậy chúng tôi lớp đệ nhị ở trường làng bên, phải cho đám trò nghỉ. Tôi không biết vì sao, chỉ thấy người ta láo pháo đồn rằng thầy tôi ghét Tây, ngán cảnh chúng dòm ngó trường lớp nên cho chúng tôi nghỉ.

    Ngày ngày thầy vẫn sang nhà lão Hạc trò chuyện với ông cụ. Tôi ở gần hay sang qua lại cùng thầy lúc giúp lão dọn nhà, lúc đùa nghịch với con chó Vàng. Không ngờ những chuyện thật về lão Hạc lại được thầy giáo tôi viết thành câu chuyện cảm động đến thế. Cái cảnh lão Hạc kể với thầy tôi về chuyện bán chó là lúc tôi chứng kiến tất cả.

    Chả là hôm ấy, tôi đang giúp thầy nhặt đống khoai và lân la hỏi thầy về mấy chữ Hán khó hiểu. Thầy đang giảng cho tôi thì thấy lão Hạc tiến vào. Cái dáng điệu gầy gò của lão, hôm nay trông buồn thảm quá. Vừa nhìn thấy thầy Thứ, lão đã báo ngay:

    – Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!

    – Cụ bán rồi?

    – Bán rồi! Họ vừa bắt xong.

    Lão Hạc cố làm ra vẻ vui vẻ nhưng tôi thấy lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậng nước. Thầy tôi chắc cũng ái ngại cho lão nên chỉ ôm đôi bờ vai lão vỗ nhẹ như đồng cảm. Tôi thấy đôi mắt của thầy Thứ cũng như muốn khóc. Thầy hỏi lão Hạc:

    – Thế nó cho bắt à?

    Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những nếp nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…

    – Khốn nạn… Ông giáo ơi!… Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy, hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục và thằng Xiên, hai thằng chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bây giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết!… Này! ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ nằm im như trách tôi, nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo rằng “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão đối xử với tôi như thế này à?”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!

    Thầy Thứ lại an ủi lão:

    – Cụ cứ tưởng thế chứ nó chẳng hiểu gì đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt! Ta giết nó chính là ta hoá kiếp cho nó đấy. Hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác.

    Lão Hạc chua chát bảo:

    – Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra nó sung sướng hơn một chút… Kiếp người như tôi chẳng hạn!…

    Câu nói của lão làm tôi bùi ngùi, thầy Thứ hạ giọng:

    – Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?

    – Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?

    Lão cười và ho sòng sọc. Thầy tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:

    – Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây giờ cụ ngồi xuống phản chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu môt ấm nước chè tươi thật đặc, ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… thế là sung sướng.

    – Vâng! Ông lão dậy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng

    Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại, thấy vậy tôi tê tái đứng lên:

    – Nói đùa thế chứ ông giáo cho để khi khác… Lão Hạc ngần ngại.

    – Việc gì còn phải chờ khi khác… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại, cụ cứ ngồi xuống đây.

    Tôi đi luộc khoai. Thầy Thứ và lão Hạc ngồi nói chuyện lâu lắm, thầy tôi là người nhiều chữ nghĩa, hiểu biết và thương người nên có chuyện gì lão Hạc cũng tâm sự và sẻ chia.

    Vừa luộc khoai, tôi vừa nghĩ về lão Hạc nhiều lắm. Tôi thương lão, con người già cả cô đơn nhưng ai cũng quý lão bởi lão sống lương thiện và nhân hậu. Tôi biết lão quý con Vàng của mình lắm vì nó là kỷ vật của anh con trai lão để lại mà. Tôi hiểu vì bần cùng lão mới làm như vậy.

    Đã 60 năm, đất nước đổi thay chế độ, lão Hạc không còn, cuộc sống của người nông dân ngày nay đã khác. Nhưng hình ảnh lão Hạc đau đớn vì bán con chó cứ ám ảnh tôi mãi. Đó là kỷ niệm một thời khổ đau của đất nước mà người nông dân phải chịu nhiều cơ cực nhất. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó tôi hiểu hơn về họ, về tình yêu thương chia sẻ của người thầy giáo tôi với những con người khốn khổ, về nhân cách và vẻ đẹp của người nông dân.

    Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Đóng vai người chứng kiến kể lại chuyện Lão Hạc kể chuyện bán chó với ông Giáo tiêu biểu được tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Tập Làm Văn: Kể Chuyện (Kiểm Tra Viết)
  • Tiếng Việt Lớp 5 Tập Làm Văn: Ôn Tập Văn Kể Chuyện
  • Tập Làm Văn Lớp 4: Ôn Tập Văn Kể Chuyện
  • Tập Làm Văn Lớp 4: Thế Nào Là Kể Chuyện
  • Tập Làm Văn Lớp 4: Kết Bài Trong Bài Văn Kể Chuyện
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×