Top 3 # Soạn Văn 10 Ca Dao Hài Hước Lời Giải Hay Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Caffebenevietnam.com

Soạn Văn 10: Ca Dao Hài Hước

Soạn văn 10 tập 1: Ca dao hài hước. Câu 3: Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

Có thể sắp xếp bốn bài ca dao thành 2 nhóm:

– Nhóm tiếng cười tự trào: bài số 1.

– Nhóm tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2, 3, 4.

Câu 1:

a. Cưới xin hôn lễ là một chuyện vô cùng hệ trọng và có ý nghĩa đối với cuộc đời của mỗi con người. Nó thường được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận. Thế nhưng việc dẫn cưới và thách cưới ở đây đều rất khác thường. Thực ra nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động.

– Lời của chàng trai: Để cưới nàng, chàng trai đã có những dự định thật to tát. Chàng muốn có một đám cưới linh đình nhưng vì những lí do khách quan nên những dự định của chàng không thực hiện.

Khôn phải là chàng không muốn làm cho nhà gái nở mày nở mặt bằng một lễ vật sang trọng mà là vì chàng lo lắng, quan tâm tới sức khỏe của họ. Cuối cùng, chàng quyết định:

“Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng”

Lí lẽ của chàng trai thật thông minh, cũng thật hóm hỉnh, đáng yêu.

Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cưới mà lại thách “một nhà khoai lang” thì dễ đấy nhưng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu “hoàn cảnh” của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau thôi. Và như thế đám cưới chỉ cần một “nhà khoai lang” là cũng quá đủ rồi.

Qua lời thách cưới và lời dẫn cưới, chúng ta có thể thấy ở đây người nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng cời ấy hướng vào chính họ nhưng cũng là để cho họ quên đi cảnh khổ mà lạc quan yêu đời và ham sống hơn.

b. Bài ca dao có giọng hài hước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật:

– Lối nói khoa trương phóng đại: dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang…

– Lối nói giảm dần:

– Cách nói đối lập, phủ định:

● dẫn voi/ sợ quốc cấm

● dẫn trâu/ sợ họ máu hàn

● dẫn bò/ sợ họ co gân

● dẫn lợn gà/ khoai lang

– Chi tiết hài hước, giàu liên tưởng:

– Chi tiết hài hước, giàu liên tưởng:

“Miễn là có thú bốn chân Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng” Câu 2:

So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biến, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân.

– Bài 2. Chế giễu loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai. Bài ca dao sử dụng biện pháp khoa trương, phóng đại cùng với thủ pháp đối lập đã tạo nên một tiếng cười hài hước, châm biếm. Tính hài hước là ở chỗ, bài ca dao xây dựng hình ảnh một chàng trai đang cố gắng hết sức (khom lưng chống gối) chỉ để “gánh hai hạt vừng”.

– Bài 3. Chế giễu loại đàn ông lười nhác. Không có chí lớn. Bài ca dao sử dụng biện pháp so sánh, nêu lên sự đối lập giữa “chồng người” với “chồng em”, làm cho người đàn ông được so sánh hiện lên buồn cười và thảm hại vô cùng. Hình ảnh người đàn ông “ngồi bếp sờ đuôi con mèo” là tiêu biểu cho loại đàn ông lười nhác, chỉ biết ngồi ở xó nhà, ăn bám vợ.

– Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

Câu 3:

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

● Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

● Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

● Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

● Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

LUYỆN TẬP Câu 1:

Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca)

Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn.

Sachbaitap.com

Bài tiếp theo

Soạn Văn 10 Bài: Ca Dao Hài Hước

Soạn văn 10 bài: Ca dao hài hước

Soạn văn lớp 10 ngắn gọn

VnDoc mời bạn đọc tham khảo , với nội dung bài soạn ngắn gọn và chi tiết sẽ giúp các bạn học sinh lớp 10 học tốt hơn môn Ngữ văn 10. Mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo.

Soạn văn lớp 10 Ca dao hài hước

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 1:

– Việc thách cưới và dẫn cưới ở đây rất đặc biệt:

+ Việc dẫn cưới: Chàng trai có những dự định lớn: muốn có một hôn lễ linh đình nhưng vì những lí do khách quan mà không thể thực hiện được: dẫn voi thì sợ quốc cấm, dẫn trau sợ họ máu hàn, dẫn bò sợ họ co gân nên chàng trai quyết định “Dẫn con chuột béo mời dân mời làng”. Lí lẽ này thật thông minh, hóm hỉnh.

+ Việc thách cưới: cô gái thách cưới chàng trai một “nhà khoai lang” nghe có vẻ là dễ nhưng cô gái hiểu rõ hoàn cảnh của chàng trai không thể đáp ứng nên chỉ cần một nhà khoai lang thôi cũng đủ rồi.

– Qua việc thách cưới và dẫn cưới ấy, người nông dân tự cười chính cảnh nghèo của mình. Họ không mặc cảm mà còn bằng lòng, chấp nhận cái nghèo từ đó ta càng khâm phục hơn nhân cách và quan niệm sống của họ.

– Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dí dỏm là nhờ các yếu tố nghệ thuật:

+ Lối nói khoa trương, phóng đại: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò,…

+ Lối nói giảm dần:

+ Cách nói đối lập:

* Dẫn voi/ sợ quốc cấm

* Dẫn trâu/ sợ họ máu hàn

* Dẫn bò/ sợ họ co gân

* Lợn gà/ khoai lang

Câu 2 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 2, 3, 4

Không giống bài ca dao đầu tiên, bài 2, 3, 4 là tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội, phê phán nội bộ nhân dân, nhằm nhắc nhở con người ta tránh những thói hư, tật xấu.

– Bài 2: Tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật phóng đại cùng thủ pháp đối lập nhằm châm biếm những người đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không đáng nên trai. Họ yếu đuối đến mức chỉ gánh được “hai hạt vừng”.

– Bài 3: Tác giả dân gian đã mượn lời than thở của người vợ để làm nổi bật, phê phán, lên án sự lười nhác, thảm hại của ông chồng vô tích sự chỉ biết ” ngồi bếp sờ đuôi con mèo”.

– Bài 4: Với nghệ thuật phóng đại tài tình, tác giả dân gian đã mang đến tiếng cười, châm biếm nhẹ nhàng với loại phụ nữ đỏng đảnh vô duyên. Bên cạnh đó, nhân dân vẫn nhẹ nhàng chê thứ tình yêu mù quáng, không biết sửa chữa khiếm khuyết cho nhau “chồng yêu chồng bảo…”

Câu 3 (trang 91 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Những biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong ca dao hài hước:

– Hư cấu dựng cảnh tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao

– Cường điệu, phóng đại, tương phản đối lập

– Dùng ngôn ngữ đời thường mà hàm ý sâu sắc.

Luyện tập

Câu 1 (trang 92 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Lời thách cưới của cô gái là một cách ứng xử khéo léo, thông minh. Lời thách cưới ấy không những không thể hiện sự mặc cảm về cảnh nghèo khó của nhà chàng trai mà còn tỏ ra vui vẻ, bằng lòng với cuộc sống ấy. Dù cho lời của cô gái chỉ là lời đối trong ca dao, nhưng qua đó ta thấy được vẻ đẹp của tình yêu trong sáng, không ngại khó, ngại khổ của người phụ nữ Việt, thấy được tình cảm tha thiết vượt lên vật chất của đôi nam nữ.

Câu 2 (trang 92 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Các câu ca dao phê phán những thói hư tật xấu:

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc bài ca 1 và trả lời các câu hỏi: – Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo. – Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dỉ dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật nào? Lời giải chi tiết:

– Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái. Cả hai đều nói đùa, nói vui. Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sông con người. Trong cuộc sống trai gái lấy nhau, hai gia đình ưng thuận thường có chuyện thách và dẫn cưới. Trong bài ca này cả dẫn và thách cưới có cái gì không bình thường.

– Bên dẫn cưới (nhà trai) đem đến “một con chuột béo” miễn là có thú bốn chân”; còn nhà gái lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.

– Trong bài ca dao này, cả chàng trai và cô gái đều tập trung trào lộng cảnh nghèo của nhà mình. Tiếng cười tự trào có phần chua chát, nhưng vui vẻ, hài hước, rất hóm hỉnh, thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sống của người lao động.

– Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá, tương phản để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.

+ Lối nói khoa trương, phóng đại.

Dẫn cưới: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò

+ Lối nói giảm dần:

● Voi ⟶ trâu ⟶ bò

● Củ to ⟶ củ nhỏ ⟶ củ mẻ ⟶ củ rím, củ hà

+ Lối nói đối lập: đối lập giữa mơ ước với thực tế: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò đối lập với dẫn bò.

Câu 2 Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc các bài ca số 2, 3, 4 có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao. Lời giải chi tiết:

– So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biếm, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân.

Bài 1. Là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười không phải là chính mình.

Bài 2.

– Đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai.

Thủ pháp nghệ thuật của bài ca này là sự kết hợp giữa đối lập và cách nói ngoa dụ.

+ Đối lập hay còn gọi là tương phản “làm trai”, “sức trai” xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan” hoặc “làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam”. Ở đây đối lập với “làm trai” và “sức trai” là “Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng”.

+ Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện tượng châm biếm “khom lưng chống gối” ấy như thế nào mọi người đã rõ.

Bài 3.

– Đối tượng châm biếm là đức ông chồng vô tích sự, lười nhác, không có chí lớn.

– Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết “ngồi bếp” để “sờ đuôi con mèo”. Tác giả dân gian đã tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ. Có thể tìm thấy một số bài ca dao có nội dung tương tự:

Chồng người lội suối trèo đèo

Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm

Bài 4.

– Bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

Câu 3 Câu 3 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước. Lời giải chi tiết:

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

– Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

– Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

– Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

– Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

Luyện tập Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”, từ đó cho biết tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu và đáng trân trọng ở chỗ nào? Trả lời:

– Thách cưới là yêu cầu của nhà gái đối với nhà trai về tiền cưới và lễ vật. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” có thể gợi cho em một nụ cười cảm thương, vừa hài hước vừa chua chát buồn thương cho sự nghèo khó của gia đình cô gái, nhưng cũng rất trân trọng vì sự thông minh, hóm hỉnh trong cách nói hài hước của cô.

– Tiếng cười tự trào của người lao động rất đáng yêu và đáng trân trọng, bởi nó thể hiện sự lạc quan, đồng thời biểu hiện sự thông minh, sắc xảo, hóm hỉnh của những tiếng cười.

– Tiếng cười cũng bật lên nhưng có gì như chia sẻ với cuộc sống còn khốn khó của người lao động. Đằng sau tiếng cười ấy là phê phán thách cưới nặng nề của người xưa.

Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Sưu tầm những bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà vặt, nghiện ngập rượu chè; tệ nạn tảo hôn,… Trả lời: “Cái cò là cái cò kì Ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô Đêm nằm thì gáy o o Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà” “Bói cho một quẻ trong nhà Con heo bốn cẳng, con gà hai chân” ND chính

Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, những tiếng cười đặc sắc trong ca dao – tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tư cười mình) và tiếng cười châm biếm, phê phán – thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan của người bình dân.

chúng tôi

Soạn Bài Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình

Soạn bài Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Câu 2 (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1): Phân tích Bài 1 :

– Tình cảm muốn diễn tả : tình cảm cha mẹ với con cái, nhắn nhủ con phải ghi nhớ công lao trời biển của cha mẹ.

– Cái hay : phép so sánh (công cha – núi ngất trời; nghĩa mẹ – nước biển Đông), đối xứng (cha-mẹ; núi-biển), thể lục bát dân gian, âm điệu sâu lắng đi vào lòng người.

– Một số câu ca dao tương tự :

+ ” Lên non mới biết non cao

Nuôi on mới biết công lao mẫu tử”

+ ” Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

+ ” Nuôi con mẹ héo vóc hình

Cạn bầu sữa ngọt mà tình không vơi”

Câu 3 (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1): Phân tích Bài 2 – Tâm trạng người phụ nữ lấy chồng xa quê :

– Thời gian : ” chiều chiều” – từ láy gợi buồn và thời gian tuần hoàn, lặp lại.

– Không gian : ” ngõ sau ” – vắng lặng, không gian rộng, gợi sự cô đơn.

– Hành động : ” đứng ” – sự hướng vọng, không yên lòng.

– Nỗi niềm : ” ruột đau chín chiều ” – “chín bề”, nhiều bề : nỗi cô đơn làm dâu xứ lạ, nhớ thương cha mẹ, tê tái, đau buồn không giúp đỡ được cha mẹ.

Câu 4 (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1): Phân tích Bài 3 – nỗi nhớ và sự yêu kính với ông bà :

– ” Ngó lên ” : thể hiện sự tôn kính.

– Hình ảnh ” nuộc lạt ” : có hai ý nghĩa là “rất nhiều” và “tình cảm gắn bó”.

– Cặp từ so sánh ” Bao nhiêu … bấy nhiêu ” : nỗi nhớ trùng điệp nhiều vô kể.

Câu 5 (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1): Phân tích Bài 4 – tình cảm anh em thân thương :

– Điệp từ ” cùng chung – cùng thân ” : tình thiêng liêng, quan trọng.

– So sánh : ví anh-em với tay-chân, những bộ phận gắn bó khăng khít trên một thể thống nhất, nói lên sự gắn bó anh em.

→ Nhắc nhở : anh em phải hòa thuận, đoàn kết, thương yêu nhau để cha mẹ vui lòng cũng là lẽ sống đúng đắn.

Câu 6 (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1): Những biện pháp nghệ thuật được cả bốn bài ca dao sử dụng :

– Thể thơ lục bát

– Lối ví von, so sánh.

– Hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống.

– Ngôn ngữ vẫn mang tính chất hướng ngoại nhưng không theo hình thức đối đáp mà chỉ là lời nhắn nhủ, tâm tình.

Luyện tập

Câu 1 (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

– Tình cảm diễn tả trong bốn bài ca dao là tình cảm gia đình : cha mẹ – con cái, mẹ con, ông bà – con cháu, anh em một nhà.

– Nhận xét : Đó là những tình cảm thiêng liêng, đáng quý, chúng ta cần phải tôn trọng, giữ gìn nó.

Câu 2* (trang 36 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):

Một số bài ca dao nội dung tương tự :

– “Biển Đông còn lúc đầy vơi

Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng”

– “Chiều chiều xách giỏ hái rau

Nhìn lên mả mẹ ruột đau như dần”

– “Đói lòng ăn hột chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”

– “Khôn ngoan đối đáp người ngoài

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

Bài giảng: Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube: